07 August 2011

Cuốn Sách Bị Bỏ Quên: Phật Giáo Tranh Đấu

Cuốn Sách Bị Bỏ Quên: Phật Giáo Tranh Đấu
 

Đ
ây là "Tập tài liệu và hình ảnh trong vụ Phật Giáo tranh đấu từ Tháng 5 tới Tháng 11 năm 1963" (*) của tác giả Quốc Oai do nhà xuất bản Tân Sanh số 12 Bùi Viện, Sài Gòn, điện thoại 22.641 phát hành chỉ ít tháng sau khi chế độ độc tài gia đình trị của Ô. Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Quốc Oai là bút hiệu lúc bấy giờ của nhà báo Thanh Thương Hoàng đã từng đảm nhiệm các chức vụ: Chủ Bút tờ Phim Kịch (1963), Tổng Thư Ký nhật báo Chính Luận (1964-1965), Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả (1965). Quốc Oai chính là tên người con trai thứ tư của ông vừa chào đời. Tác giả có nhắc lại cuốn sách này trong phần giới thiệu các tác phẩm đã xuất bản tại Hoa Kỳ nơi tuyển tập truyện ngắn Cõi Đời Cõi Người (2011). Theo nhà văn Thanh Thương Hoàng thì lịch sử báo chí Miền Nam, từ trước tới giờ chưa có cuốn sách nào bán chạy đến như vậy. Sách vừa ra lò đã bán hết ngay 3000 cuốn, tái bản lần thứ nhất hết ngay 5000 cuốn và in lần thứ ba 10,000 cuốn cũng hết bay.

Là ký giả, ông có cơ hội thu thập các tài liệu, hình ảnh từ phía chính quyền, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, ký giả ngoại quốc, bản tin của các hãng thông tấn, các đoàn thể thanh niên, sinh viên và cá nhân tranh đấu thường gửi tài liệu tới báo chí để nhờ phổ biến. Đây là cuốn sách tổng hợp các tài liệu và hình ảnh xác thực, chứ không phải cuốn hồi ký phản ảnh chủ quan, thương ghét cá nhân.

Vào những ngày đầu của biến cố 30-4-75, tác giả tiên liệu những sách xuất bản ở Miền Nam thế nào cũng bị đem ra đốt hết cho nên nhân có bà chị từ Hà Nội vào thăm, tác giả đã gửi gấm cuốn sách này. Chính vì thế mà hơn 47 năm, tức gần nửa thế kỷ, cuốn sách vẫn sống sót và ngày hôm nay được nhắc tới như "Một Cuốn Sách Bị Bỏ Quên". Sau đó tác giả, theo quân-cán-chính, văn nghệ sĩ, đảng phái VNCH trình diện "học tập cải tạo" và bị giam giữ 10 năm. Phóng thích năm 1985, Thanh Thương Hoàng được Văn Bút Quốc Tế cũng như Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại gửi cho ít tiền để sinh sống. Nhưng chính vì thế mà ông bị Bộ Nội Vụ nghi ngờ ông là nhân vật quan trọng, nên không cho xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo chương trình tạm gọi là HO. Sau nhờ sự can thiệp của Ô. Robert L. Funseth cựu Phụ Tá Thứ Trưởng Hoa Kỳ- người cùng ký thỏa hiệp cho phép "Định Cư Tù Cải Tạo" với Thứ Trưởng Phạm Quang Cơ…mà năm 1999 ông được ra đi…như thế là rất trễ.

Ra tới hải ngoại, dù tuổi đã cao, năm nay đã hơn 80, Thanh Thương Hoàng vẫn theo đuổi nghiệp văn chương và viết rất khỏe. Ông đã cho ra đời tuần báo Đời ở San Jose. Nhưng vì thiếu quảng cáo nên báo phải đóng cửa vĩnh viễn. Riêng tại hải ngoại ông đã xuất bản các tác phẩm:

-Tập truyện Tiến Sĩ Lê Mai (1999)
-Người Mỹ Cô Đơn (tiểu thuyết Anh Ngữ năm 2000)
-Tập truyện Những Nỗi Đau Đời (2001)
- Tập Truyện Ông Tướng Tỵ Nạn (2005)
- Tập Truyện Dòng Suối (2009)
- Tuyển tập truyện ngắn Cõi Đời, Cõi Người (2011).

Là bạn viết văn, bạn vong niên, thấy tôi thỉnh thoảng có viết bài giới thiệu sách, tác giả hứa tặng một một bản sao của cuốn Phật Giáo Tranh Đấu. Có lẽ cũng phải mất gần hai năm, sau khi cho con về Hà Nội chụp lại…và ngày hôm nay cuốn sách đến tay tôi. Sách dày 245 trang bao gồm 8 Phần và Kết Luận.


Phần Thứ I: Tiêu Diệt Phật Giáo

          Mở đầu phần này tác giả viết, " Một sự kiện hiển nhiên không ai có thể chối cãi được là tám mươi phần trăm dân chúng Việt Nam theo Phật Giáo. Từ lúc mới lập quốc, hơn bất cứ đạo giáo nào khác, Phật Giáo đã xuất hiện ở nước ta. Phật Giáo như một cây Bồ Đề to lớn, gốc rễ ăn sâu bám chặt và cành lá xum xuê trùm phủ kín mảnh đất Việt Nam. Dù giông to bão lớn, dù sấm sét dữ dội cũng không thể nào lật đổ cây Bồ Đề to lớn ấy được. Lịch sử và thời gian đã chứng minh Phật Giáo đóng góp một phần công lao rất lớn vào việc xây dựng đất nước, nòi giống. Biết bao vị chân tu từ xưa tới nay đã làm rạng danh đất nước. Dân chúng yêu kính và tôn sùng như những bậc Thánh. " (*)

Bởi vì "Phật Giáo không ồn áo náo nhiệt, sôi nổi hời hợt bề mặt. Phật Giáo không phô trương thanh thế; không tổ chức thành một lực lượng để bảo vệ cũng như tranh đấu cho đạo. Phật Giáo không bao giờ chen lấn, áp đảo các đạo giáo khác, ngay như hồi Phật Giáo được nâng lên hàng Quốc Giáo ở các đời Lý, Đinh, v.v…(Lúc đó Khổng Giáo và Lão Giáo đã truyền sang nước ta từ lâu). Phật Giáo lúc nào cũng chủ trương ôn hòa, bất bạo động theo đúng như giáo lý của Phật. Bởi những nguyên cớ ấy nên tới ngày nay mới có người coi thường ,( hay quá sợ?) Phật Giáo và nhất định ra tay đàn áp, trừ diệt. Những kẻ đó chính là anh em nhà họ Ngô: những bạo chúa, hung thần của nước Việt Nam cuối Thế Kỷ Hai Mươi." (***) Để minh chứng, tác giả đã dùng "một số tài liệu chính xác về sự đàn áp Phật Giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm từ năm 1959 tại các Tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên." (*)

1.     Tỉnh Quảng Ngãi:  "Chính quyền đã bắt hai Phật tử Hà Thừa và Đỗ Trọng cho "học tập" dài hạn tại Trại Cải Huấn. Ngày 12/10/1961 lại bắt thêm hai Phật tử Dương Khanh và Nguyễn Hữu Khánh (nhân viên trong ban trị sự Phật Giáo) đem về Trại Cải Huấn "học tập" dài hạn. Ngày 12/12/1961 Hội Đồng Xã Sơn Trung Sơn Trung đã tổ chức một lớp học tập về Thuyết Duy Linh trong bốn ngày tại Thôn Hà Nhai. Sau khóa học tập chính quyền địa phương đã bắt buộc các Phật tử phải bỏ Phật Giáo và ký giấy theo Thiên Chúa Giáo. Ngày 19/10 năm Tân Sửu (1962) Phật tử Phạm Thơ 52 tuổi vô cớ bị bắt đưa vào Trại Cải Huấn giam hơn 3 tháng. Viên quản đốc trại cải huấn rỉ tai cho ông Thơ biết nếu chịu bỏ Phật Giáo và ký tên theo Thiên Chúa Giáo thì sẽ được thả ngay tức khắc. Vì gia đình đông con lại nghèo và nhất là đương ở trong hoàn cảnh tù đày bất đắc dĩ ký giấy theo Thiên Chúa Giáo. Quả như lời viên quản đốc nói, một giờ sau ông được thả ngay. Nhưng sau khi đã được về với gia đình, ông Thơ không chịu được sự cắn rứt của lương tâm nên đã nhất định trở về với Phật Giáo. Ngày 20/11/1961 tại Xã Sơn Mỹ, Quận Sơn Tịnh một số Phật tử là Nguyễn Ngạt, Ngô Phong, Đỗ Hoài, Nguyễn Đài, Võ Trung, Nguyễn Văn Đường, Nguyễn Ký đã bị hai ông Lưu Truyên và Lê Đạt là người Thiên Chúa Giáo, đại diện cho chính quyền địa phương lạm dụng chức vụ của mình bắt những người nói trên phải rửa tội và đe dọa nếu không chịu nghe theo sẽ bị bắt đi trại cải huấn ba tháng. Ngày 20/8/1961 Khuôn Hội Phật Giáo Kim Sa thuộc Xã Sơn Kim, một số đạo hữu là: Hà Ngu, Phạm Phẩm, Trần Đến, Nguyễn Thị Lễ, Nguyễn Chẩn, Nguyễn Nhung đã bị ông thôn trưởng Hà Sơn Mai và hai cán bộ truyền giáo Thiên Chúa Giáo đến tận từng nhà bắt ký giấy theo đạo Thiên Chúa. Họ ngang nhiên đưa ra điều kiện nếu chịu ký giấy gia nhập Thiên Chúa Giáo sẽ được sống yên ổn làm ăn, còn trái lời sẽ bị ghép vào thành phần tình nghi là cán bộ cộng sản và sẽ bị bắt về trại cải huấn giam giữ. Năm 1960 Thày Thích Minh Tịnh tục danh là Lê Hồng Vân tọa chủ Chùa Phước Long ở Thôn Lộ Bàn, Xã Phổ Bình, Quận Đức Phổ, vô cớ bị bắt giam tra tấn cực kỳ dã man và bị vu khống là cán bộ cộng sản. Sau một thời gian tra tấn tù đày, Thầy Thích Minh Tịnh được trở về chùa mang theo nhiều vết thương và bệnh tật trên mình. Nhưng được ít lâu Thày lại bị bắt và bi vu khống là xâm phạm thuần phong mỹ tục (với phụ nữ). Đứng trước sự vu khống trắng trợn này người phụ nữ bị tình nghi dan díu với Thày Thích Minh Tịnh đã hơn một lần làm đơn kêu oan cho Thày lên tòa án do đấy Thày mới được phóng thích. Nhân Ngày Thành Đạo (tức ngày 13-1-1962) Chi Công An Quận Đức Phổ lại bắt Thày Thích Minh Tịnh, tra tấn cực hình rồi hạ ngục với tội mà họ tự dựng đứng lên là Thày tiếp tế cho Việt cộng." (*)

2.     Tỉnh Bình Định: "Ngày 15/13/1961 tại Vức Diêm Vân thuộc Khuôn Hội Phước Thuận, Quận Tuy Phước, các Phật tử là Nguyễn Giang, Trần Tích Trần Cang bị ghi vào danh sách di dân mặc dầu những người này thuộc hạng giàu có nhất trong vùng. Nguyên do chỉ vì họ đã bỏ tiền làm chùa và là Phật tử. Ngày 12/12/1961 tại Thôn Quảng Vân, Xã Phước Thuận, Quận Tuy Phước những đạo hữu là Trần Thích, Trần Cũng, Trần Chim, Lê Có là những người giàu có nhất vùng nhưng bị bắt đi di dân chỉ vì họ là những người theo đạo Phật. Ngày 21/11/1961 ông Nguyễn Đức Chỉnh mang thẻ căn cước số T300048. A001077 tại Thôn Lạc Điền, Xã Phước Thắng, Quận Tuy Phước, công an tới ntịch thu thẻ căn cước và bắt buộc phải di dân, chỉ vì ông là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Ngày 15 và 16/11/1961 công an Xã Phước Thắng, Quận Tuy Phước đã thu giấy kiểm tra các đạo hữu ở các Khuôn Lạc Điền: Gia đình đạo hữu Nguyễn Vi 4 thẻ, gia đình Trần Ân 2 thẻ, gia đình Nguyễn Văn Cương 2 thẻ, gia đình Bùi Xuân Bình 4 thẻ, gia đình Trần Cao Thăng 1 thẻ; tại Vức Hội, Phổ Đồng: Gia đình Võ Lý Bá 2 thẻ, Nguyễn Bong 5 thẻ, Lê Thị Ngưu 3 thẻ, Võ Thị Phiếm 1 thẻ; Vức Hội An Lợi: Gia đình Lê Tòng 4 thẻ, Trần Khánh Đinh 2 thẻ, Phạm Thẩm 2 thẻ. Tổng số đạo hữu bị thu thẻ căn cước là 33 người. Những người này đều bị bắt đi di dân vì họ là Phật tử."

3.     Tỉnh Phú Yên: "Ngày 24/6 năm Tân Sử, tại Xã Xuân Phước, Quận Đồng Xuân, có một ông thày đến giảng đạo Thiên Chúa tên là Tùng. Đã cấu kết với tên Phan Khằn là trưởng ban quản trị Làng Phước Hòa, bắt hai đạo hữu Trần Thư và Mai Phước Hữu. Ông Khằn lại còn đe dọa nếu không chịu rửa tội thì đừng trách là không nói trước. Ông Võ Oanh pháp danh Tâm Tiếng, 41 tuổi, thẻ kiểm ra số 20A.0664 cấp ngày 30/10/1955 tại Tuy Hòa và vợ là Lê Thị Bàn pháp danh Tâm Kính cùng ở Làng Trường Thạnh, Xã Hòa Vinh đều bị bắt ra quận giam ngày 24/1/1962 và buộc phải theo Thiên Chúa Giáo mới được tha. Bà Lương Thị Phượng 30 tuổi, kiểm tra số 31B.0030 tại Thôn Phú Thạnh, Xã Hòa Quang, ủy viên Tỉnh Hội Phật Giáo Phú Yên. Ngày 20/8/1961 có làm đơn nhờ Tỉnh Hội Phật Giáo Phú Yên can thiệp về việc chồng bà là ông Đặng Dương Oai bị Đặng Sĩ, dân vệ Xã Hòa Quang bắt đi mất tích vào hồi 8 giờ sáng ngày 21/1/1961 mãi tới nay không thấy tin tức. Nguyên do chồng bà bị bắt chỉ vì là người có công với Phật Giáo tại địa phương này. Theo đơn thưa của Ban Trị Sự Khuôn Hội Phật Giáo Hòa Vinh ngày 27/11/1961 v/v chính quyền địa phương đã bắt cóc thủ tiêu các hội viên dưới đây: a) Lê Đức Ngưng b) Võ Cho c) Một số hội viên không ở trong ban quản trị khuôn hội cũng bị hội đồng xã bắt và buộc phải theo Thiên Chúa Giáo mới cho về d) Bà Hà Thị Đam 60 tuổi nạp đơn lên Tỉnh Hội Phật Giáo Phú Yên xin can thiệp về việc chồng bà là Nguyễn Chuyển 60 tuổi bị hội đồng xã bắt đi đem chôn sống. Bà Nguyễn Thị Thiện làm đơn thưa về việc chồng bà là Đỗ Thìn bị bắt đi đem chôn sống. e) Ông Võ Xuân Chính cán bộ tư pháp Xã Xuân Phước, Quận Đồng Xuân hăm dọa và bắt giam Phật tử Lê Hồng Hải. Sau khi giam 17 ngày Chính buộc ông Hải phải theo Thiên Chúa Giáo mới toàn mạng sồng. g) Bà Hà Thị Voi, Xã Phước Hòa ngày 12/4/1961 cũng bị Võ Xuân Chính vu cho là Việt cộng và bắt ép phải theo Thiên Chúa Giáo mới toàn mạng sống. h) Ông Trần Kỷ 43 tuổi ở Làng Phú Xuân, Xã Xuân Phước bị Nguyễn Cù và Lê Ngọc Mai thuộc chính quyền địa phương bắt ép phải bỏ Phật Giáo để theo Thiên Chúa Giáo ngày 26/8/1961. i) Khuôn Hội Phật Giáo Xã Hòa Quang có những đạo hữu sau đây đã bị chính quyền địa phương thu thẻ kiểm tra và buộc theo Thiên Chúa Giáo: Trần Di thôn Mậu Lâm, Phan Đích thôn Thạnh Lâm, Ngô Thị Ràng và chồng ở Thạnh Lâm. k) Ông Đỗ Sửa bị Trần Văn Thiện và Lê Năng Đắc bắt tra tấn vu cho là Việt cộng, nếu theo Thiên Chúa Giáo sẽ được thả. l) Bà Nguyễn Thị Đôn và chồng Lê Trung Thành bị Trần Văn Thiện, Lê Năng Đắc, Dương Nhảy bắt giam và ép vào Thiên Chúa Giáo mới tha." Theo tác giả " Trên đây chỉ là hồ sơ đại cương của 21 vụ trong số 50 vụ của ba Tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên từ năm 1960-1961. Còn những năm về sau chưa kể tớiDân tộc Việt Nam quen nhẫn nhục chịu đựng, nhưng sức người có hạn mà sự hà hiếp, đàn áp, khủng bố của chính quyền Ngô Đình Diệm ngày một gia tăng quá mức, nên trước sự mất còn của Đạo, họ phải vùng lên công khai chống đối lại bạo lực, chống đối lại cường quyền. Việc phải đến đã đến! " (*)


Phần Thứ II: Cuộc Tranh Đấu Phát Khởi tại Huế

          Vụ hạ cờ Phật Giáo trong đại lễ Phật Đản tại Huế được tác giả dẫn chứng bằng công điện đánh đi vào lúc 5 gingày 6/5/1963 theo chỉ thị của Ngô Đình Diệm và "bản sao bức công điện đã được Tỉnh Trưởng ký tên chuyển tới Thượng Tọa Thích Trí Quang vào hồi 20 giờ 30 ngày 6/5/1963: Trân trọng yêu cầu qúy liệt vị giáo hội thông báo cho các cơ quan phụng tự và các tín đồ thi hành đúng chỉ thị trên đây của tổng thống." Sau đó Thượng Tọa Thích Trí Quang được ủy thảo bức điện văn: một gửi cho Hội Phật Giáo Thế Giới, một gửi cho Ngô Đình Diệm và một gửi cho các tập đoàn Phật Giáo Việt Nam. Điện văn gửi Ngô Đình Diệm viết như sau "Phật Giáo rất xúc động nhận được công điện 9195 không cho treo cờ Phật Giáo Thế Giới trong đại lễ Phật Đản quốc tế. Chúng tôi không tin rằng quyết định đó phát xuất từ Tổng Thống. Thỉnh cầu Tổng Thống ra lệnh điều tra và thu hồi công điện trên. Trân trọng." (*)
Cả ba điện văn nói trên đều do Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo VN ký tên. "Nhưng ba bức điện văn này đã bị chánh quyền địa phương can thiệp không cho đánh đi. Viên Tỉnh Trưởng Thừa Thiên Nguyễn Văn Đẳng đã thân hành tới Chùa Từ Đàm mời Thượng Tọa Thích Trí Quang và hai thượng tọa nữa tới tư dinh Cố Vấn Miền Trung Ngô Đình Cẩn để hội kiến. Về phía chính quyền có Ngô Đình Cẩn, Bùi Văn Lương – Bộ Trưởng Nội Vụ, Nguyễn Văn Đẳng – Tỉnh Trưởng Thừa Thiên. Bùi Văn Lương chịu về Sài Gòn để gấp thỉnh cầu Ngô Đình Diệm thu hồi công điện số 9195, nếu không được khắp toàn quốc thì ít ra cũng phải ở Huế." (*)

Nhưng "Công việc chưa giải quyết xong thì ngay buổi chiều hôm đó 7/5/63 cảnh sát đi khắp Thành Phố Huế, tự tay triệt hạ cờ Phật Giáo và xé nát, lại còn công khai đánh đập chửi rủa, đe dọa bắt bỏ tù những tín đồ Phật Giáo có thái độ phản đối. Tất cả tượng Phật thờ trong nhà và đèn lồng treo ngoài cửa của các tư gia đều bị đập phá tan nát. Nhân dân khắp Thành Phố Huế sục sôi, căm phẫn. Họ ùn ùn kép tới Chùa Từ Đàm…Thượng Tọa Thích Trí Quang phải đứng ra dàn xếp mọi công việc. Thượng Tọa đề nghị ban tổ chức Lễ Phật Đản mời viên tỉnh trưởng Thừa Thiên hoặc đại diện tới Chùa Từ Đàm để giải quyết sự kiện trên nhưng chính quyền địa phương từ chối cuộc tiếp xúc này." (*)

Thượng Tọa Trí Quang phải cùng quý Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng Pháp Chủ Thích Huyền Tôn, Thượng Tọa Thích Mật Hiển, Thượng Tọa Thích Thanh Trí và mấy vị thượng tọa khác tới tỉnh đường để gặp viên tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng. Trong khi đó khoảng 5000 Phật tử tụ tập trước tòa tỉnh để nghe ngóng, chờ đợi phản ứng của chính quyền. Viên tỉnh trưởng giải thích là cảnh sát đã quá "sốt sắng" chứ thực ra ông ta chỉ ra khẩu lệnh khuyên đồng bào triệt hạ đèn và cờ Phật Giáo, nếu họ không nghe thì thôi. Thượng Tọa Trí Quang yêu cầu cho xe Thông Tin loan báo trước 21 giờ là cờ Phật Giáo không bị triệt hạ để cử hành đại lễ. Viên tỉnh trưởng bằng lòng. Sáng hôm sau 8/5/1963 là ngày đại lễ. Các Phật tử tập trung tại Chùa Diệu Đế để rước tượng Phật lên Chùa Từ Đàm là nơi cử hành Lễ Phật Đản. "Như mọi năm, vào lúc 20 giờ Ngày Phật Đản, đài phát thanh Huế sẽ dành riêng để phát thanh về Phật Giáo và các Phật tử sẽ đứng quanh khu đất trống của đài để nghe. Nhưng năm nay, mọi người tụ họp lại chờ đợi mãi mà đài phát thanh không nói gì. Mọi người xôn xao bàn tán tỏ vẻ bất bình. Thượng Tọa Trí Quang tới đài can thiệp nhưng không có kết quả. Chính quyền địa phương lo ngại, sợ biến thành cuộc biểu tình phản đối nên phải cho xe cứu hỏa tới xịt nước giải tán, sau dùng lựu đạn cay và bắn đạn mã tử. Nhưng ngọn lửa vì Đạo đang dâng lên ngùn ngụt. Tiếng la ó phản đối át tiếng súng." (*)

Thượng Tọa Thích Trí Quang yêu cầu viên tỉnh trưởng cho ngưng xịt nước để Phật tử yên ổn ra về thì "Viên Phó Tỉnh Trưởng Nội An Đặng Sĩ đã bất chấp quyền tỉnh trưởng, huy động xe tăng, thiết giáp ủi vào đám người vô tội, trong tay không có một thư khí giới nhỏ." (*)

Kết quả 08 em nhỏ đã bị giết hại. Quý vị có thể xem tấm hình thảm sát tại đài phát thanh Huế và hình gia đình nạn nhân đang cầu siêu tại chùa nơi trang 28 &31.

Chuyện đáng lý ra có thể giải quyết êm đẹp nếu như Ngô Đình Diệm thật sự là tổng thống "anh minh". Nhưng "Máu người Phật tử đã đổ để tranh đấu cho ngọn cờ Phật Giáo được tung bay." (*) Và cuộc đấu tranh khốc liệt bắt đầu bằng: Bản Tuyên Ngôn của Tăng, Tín Đồ Phật Giáo Việt Nam do Hòa Thượng Thích Tường Vân- Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ký tên và được gửi cho Ngô Đình Diệm và Đại Biểu Chính Phủ Trung Nguyên- Trung Phần. "Sau  đó một phái đoàn Phật Giáo vào yết kiến Ngô Đình Diệm tại Dinh Gia Long nhưng kết quả cũng không đi tới đâu." (*) Trong tấm hình nơi trang 32 chúng ta thấy có TT. Ngô Đình Diệm, TT. Thích Tâm Châu, TT. Thích Thiện Hoa và một vị nữa đeo kính mát, không biết có phải là TT. Thích Thiện Minh hay không?
Rồi cuộc đấu tranh bắt đầu lan rộng vào Sài Gòn với sự kết hợp của nhiều tông phái Nam Tông cũng như Bắc Tông bằng sự ra đời của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo qua Bản Tuyên Ngôn ngày 25/5/63

"Đồng lòng:  Ủng hộ năm nguyện vọng tối thiểu và thiêng liêng nhất của Phật Giáo Việt Nam. Thệ nguyện đoàn kết đến cùng trong cuộc tranh đấu bất bạo động và hợp pháp để thực hiện những nguyện vọng ấy." (*)

-Tại Sài Gòn các vị thượng tọa chuẩn bị lễ cầu siêu cho những Phật tử bỏ mình ở Huế vào ngày 15-5-1963.

   -Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế ra tâm thư gửi đồng bào toàn quốc "Chúng tôi báo nguy cho đồng bào toàn quốc sự kỳ thị tôn giáo đã đến giai đoạn trầm trọng và nỗi lầm than của tín đồ Phật Giáo Việt Nam cũng đã dâng cao…" (*) "Thấy phong trào Phật Giáo tranh đấu lan rộng và nhanh quá, chính quyền Ngô Đình Diệm liền ra mặt thẳng tay đàn áp Phật Giáo. Chúng dùng đủ mánh khóe, thủ đoạn để dẹp phong trào Phật Giáo đang ồ ạt dâng lên. Nào tung người vào trong nội bộ Phật Giáo để chia rẽ, xúi giục những gia đình có con em tử nạn trong vụ đàn áp ở Huế rút tên ra khỏi danh sách Phật tử, nào cho mật vụ tới các chùa chiền canh chừng, dò xét, hăm dọa theo dõi và khủng bố Phật tử." (*)


Phần Thứ III: Ngọn Lửa Thích Quảng Đức

       Trong giai đoạn này, Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế lại ra tâm thư gửi sinh viên học sinh toàn quốc kêu gọi đấu tranh cho "Lý tưởng tự do, bình đẳng."

       Rồi vào ngày 31/5/1963 Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế trong đó có: Đại diện các trường Đại Học Y Khoa, Đại Học Sư Phạm, Đại Học Văn Khoa, Đại Học Luật Khoa, Đại Học Khoa Học, Viện Hán Học, Trường Cán Sự Y Tế Điều Dưỡng, Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật, Trường Quốc Gia Âm Nhạc cùng ký tên gửi Tổng Thống và Chính Phủ VNCH kiến nghị 4 điểm trong đó "Yêu cầu Tổng Thống và Chính Phủ thực thi tính cách tự do dân chủ và bình đẳng thật sự là lý tưởng mà toàn thể thanh niên trí thức hằng thiết tha cầu đạt. Yêu cầu chính phủ tìm mọi biện pháp để đánh tan sự chia rẽ trầm trọng giữa dân tộc hiện tại do chính sách bất bình đẳng tôn giáo gây nên. Yêu cầu  chính phủ ra lệnh triệt để đình chỉ những mánh lới trẻ con thiếu trí thức của cán bộ đối với tín đồ Phật Giáo trong cuộc tranh đấu. Vì chính những mánh lới đó không lừa bịp được ai mà chỉ mất uy tín của cán bộ và của chính phủ." (*)

"Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn cố tình làm ngơ trước sự đòi hỏi nồng nhiệt và chính đáng của tăng, ni, Phật tử và thẳng tay đàn áp, khủng bố, bất chấp cả dư luận trong, ngoài nước." (*) Thế nên "Vào ngày 11/6/1963 Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự nguyện tự thiêu thân cúng dường Phật pháp, để làm động cơ thúc đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm phải giải quyết gấp rút 5 nguyện vọng của Phật Giáo và giải tỏa ba ngôi chùa ở Huế đang bị vây khốn." (*) Chúng ta có thể nhìn thấy tấm hình HT. Thích Quảng Đức đang đứng trang nghiêm trước sân Chùa Quan Thế Âm (trang 58), hình HT. Thích Quảng Đức ngồi kiết già giữa ngã tư Đường Lê Văn Duyệt & Phan Đình Phùng (trang 59), hình HT. Thích Quảng Đức ngồi uy nghi trong biển lửa (trang 60), hình ngài ngã xuống, thân thể cháy gần thành than nhưng tay vẫn giữ Ấn Tam Muội (trang 61) và hình ngài đang bình thản viết Lời Nguyền Tâm Huyết tại Chùa Ấn Quang gửi Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong đó lời lẽ thật cảm động "Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật Giáo Việt Nam ghi trong Bản Tuyên Ngôn. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật Giáo Việt Nam được trường tồn, bất diệt. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc." (*)

       Ngoài sự ngưỡng mộ và ngạc nhiên của toàn thế giới. Riêng tác giả đã nhận định như sau về việc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức "Trước sự hy sinh bảo vệ Phật Pháp vô cùng cao cả, hào hùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức, thiết tưởng khó có ngòi bút nào có thể viết nổi, cho dù viết cả ngàn trang vẫn không đủ lời để ca tụng cái đẹp thánh thần, ngàn năm có một đó." (*) Cảm nghĩ này giống như nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ Lửa Từ Bi:

Lửa! Lửa cháy ngất toà sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhòa lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc
Chỗ người ngồi: một thiên thu tuyệt tác
Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác.
Và chỉ nguyện được là rơm rác."

       Sau đó nhục thân của Hòa Thượng được rước về quàn tại Chùa Xá Lợi. Hằng ngày không biết bao nhiêu đồng bào, Phật tử tới chiêm bái, phúng viếng. Vì " Ảnh hưởng của việc tự thiêu của Bồ Tát Thích Quảng Đức vộ cùng rộng lớn nên chính quyền Ngô Đình Diệm hoang mang, bối rối, sợ sệt. Chúng tăng cường cả một lực lượng khổng lồ cảnh sát, công an, mật vụ bao vây quanh Chùa Xá Lợi. Một tuần lễ sau, ngày 16/6/1963 hằng trăm ngàn Phật tử từ các nơi kéo về để chờ đưa linh cữu Hòa Thượng Thích Quảng Đức lên An Dưỡng Địa…và cảnh sát, công an, cảnh sát chiến đấu, mật vụ đã vây chặt các ngả đường và đàn áp bằng lựu đạn cay, ma- trắc." (*) Chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh chống trả của quần chúng Phật tử trên đường phố Sài Gòn, nơi các tấm hình ở các trang 65 & 66.

          Phải đợi tới ngày hôm sau 17/6/1963 sau khi Bản Thông Cáo Chung được ký kết vào lúc 1:30 đêm ngày 16/6/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm mới cho phép làm lễ rước linh cữu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức tới An Dưỡng Địa. Những dãy nhà hai bên đường, khi đoàn xe tang đi qua, dân chúng lén bày bàn, thắp hương, làm lễ vô cùng trang trọng, kính cẩn. Dưới sức nóng ngót 4000 độ, dù thiêu hai lần mà trái tim của ngài vẫn còn nguyên. "Cả thế giới đều xúc động, bàng hoàng về ngọn lửa và Trái Tim Bồ Tát Thích Quảng Đức nhưng chỉ có anh em họ Ngô là dửng dưng không xúc động lại còn tỏ ra căn uất. Trong một thông điệp kêu gọi dân chúng, Ngô Đình Diệm đã trắng trợn phủ nhận sư hy sinh cao cả của Bồ Tát Thích Quảng Đức lại còn gán cho là "một vụ mưu sát". Còn Trần Lệ Xuân - vợ Ngô Đình Nhu thì gọi là một vụ nướng người. Thiết tưởng tôi chẳng cần ghi thêm lời lẽ của họ nữa e làm bẩn mắt, rác tai bạn đọc"


Phần Thứ IV: Giai Đoạn Tranh Đấu Quyết Liệt

          Do ảnh hưởng của cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức, chính quyền Ngô Đình Diệm miễn cưỡng phải làm bộ hòa hoãn và một cuộc họp kéo dài 3 ngày (14/6-16/6) tại Hội Trường Diên Hồng giữa Ủy Ban Liên Bộ do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cầm đầu và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo bao gồm: TT. Thích Thiện Minh- Trưởng Phái Đoàn. Đoàn viên gồm: TT. Thích Tâm Châu, TT. Thích Thiện Hoa, TT. Thích Huyền Quang (Thư Ký) và Đại Đức Thích Đức Nghiệp (Phó Thư Ký) và Bản Thông Cáo Chung ra đời với chữ ký (Khán) của Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Thích Tịnh Khiết và Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong đó có những điểm chính như sau:

-Tách hiệp hội có tính các tôn giáo ra khỏi Dụ Số 10
-Chính phủ sẽ lập một Ban Điều Tra để xét lại các hồ sơ khiếu nại của Phật Giáo
-Tất cả những ai có liên quan đến cuộc vận động thực hiện 5 nguyện vọng của Tổng Hội Phật Giáo đề ra bất luận ở đâu sẽ được Tổng Thống đặc biệt khoan hồng. (Đoạn này phải hiểu là tất cả những ai bị bắt vì tranh đấu cho Phật Giáo phải được thả ra)
-Chính phủ sẽ xác nhận lệnh sửa sai đã ban ra cho các cán bộ để thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo của chính phủ (Đoạn này phải hiểu là chính phủ đã thấy sai trước đây và ban hành lệnh sửa sai (chuyện này có thật không?) nay ban hành lệnh mới để "xác nhận" mệnh lệnh đó, tự hậu cấm không được làm sai nữa.)
-Những cán bộ có trách nhiệm về các vụ xảy ra từ ngày 8/5/1963 (tức từ ngày nổ ra vụ triệt hạ cờ Phật Giáo) bất kỳ thuộc thành phần nào cũng sẽ bị nghiêm trị, nếu cuộc điều tra đang tiến hành chứng tỏ lỗi của họ.
-Các gia đình nạn nhân ở Huế đã được trợ giúp kịp thời và có thể được trợ giúp thêm tùy theo gia cảnh từng người.

          "Sau khi Bản Thông Cáo Chung được công bố, người người đều tưởng tất cả mọi việc sẽ diễn ra êm đẹp. Nhưng không! Ngô Đình Diệm vốn ngoan cố, quỉ quyệt, phản trắc đã ngấm ngầm truyền lệnh cho bọn tay sai trong toàn quốc triệt hạ bằng được Phật Giáo." (*) Sau đây là những biến động xảy ra sau ngày ký kết Bản Thông Cáo Chung:

-Ngô Đình Diệm và Ngô Trọng Hiếu dàn dựng lên cái gọi là "Giáo Hội Cổ Sơn Môn" và đánh điện tín cho Trung Tâm Điểm Phật Giáo Thế Giới tại Tích Lan vu khống Phật Giáo Việt Nam lợi dụng danh nghĩa để hoạt động chính trị, nhưng bị Trung Tâm Điểm bác bỏ với lập luận như sau "Chúng tôi cũng biết rằng tại Việt Nam cũng có một Tổng Hội Phật Giáo và theo như chỗ chúng tôi biết Tổng Hội này có đủ uy tín để đại diện và thay lời cho Phật tử ở Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng Tổng Hội Phật Giáo này không bao giờ làm những điều gì, hoặc thái độ nào có thể gọi là phản Phật Giáo." (*) Tổng Thư Ký W.P. Daluwatte ký tên. (Toàn văn thư phúc đáp nơi trang 81)
- Ngày 18&19/6/1963, chỉ ba ngày sau ngày ký Thông Cáo Chung, Phòng Thông Tin Sông Cầu (Phú Yên) đã tổ chức tại các Xã Xuân Phương và Xuân Lộc hai cuộc mít-tinh, lập kiến nghị lên án nặng lời việc làm của Phật Giáo. Ở Xã Nhân Hòa, Quận An Nhơn, Tỉnh Bình Định dân chúng cũng bị bắt buộc phải làm kiến nghị như thế.
-Chùa Phật Giáo ở Quảng Trị hiện còn đang bị phong tỏa và sự lùng bắt các cán bộ Phật tử, thanh niên Phật tử mạnh mẽ hơn lúc nào hết.
-Sự đi lại của tăng ni giữa các tỉnh và thủ đô bị chặn lại, mời trở lui hay xe đò từ chối bán vé vì có lệnh cấm của nhà chức trách địa phương.
-Tăng ni, Phật tử lui tới các Chùa Xá Lợi, Ấn  Quang, Giác Minh bị mật vụ biên số xe theo dõi tới tận nhà hăm dọa.
-Cao Xuân Vỹ- Tổng Giám Đốc Nha Thanh Niên dự định tổ chức một cuộc biểu tình đại qui mô với lực lượng Thanh Niên-Thanh Nữ Cộng Hòa yêu cầu tổng thống duyệt lại Bản Thông Cáo Chung.
-Nhiều cấp quân-cán-chính đã được chỉ thị nhân nhượng trước khí thế tranh đấu của Phật Giáo và đợi lệnh phản công.

          Tất cả những tin tức này nằm trong thư tố cáo" Kính đệ Tổng Thống VNCH" do Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết ký này 26/6/1963 mà đoạn cuối bày tỏ sự tôn kính uy quyền của vị nguyên thủ quốc gia như sau "Tôi trân trọng kính xin Tổng Thống cương quyết tỏ rõ quyền uy lãnh đạo quốc dân của Tổng Thống, gạt bỏ mọi điều xàm tấu nguy hại và nhất định cho thi hành thẳng thắn Bản Thông Cáo Chung để cho toàn dân hân hoan ca ngợi, và đồng thời để xóa nhòa những ấn tượng không hay của những ngày qua mà quyền lợi tối cao của quốc gia dân tộc bắt buộc phải để cho trôi theo giòng nước của dĩ vãng. Xin Tổng Thống nhận lòng kính mến của tôi và toàn thể Phật Giáo đồ trong nước." (*)

-Ngày 12/7/1963 TT. Thích Thiện Minh đại diện cho Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo gửi thư cho Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ tố cáo:

1) Những vị phạm có tính cách công khai Bản Thông Cáo Chung: Như công an bao vây Chùa Xá Lợi ngay trước cửa Dinh Phó Tổng Thống. Cảnh sát và công an Quận Tân Bình ồ ạt bao vây Chùa Quan Âm của Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Ở Bình Định suốt ba đêm 24,25&26 nhiều loạt đạn bắn vào Tu Viện Nguyên Thiều suýt gây tai nạn cho các vị sư ở trong ấy. Tại Tỉnh Hội Khánh Hòa, có bàn tay bí mật đập phá khuôn kính và lấy đi hình ảnh của Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức, đốt chiếc xe của ông Trần Quang Ba là chiếc xe thường cho chùa mượn xử dụng. Chùa Quan Âm Quận Quảng Long, Tỉnh An Xuyên (Cà Mau) bị khủng bố bằng tạc đạn khiến tăng ni phải tản cư đi nơi khác. Hai tập đoàn Phật Giáo Miền Trung đã than phiền với ông Đại Biểu Chính Phủ tại Huế rằng công chức và quân nhân Phật tử bị cấm cản đi chùa ở nhiều nơi. Những người bị bắt trong cuộc vận động của Phật Giáo chưa được thả hết còn nhà sư Đặng Văn Cát thì mất tích luôn, mặc dù Phó Tổng Thống nói rằng chính quyền không hề bắt nhà tu hành ấy. Còn Ni Cô Trang Thị Thắm căn cước số 733.126 bị mất tích bỗng nhiên xuất hiện sáng ngày 12/7/1963 tay chân bị trói bằng giây thép và bỏ nằm trước cửa Chùa Huê Lâm.

2) Những vi phạm có tính cách nguyên tắc quan trọng: Công điện MẬT từ Phủ Tổng Thống đánh đi chỉ thị cho các cấp quân-chính " Phải tạm thời nhún nhường trước khí thế đấu tranh quyết liệt của bọn tăng ni và Phật Giáo phản động và chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới theo kế hoạch sẽ gửi đến sau."(*) Các tài liệu chính huấn cho tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa nhục mạ và vu khống Phật Giáo lại được đài phát thanh quốc gia đọc đi đọc lại nhiều lần. "Tại sao cơ quan thông tin của chính phủ lại cho công bố những tài liệu chống báng lập trường của chính phủ và chủ trương tốt đẹp của Tổng Thống trong việc ký kết Bản Thông Cáo Chung?" (*)

Nơi trang 95 tác giả đã nói về cái chết của Nhất Linh vào ngày 7/7/1963 và thuật lại đám tang của nhà văn nổi tiếng trong Tự Lực Văn Đoàn này. Đây đúng là "trái bom nổ" vào thời kỳ căng thẳng và "đã gây một mối xúc động lớn cho tất cả các giới trong nước và ảnh hưởng rất lớn tới cuộc tranh đấu của Phật Giáo." (*)


Phần Thứ V: Tranh đấu thực thi Thông Cáo Chung

          Do chính quyền Ngô Đình Diệm không thực thi những gì đã ký kết "Nhân dân trong nước nói chung, Phật tử nói riêng, sục sôi, căm hận đến tận cùng độ. Nhất là giới sinh viên học sinh ở Huế và Sài Gòn. Họ bỏ học để hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và phản đối hành động quỷ quyệt phản bội của cường quyền." (*)

- Ngày 16/7/1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ra tâm thư gửi quý đại đức tăng ni và đồng bào Phật Giáo kêu gọi "Quý liệt vị hãy cùng chúng tôi thề hy sinh đến người cuối cùng cho nguyện vọng chân chính của chúng ta và tung hô Phật Giáo Việt Nam Bất Diệt" (*)
-Nơi trang 103 quý vị có thể thấy tấm hình TT. Thích Tâm Châu và các tăng ni đang đứng biểu tình hơn hai tiếng đồng hồ trước tư dinh Đại Sứ Mỹ Nolting (người hết lòng bênh vực Ngô Đình Diệm, sau bị triệu hồi)
-Nơi trang 105& 106 hình ảnh chư tăng ni tuyệt thực tại Chùa Xá Lợi và Chùa Ấn Quang và nơi trang 107 hình ảnh của cuộc biểu tình khổng lồ của đồng bào tại Đường Phan Thanh Giản, khu vực Chùa Giác Minh cùng với công an, cảnh sát, mật vụ và kẽm gai giăng đầy. 
-Rồi hình ảnh Phật tử đi thăm quý thầy, quý cô tuyệt thực rồi biến thành cuộc biểu tình với những biểu ngữ đòi chính quyền thực thi Bản Thông Cáo Chung. (trang 108)
-Nơi trang 111 quý vị có thể thấy hình Đại Đức Thích Quảng Độ đương giải thích cuộc tranh đấu của Phật Giáo trong khi đó xe thông tin của chính quyền oang oang nói chõ vào để quấy nhiễu và lực lượng công an, cảnh sát, mật vụ áp tới " Gậy gộc, báng súng tới tấp quất xuống đầu, xuống lưng những kẻ vô tội. Tiếng la ó, phản đối, kêu thét phản đối vang lừng. Một số tăng ni chịu chung số phận như các Phật tử: bị bóp cổ, bẻ gẫy tay, đánh vỡ đầu, máu me chảy ròng ròng ướt đẫm cả bộ áo tu hành." (*)
-Cùng ngày 17/7/1963 vào lúc 8:15 sáng, một cuộc biểu tình khác xảy ra từ Chùa Xá Lợi tới Chợ Bến Thành được mệnh danh cuộc biểu tình "đại tốc hành" bao gồm 400 tăng ni. Khi tới Chợ Bến Thành biểu ngữ "Yêu Cầu Chính Phủ Thực Thi Bản Thông Cáo Chung" được căng lên thì công an, cảnh sát chiến đấu vây chặt và bắt phải hạ biểu ngữ và cờ Phật Giáo xuống. Nhưng "tăng ni sẵn sàng chịu chết chứ quyết không hạ cờ Phật Giáo và biểu ngữ." (*) (trang 115) và "cảnh sát chiến đấu như đàn cọp dữ ào ào sấn lại đấm đá, đánh đập túi bụi vào đầu, vào mình các tăng ni. Rồi cứ hai, ba tên túm một nhà sư quăng lên xe hơi trong khi các vị này cố níu lấy tay nhau chống đỡ. Cuộc giằng co, níu kéo giữa lũ sát nhân và các nhà tu diễn ra gay go" thì Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành Trần Văn Tư xuất hiện và thi hành độc kế. Y làm bộ thân thiện, bắt tay một vị đại diện tăng ni rồi nói "Tôi lấy danh dự cá nhân và tư cách đại diện chính phủ xin thề với ông rằng chúng tôi sẽ đưa các ông về Chùa Xá Lợi. Nhưng khi quý tăng ni lên xe rồi thì đoàn xe phóng thẳng ra tới Đường Lục Tỉnh rồi phóng vụt tới An Dưỡng Địa nằm giữa cánh đồng hoang vắng có sẵn công an, cảnh sát và hàng rào kẽm gai chờ đón." (*)
-Vào ngày 18/7/1963 Ngô Đình Diệm đọc một bản thông điệp mục đích làm dịu cuộc đấu tranh của Phật Giáo "Tôi mong đồng bào hãy ghi nhận ý chí hòa giải tột bực của chính phủ…" (*)
-Ngày 19/7/1963 TT. Thích Tâm Châu gửi văn thư kính đệ Tổng Thống VNCH trong đó yêu cầu chính phủ giải quyết 05 điểm:

1) Phóng thích tất cả tăng ni, thiện tín, sinh viên, học sinh, Gia Đình Phật Tử bị bắt bất luận ở đâu trong khắp nước.
2) Tất cả các tăng ni bị bắt nhốt tại An Dưỡng Địa cần phải được trả về Chùa Xá Lợi đầy đủ.
3) Xin chính phủ can thiệp để các báo đăng hoặc các gia đình có người bị bắt hay mất tích mà chưa thấy trở về từ đây tới Chủ Nhật 21/7/1963 kịp thời thông báo cho Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo biết để chuyển đến chính phủ.
4) Xin chính phủ công bố danh sách và truy tố những cán bộ có trách nhiệm trong vụ đổ máu tại Đài Phát Thanh Huế 8/5/1963.
5) Xin chính phủ bồi thường xứng đáng cho các nạn nhân đêm 8/5/1963 và cuộc đàn áp ngày 4/6/1963 tại Huế. Văn thư nói tiếp "Kính thưa Tổng Thống: Toàn thể tăng ni chúng tôi trong Ủy Ban Liên Phái thà chết chứ không chịu để cho lòng tin tưởng của chúng tôi nơi thành tín của chính phủ bị thực tế đánh đổ một lần nữa." (*)

Tại nơi trang 125 quý vị có thể thấy hình ảnh chư tăng ni rời An Dưỡng Địa sau khi Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành Trần Văn Tư và Bộ Trưởng Ngô Trọng Hiếu và phái đoàn báo chí trong và ngoài nước tới.

Những tin tức về cuộc tranh đấu của Phật Giáo trong những ngày qua đã được các Đài VOA, BBC, các hãng thông tấn AP và Stars And Stripes truyền đi và họ đã dùng những danh từ như "kỳ thị tôn giáo". Đài VOA trong buổi phát thanh lúc 12:30 ngày 18/7/1963 cho biết trong cuộc họp báo ngày Thứ Tư, một ký giả đã hỏi TT. Kennedy "Chúng tôi xin Tổng Thống cho biết những nỗi khó khăn hiện giờ giữa Phật Giáo đồ ở Việt Nam và chính phủ Việt Nam có làm trở ngại gì đến nhiều năm viện trợ của Mỹ trong công cuộc chiến đấu chống Việt cộng tại đó không?" (*) Và TT. Kennedy đã trả lời "Tôi hy vọng cuộc tranh chấp này sẽ được giải quyết ổn thỏa, vì lẽ chúng ta muốn thấy có một chính phủ vững vàng ở Việt Nam Cộng Hòa để tiến hành cuộc chiến đấu duy trì độc lập quốc gia của họ." (*)

-Ngày 27/7/1963 Sư Bà Diệu Không, thân mẫu nhà bác học Bửu Hội - đại sứ tại nhiều nước tại Châu Phi mở cuộc họp báo tại Chùa Xá Lợi tuyên bố sẽ noi gương Bồ Tát Thích Quảng Đức để cúng dường Phật pháp. Trong khi đó khoảng 100 người tự xưng là thương phế binh biểu tình dùng máy phóng thanh chĩa vào chùa phản đối và cho rằng Phật Giáo đã bị cộng sản lợi dụng. Một số "thương phế binh" còn nhẩy lên tường rào cao, đạp lên đầu mấy sư đang đứng phía trong, ném tung vào chùa nào là truyền đơn, hình vẽ chiến sĩ đóng khung…ung dung kéo đi diễn hành trên nhiều đường phố trước mắt cảnh sát và cảnh sát chiến đấu đang giữ trật tự cho họ trước chùa. Quý vị có thể thấy tấm hình chụp thương phế bình ngồi trên xe xích-lô biểu tình trên đường phố nơi trang 140.
-Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ra tâm thư gửi anh em thương phế binh đã biểu tình trước Chùa Xá Lợi trong đó có những đọan như sau: (trang 142& 143)
"Chúng tôi không lầm thì trong số anh em tàn tật vì đã hy sinh cho quốc gia, đã có trên 80% Phật tử."
"Chúng tôi chỉ phản đối những kẻ chủ trương dợi dụng chiêu bài chống cộng để bắt tội những người này, kẻ nọ là thân cộng, là không chống cộng để nhằm tiêu diệt họ dưới nhiều hình thức trong đó có Phật Giáo."
"Chúng tôi cực lực lên án âm mưu dùng xương máu toàn dân để xây dựng ngai vàng của một nhóm."
-Ngày 30/7/1963 hằng vạn đồng bào và tín đồ đã kéo tới Chùa Xá Lợi nhân lễ chung thất (49 ngày) của HT. Thích Quảng Đức. Cũng trong ngày hôm đó một bản Tuyên Ngôn do TT. Thích Tâm Châu ký tên đã ra đời trong đó có đoạn "Kiểm điểm lại cuộc vận động nói trên đến nay chỉ mới được giải quyết trên giấy tờ và bằng lời nói. Nhưng trên thực tế chưa có một thực thi cụ thể nào khả dĩ làm dịu nỗi đau khổ triền miên của toàn thể Phật Giáo đồ Việt Nam. Ngược lại những thực tế đau lòng ngày càng dồn dập làm cho Phật Giáo đồ mất hết tin tưởng. Dù vậy Phật Giáo đồ Việt Nam quyết định không lìa bỏ tinh thần thuần túy tôn giáo bằng cách áp dụng nghiêm chỉnh phương pháp bất bạo động để đưa phong trào tới mức thành công." (*)
-Ngày 12/8/1963 tại Chùa Xá Lợi, nữ sinh Mai Tuyết An tự chặt cánh tay trái của mình để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo với tấm hình nơi trang 149.


Phần Thứ VI: Sáu ngọn lửa bi hùng tiếp nối ngọn lửa Thích Quảng Đức

-Đại Đức Thích Nguyên Hương tự thiêu và để lại Trần Tình Thư gửi Hòa Thượng Hội Chủ và Quý Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, Tín Đồ Phật Giáo trong và ngoài nước, phát nguyện tự thiêu để "Phản đối tình trạng bắt bớ, khủng bố các tăng, ni, tín đồ Phật Giáo và để hòa nhịp với sự đau buồn của các Phật tử bị thiệt mạng và đang bị thương trong thời gian tranh đấu vì chính pháp." (*) Và bức thư gửi "Tía Má" (Bố Mẹ) ở Phan Thiết, trong đó có đoạn "Tuy thể xác đã vãng nhưng linh hồn con lúc nào cũng nhớ tới tía má. Đến đây con xin ngừng bút, đây là nét cuối cùng của con tiễn biệt tía má, con xin tía má nhận lòng thành kính của con." (*)
-Đại Đức Thích Thanh Tuệ  tự thiêu ở Huế ngày 13/8/1963
-Ni Cô Diệu Quang ba ngày sau tức ngày 15/8/1963 tự thiêu trước Chi Hội Phật Học Ninh Hòa.
-Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu 71 tuổi, tự thiêu tự thiêu tại Huế lúc 4 giờ sáng ngày 16/8/1963 trước sự hộ niệm của chư vị hòa thượng, đại đức, tăng ni và rất đông Phật tử.
-Ngày 5/10/1963 Đại Đức Thích Quảng Hương tự thiêu trước bồn binh Chợ Bến Thành. Khi ngọn lửa bùng lên được mấy phút thì xe cứu hỏa chạy tới xịt nước và đem nhục thân của đại đức đi. Hiện nay chưa ai biết thi hài của đại đức chôn ở đâu.
-Đại Đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu trên vỉa hè đối diện với Nhà Thờ Đức Bà (Sài Gòn) vào lúc 10 giờ sáng ngày 27/10/1963 để lại ba bức thư gửi Hòa Thượng Hội Chủ, Ngô Đình Diệm và Ô. U Thant- Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc.


Phần Thứ VII: Giai đoạn chót cuộc đàn áp Phật Giáo

-Ngày 18/8/1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo tổ chức lễ cầu siêu cho những vị tử đạo tại Chùa Xá Lợi. Khoảng mười vạn người, đủ mọi thành phần đã tham dự buổi lễ này. "Có người cả quyết rằng trong giờ phút này chỉ cần một lời hô của các vị thượng tọa là đám người sẽ bùng bùng kéo tới thẳng Dinh Gia Long đạp bình địa ngay tất cả. Nhưng nhờ sự điều khiển khéo léo, tài ba của của các vị thượng tọa, đại đức nên buổi lễ không xảy ra điều gì đáng tiếc…nên tới 6 giờ chiều, tất cả bằng lòng giải tán."(*)
-Vì Chùa Xá Lợi là nơi tập trung các nhân vật đầu não của Phật Giáo như: HT Hội Chủ Thích Tịnh Khiết, TT. Thích Tâm Châu, TT. Thích Thiện Minh, TT. Thích  Trí Quang, TT. Thích Thiện Hoa cùng các Đại Đức Thích Đức Nghiệp, Thích Quảng Độ, Thích Giác Đức, Thích Hộ Giác cùng Sư Bà Diệu Không cho nên "anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu quyết định cho lực lương đặc biệt tấn công chùa để bắt chư hòa thượng, tăng ni đem đi." Cuộc tấn công hung hãn khởi đầu vào lúc 0:30 khuya ngày 20/8/1963. "Trong lúc một số tăng ni tìm cách thoát cuộc bao vây của cường quyền vượt bức tường bên hông chùa để sang khu vực USOM nhưng bọn cảnh sát đã hay kịp. Những loạt đạn tuôn ra. Vài thây người ngã gục trong đêm tối. Tuy vậy cũng có hai vị thoát được sang địa phận USOM xin tỵ nạn." (*) Cả Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết cũng bị xô ngã mang vết thương nơi mắt. Cuộc tấn công chấm dứt lúc 2:15 sáng. Năm chiếc xe cam-nhông hốt tăng ni về nhà giam.
-Sáng 21/8/1963 Ngô Đình Diệm ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn quốc. Nhưng cuộc tấn công vào Chùa Xá Lợi như đổ thêm dầu vào lửa - một tính toán hoàn toàn sai lầm của anh em Ngô Đình  Diệm.
-Sáng ngày 22/8/1963 sinh viên các trường Đại Học Y Khoa, Cao Đẳng Kỹ Thuật, nổi dậy hưởng ứng cuộc đấu tranh của Phật Giáo. Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu cạo trọc đầu, từ chức để hưởng ứng cuộc đấu tranh.
-Sáng ngày 23/8/1963 sinh viên, học sinh khắp nơi kéo tới Đại Học Luật Khoa để bầu ủy ban tranh đấu.
-Cùng ngày vào lúc 10 giờ sáng sinh viên học sinh tổ chức cuộc biểu tình tai bùng binh Chợ Bến Thành và nữ sinh Quách Thị Trang 15 tuổi đã bị bắn chết và 10 người khác bị thương.
- Cũng trong thời điểm này học sinh các trường Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long, Võ Trường Toản bỏ học, không chịu vào lớp biểu tình phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm. Tại nơi trang 198 chúng ta thấy hình học sinh Chu Văn An biểu tình tại sân trường, cầm cờ Phật Giáo và dùng khăn bịt miệng để phòng ngừa hơi cay. Hình nữ sinh Trưng Vương biểu tình phản đối đàn áp tôn giáo. Tại nơi trang 188 chúng ta thấy tấm hình học sinh Chu Văn An vẽ phấn trên bảng "Ngô Đình Nhu là con quỷ cái. Nhu Diệm độc tài." (*), hình cảnh sát chiến đấu leo lên tường để gỡ những biểu ngữ đả đảo chính quyền Ngô Đình Diệm của học sinh.
-Ngày 24/8/1963 Ủy Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Học Sinh ra mắt tại Đại Học Luật Khoa trước mấy ngàn sinh viên. "Điều đáng nói là trong buổi này có cả sự hiện diện của GS. Vũ Văn Mẫu, GS. Vũ Quốc Thúc và GS. Nguyễn Văn Bông và được hoan nghênh nồng nhiệt." (*)
-Mỗi ngày hàng ngàn sinh viên học sinh bị bắt đưa đi giam tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
-Ở Huế hằng ngàn sinh viên học sinh đã kéo tới ở ngay trong Chùa Từ Đàm để hợp sức với chư tăng ni.
-Ngày 19/9/1963 Liên Hiệp Quốc quyết định ghi vào chương trình nghị sự vấn đề chính phủ Ngô Đình Diệm vi phạm nhân quyền.
-Hồi 0:30 ngày 24/10/1963 phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới Việt Nam để điều tra, Đại Sứ Raman Pazhwak đại diện A Phú Hãn (Afghanistan) làm trưởng đoàn.
Phái đoàn đã tiếp xúc với Ô. Nguyễn Ngọc Thơ, Ngô Đình Nhu và viếng thăm Chùa Xá Lợi, Chùa Giác Lâm và tiếp xúc riêng với từng vị thượng tọa, đại đức. Trong dịp này Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết đã gửi mật thư cho đại sứ trưởng phái đoàn Liên Hiệp Quốc trong đó có những đoạn như sau:

a) Ngày lễ Chúa giáng sinh, tất cả các công sở phải treo đèn kết hoa; hơn thế nữa trước Tòa Đô Chánh Sài Gòn, một trong những hang đá nguy nga đồ sộ được dựng lên bởi toàn lực của cơ quan quân đội cũng như dân chính mà phần lớn là những Phật tử, đài phát thanh trong ba ngày liên tiếp dùng để truyền thanh các buổi thánh lễ và những bài thánh ca, Tổng Thống đọc thông điệp hiệu triệu tất cả quốc dân hướng về ngày đó.

b) Nhà thờ được xây cất tự do bởi sự khuyến khích của viện trợ của chính phủ nhưng Phật Giáo muốn xây chùa chiền phải được phép của chính phủ và điều này rất khó khăn.

c) Trong quân đội có nghành Tuyên Úy Thiên Chúa Giáo trong khi đó 70% binh sĩ Phật tử không có Tuyên Úy Phật Giáo.
"Mục đích của chính phủ hiện tại là muốn biến Miền Nam Việt Nam thành một nước Thiên Chúa Giáo, nên đã thành lập một tổ chức mênh danh là Công Giáo Tiến Hành hoạt động rất mạnh trên toàn lãnh thổ với nhiều kế hoạch rất tinh vi nhắm tiêu diệt Phật Giáo mà tôi xin đơn cử một vài điển hình dưới đây"(*)

a) Đến từng gia đình Phật tử nghèo túng khuyên rửa tội theo Thiên Chúa Giáo bằng cách giúp cho một số tiền, gạo hoặc tìm cho việc làm.

b) Mở các khu dinh điền và khu trù mật gồm toàn những người theo Thiên Chúa Giáo rồi khuyến dụ Phật Giáo đến lập nghiệp và theo đạo, nếu ai không đi sẽ bị đe dọa đủ điều.

c) Lập các Ấp Chiến Lược ở miền quê, bắt dân chúng phải dỡ nhà, tập trung vào một chỗ, tất cả các chùa chiền cũng phải dỡ đi, nhưng khi vào Ấp Chiến Lược chỉ được cất nhà mà không được phép tái lập chùa, trong khi đó thì trong Ấp Chiến Lược được tự do xây cất nhà cửa. Nếu các chùa không chịu dời vào ấp thì nhà sư trụ trì đó bị nghi là lừng khừng.

-Ngày 23/8/1963 Luật Sư Trần Văn Chương (thân phụ Trần Lệ Xuân) – Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ đánh điện từ chức vì chính phủ đàn áp và nhục mạ Phật Giáo.
-Ngày 19/9/1963 Giáo Sư Nguyễn Thanh Thái, một Việt kiều ở Pháp "đã hành động một cách phi thường" (*) bằng cách thản nhiên lấy một con dao găm tự rạch ngực cho máu chảy rồi lấy một cái chén nhỏ bằng bạc, hứng máu viết thư gửi Ô. U Thant- Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tố cáo những tội ác của chính phủ Ngô Đình Diệm. Viết xong ông giơ cao lên cho mọi người nhìn và nói lớn: "Đây là máu của nhân dân quật khởi chống một chính phủ vi phạm nhân quyền." (*)


Phần Thứ VIII: Dư luận thế giới

Bao gồm các báo chí khắp nơi như tờ Straits Times Mã Lai, Tờ Nanyang Siang Pan viết bằng Hoa Ngữ tại Singapore và Miến Điện.

Tại Cao Miên Thủ Tướng Căm Bốt đã bày tỏ thiện cảm với Phật Giáo Việt Nam. Thái Lan các báo chí tại Vọng Các đều đều đăng tải các tin tức liên quan đến những biến cố ở Huế. Trung Hoa Quốc Gia, rồi Lời Hiệu Triệu của Ô. Hội Trưởng Hội Phật Giáo Thế Giới tại Ngưỡng Quang, Miến Điện, Nhật Bản, Ấn Độ, Ai Lao, Đại Hàn, Indonesia, Hongkong.

Tại Hoa Kỳ, báo News and World Report viết như sau "Người Mỹ ở Sài Gòn cho biết cuộc sinh sự với các nhà lãnh đạo Phật Giáo của Ô. Diệm là một lỗi lầm tệ hại nhất từ xưa tới nay…khiến cho vai trò của Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam lâm vào tình trạng khốn quẫn." (*)

Rồi tới các báo chí ở Thụy Sĩ, Anh Quốc, Úc Đại Lợi, Pháp. Riêng tờ Neak Cheat Niyum ra ngày 30/6/1963 trong bài xã luận nhan đề "Bước Đường Cùng Của Sự Dối Gạt" đã viết " Ông Ngô Đình Diệm với những anh em ông ta và người em dâu bất khả xa lìa, đã dùng hai tuần lễ cuối cùng để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tới, những người cuồng tín nhất trong bọn đã nhận được vũ khí và tất cả phải tức khắc ra tay trước khi Phật Giáo đồ thực hiện chủ trương tạo một Thánh Barthelemy như của Gia Tô Giáo. Nói riêng thì tập đoàn này không thể vì cớ gì lùi bước được nữa vì chúng tôi lượm được những tin này tại các trung tâm Gia Tô Giáo người Âu ở Nam Việt Nam." (*)

Tại Bruxelles (Bỉ) Linh Mục Pire- người đoạt giải Nobel về hòa bình, gửi Ô. U Thant- Tổng Thư Ký một bức thư yêu cầu ông gấp rút mở cuộc điều tra tại chỗ để làm sáng tỏ vấn đề.

Tờ Washington Post viết "Phật Giáo đồ khắp Á Châu sẽ có cảm tưởng rằng dù sao Hoa Kỳ cũng dung túng sự kỳ thị tôn giáo. Đó là một cảm nghĩ sai lầm, nhưng trót là bạn của một chế độ độc tài, áp bức nên Hoa Kỳ dù sao cũng bị ảnh hưởng." (*)

Tờ New York Times số ra ngày 19/6/1963 viết "Tình hình ở Sài Gòn đã đến giai đoạn giống hệt như những ngày cuối cùng của Ô. Lý Thừa Vãn tại Hán Thành." (*)

Tờ Sunday Examiner của Thiên Chúa Giáo xuất bản ở Hongkong viết "Mong rằng những người tuy khác đạo giáo nhưng phải tôn trọng giá trị về tôn thờ đạo giáo của họ, và đó là tinh thần bình đẳng tự do con người." (*)

Nữu Ước UPI "Trong khi chính phủ đang cần sự tin tưởng của dân chúng hơn bao giờ hết thì chính phủ lại đang mất sự ủng hộ của tín đồ Phật Giáo chiếm ba phần tư tổng số dân chúng tại Miền Nam Việt Nam." (*)

UPI Hoa Thịnh Đốn ngày 19/7/1963 đưa tin "Hôm Thứ Năm, Thượng Nghị Sĩ Wayne L. Morse nói rằng ông sẽ không đồng ý cho một đô-la nào nữa để ủng hộ cho một chế độ độc ác tàn bạo của TT. Ngô Đình Diệm tại Miền Nam Việt Nam."(*)

Tờ Christian Science Monitor trong bài " Sự Đau Khổ Tại Miền Nam Việt Nam" đã viết "Chế độ gia đình trị của TT. Ngô Đình Diệm đang tự đào hố chôn mình." (*)


Phần Kết Luận:

Không dông dài, trong phần kết luận, tác giả đã kết thúc ngắn gọn như sau:

"Cuộc tranh đấu thần thánh của Phật Giáo Việt Nam đã góp một phần không nhỏ vào cuộc Cách Mạng ngày 1/11/1963 của Quân Đội VNCH lật đổ cường quyền họ Ngô. Phật Giáo đã tô đậm nét vàng son hào hùng vào lịch sử dân tộc.

          Phật Giáo đã nói lên tiếng nói bất khuất của dân tộc trước cường quyền. Việc bảy tăng ni châm lửa tự thiêu để tranh đấu cho sự sồng còn của Phật Giáo Việt Nam đã khiến cho cả thế giới cúi đầu kính phục sự hy sinh cao cả, sự can đảm phi thường của người Việt nói chung và Phật Giáo nói riêng.

          Ánh sáng của đạo Từ Bi đã khuất phục được cường quyền, đó là bài học vô cùng quý báu để loài người từ nay về sau lấy đó làm gương.

          Cuộc tranh đấu của Phật Giáo từ ngày 8/5/1963 tới ngày 1/11/1963 đã mở kỷ nguyên mới cho Phật Giáo Việt Nam: Kỷ nguyên của tranh đấu bất bạo động mà chiến thắng được cường quyền." (*)

 
Đào Văn Bình
(California Tháng 8, 2011)
 
Cước chú:
(***) Ngô Đình Diệm được liêt kê trong cuốn History's 100 Most Evil Despots & Dictators (100 Bạo Chúa và Các Nhà Độc Tài Gian Ác Nhất Trong Lịch Sử) của Nigel Cawthorne do Barnes & Noble xb năm 2006. Nigel đã luận tội Ngô Đình Diệm nơi trang 167 "He sought to prove anti-Communist credentials by brutal repression" (Ông ta  tạo thành tích chống Cộng bằng đàn áp dã man." Và nơi trang 168 "Meanwhile he ruthlessly repressed political dissenters and religious factions, and installed member of his familiy in important jobs (Trong khi đó ông ta đàn áp không nương tay các nhà đối lập chính trị và tôn giáo đồng thời đưa gia đình nắm giữ những chức vụ quan trọng."
(*) Những chữ in nghiêng là phần trích dẫn.

Quý vị muốn có bản chụp của cuốn sách  xin liên lạc với tác giả theo địa chỉ:
           Thanh Thương Hoàng PO. Box 51625 San Jose, CA 95151-9998. Điều kiện thế nào, tùy tác giả.

06 August 2011

VATICAN CHỈ SỢ SỰ THẬT

Xin chuyển bài cũ để rộng đường dư luận-NHB
 
 
VATICAN CHỈ SỢ SỰ THẬT
 
Tôi, Nguyễn Hữu Ba xin chân thành cảm ơn các tác giả Trần Quang Diệu, Hoàng Thục An, nhóm Lý-trần-Lê-Nguyễn, Kim Phượng, Bảo Quốc Kiếm, Phạm Hoàng Vương, Phan Minh Tài……….Và nhiều người khác nữa ……đã bỏ công lục tìm và đánh máy lại những tài liệu quý giá về lịch sử Ca-Tô-Rô-Ma Giáo đã xúi giục và cấu kết với các cường quốc thực dân để đi ăn cướp toàn thế giới như thế nào?. Đây là một công việc rất đáng làm. Nhưng rất tiếc tôi đã không làm được nhiều, mặc dù các tài liệu đó tôi đều có sẵn trong nhà, vì tôi không có thời gian và tôi đánh máy rất chậm.
 
Xin mọi người Việt Nam hãy ghi nhớ nằm lòng rằng: "Khi nào còn Đạo Chúa trên đất nước VN thì đất nước chúng ta sẽ không bao giờ được yên ổn". Tôi xin lập lại "Khi nào còn Đạo Chúa trên đất nước VN thì đất nước chúng ta sẽ không bao giờ được yên ổn". Tôi có thể khẳng định như vậy. Vì sao??
 
Vì Chúa Cha đã dạy: "Bất cứ kẻ nào dâng đồ cúng cho một thần nào khác mà không phải là Jéhovah thì phải bị tiêu diệt" (Exodux: 22: 20).
 
Còn Chúa con (Jésus) thì dạy: "Hãy đem những kẻ thù của ta ra đây, những kẻ không chịu thờ kính ta trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta" (Lucas: 19: 27).
 
Đó không chỉ là giáo lý, là lý thuyết trong TK, mà thực tế lịch sử bành trướng Đạo Chúa đều xảy ra như vậy ở bất cứ nơi đâu.
 
Bất hạnh cho dân tộc VN chúng ta là đã có khoảng 7%  dân số đã là những tên xung kích của đội quân Vatican.
 
Khi chưa nắm được quyền lực thì họ tìm đủ mọi cách để nắm cho được quyền lực. Thế là LOẠN.
 
Khi đã nắm được quyền lực, thì họ sẽ đàn áp, tru diệt các tôn giáo khác để biến toàn dân trở thành con chiên của Vatican. Thế là LOẠN.

LM Cao Văn Luận nói với đại sứ Nolting ngày 14-5-1963 tại Sàigòn (về cuộc biến động của PG năm 1963):
 
 "Cách đây chỉ ít tháng, có nhiều cuộc lễ bên Công giáo, như lễ tựu chức của giám mục (Ngô Đình Thục], và các cuộc rước kiệu, bên Công giáo đã treo cờ khắp nơi bên ngoài khuôn viên nhà thờ, sao lúc ấy không có lệnh cấm, và không thi hành  lệnh cấm một cách nghiêm chỉnh." (L.M. Cao Văn Luận, Bên giòng lịch sử 1940-1975, Sacramento: TanTu Research tái bản, 1983, tr. 233.)" 
                                         
Giám mục Ngô Đình Thục nói với LM Cao Văn Luận tại Huế ngày 9-5-1963:
 
"Những anh công chức và quân nhân nào mà treo cờ Phật giáo hôm ấy, tôi sẽ cho nó lên Ban Mê Thuột hay Pleiku. Còn mấy anh "trọc" chùa Từ Đàm nếu cứ lộn xộn thì sẽ cho đi Côn đảo."(Cao Văn Luận, sđd. tr. 232.)" - Trần Gia Phụng dẫn!!!
 
Ông Ngô Đình Nhu đã từng tuyên bố:
 
"Tôi có cả một chương trình đã bàn kỹ với Đức Giám Mục (NĐT) sẽ lần hồi tiến tới chố mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết."
( Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr. 428.)
 
Cũng chính vì gấp gáp để Công Giáo hóa toàn dân Miền Nam VN mà cả 3 anh em ông đều bị chết một cách rất thảm thương.
 
Bây giờ, cái ung nhọt Đạo Công Giáo (và cả Tin Lành) đã nằm trong cơ thể của Mẹ Việt Nam. Chúng ta không thể cắt bỏ (bắn giết) nó đi . Vì dù sao họ vẫn là đồng bào ruột thịt, máu mủ của chúng ta . Chúng ta chỉ còn cách cô lập nó, để nó không thể lây lan ra khắp cơ thể Mẹ Việt Nam, bằng cách: Phổ biến cho toàn thể mọi người VN biết được cái lịch sử ô nhục của Đạo Công Giáo và những lời dạy sặc mùi thực dân, tàn ác,    phản khoa học trong TK. Lịch sử của Vatican cần phải được đưa vào học đường từ bậc trung học phổ thông.
 
Xin mọi người nhớ cho rằng: Vatican không sợ bất cứ thứ gì, kể cả bom nguyên tử . VATICAN CHỈ SỢ SỰ THẬT MÀ THÔI

Năm 2003, nhân dịp đi Mỹ để họp mặt với các bạn cùng khóa . Tôi có mua một số sách, trong đó có một số tôi đã có sẵn ở nhà . Nhưng tôi vẫn mua để đem tặng cho thư viện tại địa phương.

 Khi tôi mang 13 quyển sách về lịch sử Vatican đến thư viện để tặng. Tôi xin được gặp ông giám đốc thư viện để đưa điều kiện là: "Tất cả số sách này, tôi xin tặng cho  thư viện với một điều kiện là: Nếu ai làm mất . Xin ông bắt họ phải bồi thường, để tôi mua cuốn khác vào thay thế".

 Ông giám đốc đã trả lời: "Khi có ai làm mất sách. Tôi có bổn phận gởi thư để đòi . Nhưng nếu họ không trả thì cũng thôi, chứ có vài chục bạc không lẽ tôi đưa họ ra tòa ?"

 Tôi giải thích cho ông ta hiểu là tôi không thể tặng cho ông được. Vì khi những người CG đọc những quyển sách này họ sẽ giấu luôn , vì không muốn cho người khác đọc. (Chuyện này đã xảy ra thường xuyên rồi). Tôi đành mang sách về.

Ấy vậy mà các cha luôn miệng giảng: "Công lý và sự thật sẽ giải phóng các con". Tôi như bị shock khi nghe những người CG nói đến câu này.

Để kết thúc bài này. Một lần nữa tôi chân thành cảm ơn các tác giả đã bỏ công sưu tập và đánh máy để phóng lên các diễn đàn những tài liệu đúng đắn, trung thực về đạo Chúa, về lịch sử của Vatican, để giúp cho những độc giả chưa có dịp nghiên cứu, còn mù mờ về cái thế lực quái ác này.

Có một điều tôi xin góp ý với quý vị là: Chúng ta nên chọn những tài liệu ngắn, gọn đưa lên diễn đàn. Vì ít ai chịu khó đọc những bài quá dài trên diễn đàn. Nếu bài nào dài quá, chúng ta nên cắt ra để chuyển làm hai hay 3 lần.

Trân trọng kính chào quý vị với lời cảm ơn chân thành của tôi.


Úc Châu ngày 1-5-2011
Nguyễn Hữu Ba

Thưa Chuyện Kinh Tế Cùng Độc Giả

Thưa Chuyện Kinh Tế Cùng Độc Giả
Vũ Linh

 
     Tăng thuế có khuynh hướng làm chậm lại việc phục hồi kinh tế trong ngắn hạn...

     Thời gian gần đây, tòa soạn Việt Báo mở một diễn đàn trên Việt Báo Online, để  độc giả có dịp góp ý. Kẻ viết này cũng như tất cả các vị hợp tác với Việt Báo triệt để hoan nghênh sáng kiến này. Viết bài rồi có người đọc và góp ý là giấc mộng của tất cả những người cầm bút. Cuộc tranh luận thật hữu ích, giúp mọi người hiểu rõ hơn những chuyện đang xẩy ra chung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta và con cháu.

     Điều hơi đáng tiếc là không thiếu "góp ý" thực sự chỉ là đả kích không chính đáng, có khi vô căn cứ, thậm chí còn có tính phỉ báng. Tự do ngôn luận là một khái niệm phức tạp, chúng ta còn đang thực tập.

     Trong những góp ý nêu lên gần đây, có một số ý kiến kẻ viết này thấy cần nói thêm cho chính xác, không phải để tranh cãi, mà để phục vụ độc giả Việt Báo nói chung, phục vụ những người thật sự muốn tìm hiểu vấn đề.

*
     Một độc giả khẳng định: "Một mình TT Bush làm nước Mỹ mất 10.000 tỉ ở Wall Street, 4.000 tỉ ở Iraq và Afghanistan, 6.000 tỉ địa ốc, v.v... sơ sơ thôi là 20.000 tỉ cho nên 800 tỉ kích thích chẳng ăn nhập gì cả". Vài độc giả khác đọc vậy, tin là đúng, nên đã lập lại.

     Nói có sách mách có chứng thì trước hết phải chứng minh những con số "10.000, 4.000, 6.000 tỉ" ở đâu ra. Nhưng không dễ. Thôi thì cứ tạm chấp nhận để dễ nói chuyện.

     Trước hết, cái con số "10.000 tỉ mất ở Wall Street" là do ước tính của một độc giả qua sự tuột dốc của chỉ số Dow Jones, từ cao điểm 14.500 (10/2007) xuống điểm thấp nhất, 6.500 (3/2009), sau khi TT Obama nhậm chức. Dow Jones rớt 8.000 điểm, được độc giả đó chuyển dịch qua thành "kinh tế mất 10.000 tỷ".

     Vị độc giả đó lấy con số đỉnh trước khủng hoảng tài chánh và con số đáy sau khủng hoảng để tính thiệt hại, và dĩ nhiên, để kể tội Bush. Nhưng điều ông không nói là sau cuộc tấn công 9/11, Dow Jones chỉ còn 7.600. Sau đó, Bush đã kéo Dow Jones lên mức đỉnh 14.200 (chứ không phải 14.500), tăng 6.600 điểm. Kể tội Bush làm Dow Jones rớt 8.000 điểm, thế có nên kể công của Bush trước đó làm Dow Jones tăng 6.600 điểm không?

     Có một cách nhìn khác rõ hơn.

     Tháng Giêng 2001, TT Bush nhậm chức, Dow Jones khoảng 9.800. Tháng Giêng 2009, TT Obama nhậm chức, Dow Jones 8.600. Nói cách khác, trong tám năm Bush, Dow Jones có lên có xuống, nhưng tóm lại rớt 1.200 điểm, không phải 8.000 như vị độc giả dẫn chứng. Cứ tạm chấp nhận lý luận của vị độc giả đó, mỗi khi Dow Jones xuống 1.000 điểm là kinh tế mất 1.200 tỷ (!). Như vậy TT Bush làm kinh tế mất 1.400 tỷ, chứ không phải 10.000 tỷ.

Còn chuyện Bush vì quyền lợi các hãng dầu hỏa, đánh Iraq-Afghanistan làm kinh tế mất 4.000 tỷ cũng nên… bàn lại.

     Cả hai cuộc chiến đều được TT Bush đưa ra Quốc Hội phê chuẩn trong khi TT Obama đánh Lybia mà không cần ý kiến quốc hội. Khi ấy, các TNS Hillary Clinton, Joe Biden, John Kerry đều bỏ phiếu thuận. Cựu TT Clinton lúc đó cũng tuyên bố ủng hộ. Chuyện Bush "nói láo" để đánh Iraq, thì xin quý độc giả vào link này để biết thêm quan điểm của chính quyền Clinton từ trước khi Bush làm tổng thống: (http://www.rightwingnews.com/quotes/demsonwmds.php).

     Nói về kinh tế thì chi phí chiến tranh chính là tiền bơm vào kinh tế để sản xuất máy bay, xe tăng, tàu chiến, súng ống, bom đạn, quân nhu, và lương của cả triệu quân nhân, nhân công nhà máy sản xuất chiến cụ. Nôm na ra, chi phí chiến tranh tức là tiền kích cầu kinh tế. Bỏ qua chuyện chiến tranh có đạo đức hay không, may là nhờ có chi phí này, nếu không thì cả triệu người đã thất nghiệp, kinh tế còn thê thảm hơn nhiều. Nói chi phí chiến tranh mất 4.000 tỷ, bây giờ cần bơm thêm 4.000 tỷ để bù đắp là nói bâng quơ, không phải là lý luận kinh tế.

     Về chuyện mất 6.000 tỷ địa ốc, quả là có mất thật tuy chẳng ai biết chính xác mất bao nhiêu. Phần lớn mất mát này là do bong bóng nhà cửa xì hơi, giá nhà rớt từ những mức không tưởng xuống gần với thực tế hơn. Ví dụ như một căn hộ hai phòng ngủ trong một cao ốc cũ trong khu Bolsa, xây từ gần nửa thế kỷ trước mà bán hơn 500.000 đô là điều phi lý. Căn nhà đó phải là nhà của giới trung lưu, nhưng tiền nợ phải trả ít ra cũng 4.000 đô một tháng trong 30 năm, dân trung lưu nào trả nổi? Bây giờ trị giá căn nhà đó rớt xuống còn 300.000, tuy còn cao nhưng dễ thở hơn. Không có lý do gì thiên hạ phải đóng thuế cho TT Obama để ông bơm tiền vào, nâng giá nhà đó lên lại 500.000 hết.  Lập luận cần bơm tiền vào để bù đắp số 6.000 tỷ mất mát trong khủng hoảng gia cư hoàn toàn không hợp tình hợp lý.

     Vị độc giả đó sau khi lẫn lộn cam với táo, kết luận, chi 800 tỷ chưa ăn thua gì. Thật ra, TT Obama không phải chỉ chi 800 tỷ để tìm cách phục hồi kinh tế đâu. Ông xài khoảng 3.600 tỷ năm 2009 và 3.500 tỷ năm 2010, vị chi hơn 7.000 tỷ, đưa đến thâm thủng ngân sách tổng cộng hơn 3.000 tỷ chỉ trong hai năm đầu. Lớn gấp rưỡi thâm thủng của Bush trong tám năm. Nhưng dù chi nhiều như vậy, vẫn không giải quyết được nạn thất nghiệp vẫn lửng lơ mức 10%. Tại sao? Chỉ vì chính sách của TT Obama không giải quyết nạn thất nghiệp được:

     - Suốt ngày dọa tăng thuế thì các doanh gia đều sợ hãi và không phát triển doanh nghiệp, không thuê nhân công, hay mang hãng xưởng đi Trung Cộng (xem GE ở phần dưới); dọa tăng thuế tư bản bóc lột nghe mát tai, nhưng tư bản không chết mà dân thất nghiệp vẫn thất nghiệp;

     - bắt doanh gia phải trả bảo hiểm y tế cho nhân công có tính nhân đạo thật, nhưng trên phương diện kinh tế, cũng không khuyến khích doanh gia thuê thêm nhân công vì sợ tốn thêm tiền bảo hiểm;

     - tăng thời hạn lãnh tiền thất nghiệp cũng chỉ khuyến khích một số người không đi tìm việc.

     Với những chi tiêu khổng lồ của TT Obama, kinh tế thực sự đã phục hồi. Dow Jones đã tăng từ 6.500 khi TT Obama mới nhậm chức lên đến 12.500 hiện giờ. Nghĩa là giá cổ phiếu tăng gấp đôi. Nhưng phục hồi kinh tế kiểu này chỉ làm giàu cho những nhà giàu, sở hữu cổ phiếu thôi, còn dân nghèo không có cổ phiếu thì vẫn nghèo, dân thất nghiệp vẫn thất nghiệp.

     Rồi câu hỏi cuối cùng: thật ra, có cần phải bơm tiền vào để kích thích kinh tế không? 800 tỷ chưa đủ, phải 7.000 tỷ hay 20.000 tỷ?

     Năm 2000 cuối thời TT Clinton, kinh tế bị khủng hoảng vì internet xì hơi. Chỉ số Nasdaq, là chỉ số liên hệ trực tiếp đến công nghệ điện toán, rớt 60% từ hơn 5.000 xuống còn khoảng 2.000 điểm khi TT Bush nhậm chức. Tức là kinh tế mất gần 4.000 tỷ theo lập luận của vị độc giả trích dẫn. Kinh tế suy trầm nặng. Chắc Bush phải bơm vài ngàn tỷ để phục hồi kinh tế? Không, ông không bơm một đồng nào để kích cầu kinh tế hết. Ông ra luật cắt giảm thuế đồng loạt – chứ không phải chỉ giảm thuế cho những người có lợi tức hơn 250.000.

     Tại sao cắt thuế? Khi kinh tế suy yếu, cần phải kích thích sản xuất bằng cách tăng chi tiêu. Đảng Cộng Hoà bảo thủ chủ trương cắt thuế để thiên hạ giàu nghèo đều có thêm tiền tiêu xài, mua sắm, đầu tư, kích động sản xuất. Đảng Dân Chủ cấp tiến chủ trương để Nhà Nước thu tiền thuế của dân, rồi các công chức vẽ kế hoạch kích cầu kinh tế. Đó là khác biệt căn bản về quan điểm hai đảng.

     Năm 2001, nạn thất nghiệp ở mức 4,5% khi ông Bush nhậm chức, tăng đều mà chỉ lên đến 6,3% hai năm sau vì dư âm khủng hoảng internet. Giữa năm 2003, TT Bush cắt thuế. Qua 2004, và trong ba năm sau đó, từ 2005 đến 2007, thất nghiệp trở lại mức bình thường của kinh tế Mỹ, khoảng từ 4% đến 5%.

     Khủng hoảng kinh tế của 2001 đến rồi đi, chả mấy ai biết. Mãi đến giữa năm 2008 khi khủng hoảng tài chánh bùng nổ thì thất nghiệp mới leo lên lại 6%-7%.

     Năm 2009, TT Obama nhậm chức, tỷ lệ thất nghiệp xấp xỉ 7%. Ông không giảm thuế mà bơm vào kinh tế 800 tỷ, với lời hứa hẹn thất nghiệp sẽ trở về mức bình thường 4%-5% sau một năm như TT Bush đã thực hiện được. Nếu không cho ông 800 tỷ, TT Obama dọa thất nghiệp sẽ tăng lên 8%. Quốc hội mau mắn cấp tiền cho ông. Đến cuối năm, thất nghiệp vọt lên 10%. Ba năm sau, thất nghiệp vẫn trên 9%.

     Hai kết quả cụ thể của hai chính sách.

     Có người chỉ trích TT Bush cắt thuế gây thâm thủng ngân sách lớn. Không đúng. Năm 2003, ngân sách thâm thủng gần 400 tỷ, TT Bush cắt thuế. Qua năm sau, thâm thủng vẫn khoảng 400 tỷ, nhưng ba năm sau, 2005-06-07, thâm thủng giảm đều đặn mỗi năm trong ba năm liền, xuống còn khoảng 250 tỷ, bất kể chi phí chiến tranh Trung Đông, cho đến năm 2008 mới vọt lên lại vì khủng hoảng gia cư.

     Thứ Sáu 29 vừa qua, tức là hai năm rưỡi sau khi TT Obama chấp chánh, Nhà Nước loan báo mức kinh tế tăng trưởng hàng năm là 1,3% trong quý hai của 2011. Dow Jones rớt ngay hơn 100 điểm trong ngày. Nếu đến cuối 2016 mà kinh tế vẫn èo uột thì chắc cũng vẫn là vì bóng ma của Bush tác yêu tác quái thôi.
*
     Một độc giả khẳng định "Cộng Hòa cho tư bản tự do mang jobs đi Trung Cộng". Kẻ viết này xin trình bày câu chuyện của GE và Intel.

     GE là hãng đã thu lời 14 tỷ năm 2009 mà không đóng một xu thuế như đã viết trong một bài trước. Cũng là một đại gia có hãng xưởng khắp thế giới. Năm 2005, hưởng ứng chính sách cắt thuế của TT Bush, GE chuyển về Mỹ 1,2 tỷ đầu tư ở nước ngoài.

     Tuần vừa qua, GE loan báo di chuyển toàn bộ bộ phận quang tuyến (X-Ray Business, tập đoàn sản xuất máy móc quang tuyến lớn nhất thế giới, trực thuộc GE Healthcare) từ Wisconsin qua Bắc Kinh vì nhân công rẻ, thuế thấp. Hãng xưởng tại Wisconsin sẽ đóng cửa, nhân công sa thải, chỉ mang một số nhỏ nhân viên cấp quản lý đi Bắc Kinh. GE cũng cho biết sẽ bỏ ra hai tỷ đô đầu tư vào một số hãng xưởng khác. Tại Trung Cộng, chứ không phải tại Mỹ.
Một trong những công ty điện toán lớn nhất thế giới, Intel, năm 2005 có 11 tỷ đầu tư ở ngoài Mỹ. Năm 2006, đáp ứng chính sách của TT Bush, mang lại về Mỹ sáu tỷ. Trong hai năm 2009-10 chuyển ra ngoài lại, bây giờ có 12 tỷ ngoài nước. Công ty cũng thông báo sẽ đầu tư thêm 11 tỷ nữa trong những năm tới ở ngoài nước.

     GE, Intel, và các đại gia mang tiền đầu tư ngoài nước về Mỹ dưới thời Bush, nhưng ùn ùn chạy ra khỏi Mỹ dưới chính sách của TT Obama. Nói chung, số tiền đầu tư của Mỹ ở ngoài nước hiện nay là 200 tỷ, gấp hai lần con số cách đây bốn năm.

     Trách người làm chính sách, đừng trách các doanh gia. Xỉ vả mấy ông tư bản bóc lột này chẳng thay đổi được gì. Mà lại phiền lòng TT Obama. Vì Chủ Tịch tập đoàn GE, Jeffrey Immelt, rất thân cận với TT Obama. Ông là cố vấn đặc trách về vấn đề tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ, Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn về Việc Làm và Cạnh Tranh (Chairman, Advisory Council on Jobs and Competitiveness) của TT Obama. Tổng Giám Đốc tập đoàn Intel, Paul Otellini, cũng là thành viên của Hội Đồng đó.
*
     Một vị độc giả khác xác định "TT Bush lấy tiền thuế của 98% dân chúng để cứu nguy cho tư bản 2%".
Nếu nói "lấy tiền thuế cứu nguy tư bản" thì phải nói cho rõ:

     - Luật cứu nguy ngân hàng TARP do ông Tim Geithner soạn được đưa ra Quốc hội Tháng Mười 2008, dưới thời Bush, được ứng viên Obama và các dân cử Dân Chủ cổ võ, nhưng bị đa số Cộng Hòa bác bỏ. Ngay sau đó, thị trường chứng khoán rớt cả ngàn điểm, thế giới rúng động. Ứng viên Cộng Hòa McCain kêu gọi Cộng Hòa thông qua. Luật cứu nguy ngân hàng được đưa ra lại và thông qua. Ông Geithner sau đó được TT Obama bổ nhiệm Bộ trưởng Tài chánh, tiếp tục chính sách cứu nguy ngân hàng của ông cho đến giờ.

     - Cứu nguy hai hãng xe GM và Chrysler: tháng Chín 2008, quốc hội Dân Chủ biểu quyết Nhà Nước cho các hãng xe mượn 25 tỷ trang trải bớt nợ. Tháng Năm 2009, hai hãng GM và Chrysler khai phá sản sau khi mau mắn xài hết 25 tỷ. TT Obama nhẩy vào cứu tiếp, bơm vào mỗi công ty vài chục tỷ. Khi đó TT Bush đã về Texas lâu rồi.

Nói TT Bush lấy tiền thuế của dân để cứu tư bản là không đúng sự thật. TT Obama mới là người "lấy tiền thuế của 98% dân chúng" để cứu các đại gia Wall Street và Chicago.
*
     Một độc giả viết "TT Reagan tăng nợ trần lên tới 18 lần, cho Mỹ nợ ngập đầu". Dưới TT Reagan, mức nợ tăng 18 lần thật, quy ra trị giá đồng đô là của ngày nay thì tăng từ 2.000 tỷ lên 3.700 tỷ, tức là tăng 1.700 tỷ trong 8 năm, so với mức nợ tăng 1.900 tỷ chỉ trong một năm đầu của TT Obama.
*
     Một độc giả biện hộ cho việc Dân Chủ không tăng thuế nhà giàu khi còn kiểm soát lưỡng viện vì "… lúc đó cuối năm 2010 nếu không bớt thuế nhà giàu thì đảng Cộng Hòa sẽ không ký cho dân hưởng tiền thất nghiệp, thành ra vào thế kẹt đảng Dân chủ phải đồng ý".

     Thật ra, cuối năm 2010, Dân Chủ nắm Toà Bạch Ốc, và đa số tuyệt đối tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, Cộng Hòa chẳng có quyền "ký" bất cứ luật gì, và Dân Chủ chẳng cần gì phải nhân nhượng Cộng Hòa. Sự thật là TT Obama biết tăng thuế sẽ kéo dài trì trệ kinh tế và thất nghiệp nên không làm.

     "Tăng thuế có khuynh hướng làm chậm lại việc phục hồi kinh tế trong ngắn hạn" (Raising taxes will tend to slow the recovery in the near term). Đó là nguyên văn nhận định của bà Christina Romer, Cố Vấn Kinh Tế hai năm đầu tiên của TT Obama. Và đó mới là lý do thật sự tại sao TT Obama đã không tăng thuế nhà giàu trong suốt hai năm đảng Dân Chủ hoàn toàn kiểm soát cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp. Bây giờ Cộng Hoà kiểm soát Hạ viện, TT Obama chơi trò tháu cáy chính trị, thách thức Cộng Hoà tăng thuế. Cộng Hòa không tăng thuế sẽ bị chỉ trích là bảo vệ túi tiền nhà giàu, tăng thuế thì sau này kinh tế có trì trệ thì sẽ há miệng mắc quai, không chỉ trích Dân Chủ được.
*
     Có một vấn đề không liên quan đến công nợ, nhưng cũng nên nhắc. Một độc giả kể công TT Dân Chủ Jimmy Carter dang tay đón nhận cả trăm ngàn người tỵ nạn. Ông Carter là một người rất tốt bụng, rất nhân đạo. Nhưng ông đón nhận dân tỵ nạn là vì Quốc hội Mỹ đã có luật đón nhận dân tỵ nạn, chứ không phải ý muốn cá nhân của TT Carter. Tháng Tư 1975, Quốc hội Mỹ biểu quyết về vấn đề chấp nhận dân tỵ nạn VN vào Mỹ. Luật đó được đa số thông qua, mặc dù hai Thượng Nghị Sĩ Joe Biden và John Kerry chống đối kịch liệt. Ông Biden là đương kim Phó Tổng Thống, ông Kerry là ứng viên tổng thống của Dân Chủ năm 2004.

     Cuộc tranh luận về ngân sách, công nợ, và thuế sẽ không bao giờ chấm dứt vì nó phản ánh khác biệt về ý thức hệ cơ bản. Khác biệt ở cấp cầm quyền sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người. Khác biệt ở cấp "bình luận gia" thì sẽ giúp mọi người nhìn vấn đề rõ hơn nếu họ có sự cởi mở cần thiết để nhìn dưới nhiều khía cạnh. (31-7-11)


     VŨ LINH

05 August 2011

Đâu là nguyên nhân sâu xa để Trung Quốc có âm mưu độc chiếm Biển Đông?


Đâu là nguyên nhân sâu xa để Trung Quốc có âm mưu độc chiếm Biển Đông?
Nguyễn Hữu Quý
 
Có rất nhiều bài báo của các nhà phân tích hàng đầu thế giới cho rằng, sở dĩ Trung Quốc âm mưu động chiếm Biển Đông chủ yếu xuất phát từ nguồn lợi dầu mỏ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của Trung Quốc trên đường vươn tới trở thành một siêu cường, thậm chí còn muốn thay Mỹ để thống trị thế giới trong tương lai.
 
Theo tôi, nghĩ như vậy là đúng nhưng chưa đủ.
 
Chúng ta đều biết rằng, tham vọng "mở mang bờ cõi" luôn luôn là khát vọng và đã trở thành truyền thống trong lịch sử Trung Quốc; chẳng thế mà Trung Quốc nơi sản sinh ra môn cờ vây, mà mục đích duy nhất của ván cờ là: chiếm được nhiều "đất", càng rộng càng tốt…
 

Ngay sau khi đánh bật Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch và đẩy Tưởng ra đảo Đài Loan, chính quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc đã vẽ nên tấm bản đồ "Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại"; và như các bạn đã thấy, trong tấm bản đồ nói trên được in trong cuốn "Sự thật quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua", Trung Quốc còn muốn lãnh thổ của mình gồm: một phần lớn vùng viễn đông trung Trung Á của Nga; toàn bộ nước Triều Tiên (Bắc Hàn, Nam Hàn), cùng với Bu Tan, Miến Điện, Nê Pan, Thái Lan, CPC, Lào, Việt Nam… và còn kéo tận xuống Malaysia, đồng thời chiếm luôn eo biển Malaca.

Tuy nhiên, việc có thực hiện được cuồng vọng như tấm bản đồ trên hay không còn tùy thuộc vào tình hình thế giới trong tương lai; nhưng luôn luôn cảnh cáo thế giới, và đặc biệt với các nước lân bang của Trung Quốc rằng, người Tàu có mưu đồ thực hiện âm mưu với khoảng thời gian tính đến cả hàng nghìn năm.

Có một điều chắc chắn để khẳng định rằng, nếu trong hiện tại, Trung Quốc có sức mạnh vượt lên trên Mỹ về tiềm lực quân sự, thì than ôi, không chỉ Biển Đông mà có thể là cả Việt Nam và Lào như được báo trước là sẽ bị sáp nhập vào Trung Quốc trong tương lai gần.

Hiện tại, mặc dù vẫn còn rất sợ Mỹ, chưa thể đối đầu với Mỹ… nhưng Trung Quốc đã muốn xé bỏ Công ước của Liên Hợp quốc về luật biển (UNCLOS 1982) đã được chính Trung Quốc ký kết; thì rõ ràng, đến khi trở thành siêu cường số 1 thống trị thế giới thì việc thực hiện tham vọng lãnh thổ như bản đồ nói trên là hoàn toàn nằm trong khả năng của người Trung Quốc.

Nói như vậy để thấy được nguy cơ đến từ sự phát triển của Trung Quốc đối với Việt Nam.


Trở lại với vấn đề chính là: Đâu là nguyên nhân sâu xa để Trung Quốc có âm mưu độc chiếm Biển Đông?

Để ngắn gọn, theo tôi, có mấy nguyên nhân (động lực) chính như sau:

1. Nhu cầu về dầu mỏ chỉ là bước tính trong ngắn hạn của Trung Quốc, mặc dù nhu cầu về dầu mỏ là vấn đề (yếu tố) quyết định để trong vòng 20-30 năm tới Trung Quốc bằng mọi biện pháp nhằm đạt đến vị trí số một thế giới cả về tiềm lực kinh tế và quân sự.

2. Nếu độc chiếm được Biển Đông thì Trung Quốc sẽ đạt được:

     a. Chiếm được nguồn thủy sản quan trọng để duy trì sự ổn định của Trung Quốc (đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục vạn người trên một vùng biển rộng lớn…), không chỉ đáp ứng cho 1,40 tỷ người hiện tại mà có thể là 2 tỷ người trong vòng 50 năm tới.

Trong khi biến đổi khí hậu sẽ là thách thức lớn của nhân loại trong tương lai, theo đó, hàng triệu Km2 lục địa của Trung Quốc bị sa mạc hóa do nạn khai thác và hủy hoại môi trường hiện nay gây ra, thì ổn định cuộc sống cho 2 tỷ dân từ nguồn lợi biển sẽ là vấn đề sống còn Trung Quốc (ổn định về chính trị, từ đó hy vọng không bị chia tách thành nhiều quốc gia nhỏ mà Trung Quốc đã xâm lược, sáp nhập vào lãnh thổ của Trung Quốc từ trước đây)…

     b. Có một điều chắc chắn, khi đã độc chiếm được Biển Đông, Trung Quốc sẽ thiết lập lại luật hàng hải quốc tế, mà theo đó, khi tàu bè quốc tế đi vào vùng biển này ắt phải "nộp thuế" cho Trung Quốc; đây sẽ là nguồn thu đáng kể nuôi sống nhân dân Trung Quốc; bởi vì Biển Đông là một trong những đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới như mọi người đã biết.

     c. Độc chiếm được Biển Đông, Trung Quốc cũng khống chế được Nhật Bản; bởi vì kinh tế và sự phát triển của quốc gia Nhật Bản phụ thuộc rất lớn vào tuyến hàng hải quan trọng này.


Cần nhớ rằng, Trung Quốc chưa từng có ý từ bỏ trả thù Nhật Bản, đây là nỗi nhục lớn nhất của người Trung Quốc trong lịch sử hiện đại. Nếu như Việt Nam là đích đến của Trung Quốc trong việc sáp nhập lãnh thổ, đồng hóa, tiêu diệt giống nòi Lạc Việt thay bằng dòng máu Hán, thì với Nhật Bản là "rửa hận" vì đã hạ nhục Trung Quốc trong chiến tranh thế giới thứ II.

Làm suy yếu Nhật Bản, đồng thời vươn lên làm bá chủ nhằm có cơ hội trả thù nước Nhật… là một bước đi âm thầm, lặng lẽ, kiên trì… của giới lãnh đạo Trung Hoa ở bất kỳ các giai đoạn nào của lịch sử kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II trở về sau này.

Cách đây hai năm, con trai đầu của tôi khi đó đang chuẩn bị vào đại học, đã mấy lần cháu nói với tôi về nhận định của cháu rằng: Ba ạ, khoảng 30 năm nữa, Trung Quốc sẽ gây nên một cuộc chiến tranh rất tàn khốc, trong đó, một trong những mục tiêu quan trọng của họ là tiêu diệt khoảng 60-70% nhân dân Việt Nam ở thời điểm đó.

Có thể nhiều người cho rằng, đây là ý tưởng quá xa vời; tuy nhiên, theo tôi, với giới lãnh đạo Trung Quốc thì không có gì là họ không dám làm. Ngay cả nước Mỹ xa xôi mà họ còn muốn dùng vũ khí sinh học để hủy diệt, để đưa người Hán sang đó định cư... mặc dù có thể phải hy sinh một nửa số dân Trung Quốc, tức là khoảng 600-700 triệu người, như tướng Trì Hạo Điền - Bộ Trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã từng "mơ ước" cách đây mấy năm khi y còn sống.

Lịch sử Trung Quốc đã cho thấy, hiếm có một lãnh đạo thế giới nào từ cổ đến kim mà dễ dàng ra các quyết định "thí" dân như các lãnh chúa Trung Hoa xưa, miễn là thực hiện được ý đồ "thiên tử"; và ngay trong lịch sử hiện đại Trung Quốc, chính Mao Trạch Đông, y là hiện thân cho sự khẳng định này.

Trung Quốc hiện đã bỏ chế độ "mỗi gia đình chỉ có một con", chuyển sang thực hiện mối gia đình được phép có 2 con; đây là hiểm họa không chỉ chính bản thân của Trung Quốc mà là hiểm họa trực tiếp đối với Việt Nam và Lào.

Không bao lâu nữa, Lào sẽ như là một tỉnh của Trung Quốc, hoặc chí ít, dân số Lào sẽ là thiểu số ngay chính trên quê hương của họ.

Nếu Lào còn duy trì chế độ một Đảng là nhân dân cách mạng Lào như hiện nay thì việc mua chuộc Bộ Chính trị của độc đảng duy nhất tại Lào là việc làm dễ như trở lòng bàn tay của người Trung Quốc, và Trung Quốc đã thành công, như họ đã thực hiện đối với Miến Điện; mà đến nay, chính người Miến Điện đã cay đắng nhận thấy, miền Bắc Miến đã như là một quận thuộc Trung Hoa.

Than ôi, nòi giống Lào sẽ như là Tân Cương, Tây Tạng… trong tương lai gần. Một nguy cơ đe dọa Việt Nam từ phía Lào đã biết trước mà không sao thoát ra được.

Hiện tại, do chính sách "mỗi gia đình chỉ có một con" từ gần 30 năm qua, hậu quả là Trung Quốc hiện đang "dư thừa" 40-50 triệu đàn ông; Lãnh đạo máu lạnh ở Bắc Kinh cũng đang muốn "thí" bớt số lượng người này nhằm cân bằng giới tính bằng một cuộc chiến tranh, tuy nhiên, do chưa thể thắng Mỹ trong cuộc chiến trước mắt, cho nên Trung Quốc chưa thể thực hiện được.

Như vậy, với chính sách trở lại mỗi gia đình được phép có hai con, thì trong vòng một hoặc hơn một thế hệ nữa (25-30 năm), thì dân số Trung Quốc khoảng gần 2 tỷ cũng không có gì là ngạc nhiên cả.

Khi đó, việc gây nên một cuộc chiến tranh, vừa để "thí" bớt dân số nội địa tại Trung Quốc; vừa là để tiêu diệt nòi giống Việt Nam và Lào nhằm "phân bố lại dân cư" theo bản đồ "Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại" như đã nói trên đâu có gì là ngạc nhiên.


      d. Độc chiếm được Biển Đông là chặn đứng được tương lai phát triển của người Việt, càng có cơ hội thâu tóm, biến Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc... tiến tới sẽ làm một cuộc cách mạng "giải phóng Việt Nam" như đã từng đối với Tây Tạng sau ngày Mao nắm chính quyền.


Trong vòng 20 năm qua, Trung Quốc đã từng bước nô dịch Việt Nam bằng mọi cách (đặc biệt như qua đường phim ảnh) và có vẻ như từng bước một Trung Quốc đã đạt được thành công; việc hơn 700 tờ báo lớn nhỏ của nước ta buộc phải "im hơi lặng tiếng" trước vận mệnh dân tộc trong suốt một thời gian dài và đang diễn ra hôm nay là một bằng chứng của nguy cơ này. Đến nỗi, trong bài viết "Lời ai điếu cho một nền báo chí nô bộc" của nhà bào kỳ cựu Lê Phú Khải, tác giả đã phải thốt lên: Tôi không ngờ các nhà báo lão thành mà xưa nay tôi từng ngưỡng mộ lại có thể vô cảm đến thế, dối trá đến thế, hèn hạ đến thế!

Hỡi ôi, đến các "nhà báo lão thành", chắc hẳn trong số các vị đã có không ít người đã một thời "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", mà đến nay lại trở nên vô cảm, dối trá, hèn hạ…, qua đó để chúng ta biết, sự nô dịch của Trung Quốc đối với Việt Nam đã thành công đến mức nào!

Đấy là còn chưa kể đến còn có hàng ngàn người vì đang si mê tiền bạc..., đã để Trung Quốc lũng đoạn gần như toàn bộ nền kinh tế nước nhà, rồi đến các "làng Trung Hoa", thậm chí là Đông Đô Đại Phố... đã và đang được thiết lập gần như ở khắp các tỉnh thành trên toàn cõi Việt Nam...

Xem ra, mô hình này đang báo động điều mà Trung Quốc đã thực hiện cách đây hơn 35 năm như đã từng thực hiện đối với dân tộc CamPuChia; tức là xây dựng một đội ngũ tay sai người Việt, để chính người Việt tự ra tay tiêu diệt người Việt, như Pol Pốt – Iêng xa ry đã tiêu diệt gần 50% dân số của dân tộc mình chỉ sau hơn 4 năm từ 1975-1978 (diệt 2,7 triệu người, trong tổng số gần 7 triệu dân CPC ngày đó).

Liệu dân tộc Việt Nam với khí phách hàng ngàn năm đánh tan phương Bắc, có kịp thức tỉnh để tự cứu lấy mình?

Như vậy, bằng mọi biện pháp, phải "cắt" bằng được "đường lưỡi bò", đó chính là sự sống còn của người Việt Nam, nếu như không muốn bị "láng giềng hữu nghị" tiêu diệt.

Dân tộc Việt Nam, hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu!


Trong khi nước Mỹ đã và đang khẳng định lợi ích quốc gia của Mỹ ở Biển Đông, thì trong cái họa đã nhìn thấy, nhưng cái phúc còn lớn hơn nhiều.

"Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí" - điều này chắc ai cũng biết?!


Nguyễn Hữu Quý