22 August 2011

Lại nói chuyện “ca múa nhạc”

Lại nói chuyện "ca múa nhạc"

Văn Quang
 

Tuần trước tôi còn nợ bạn đọc phần thứ hai của câu hỏi về chuyện ca múa nhạc ở Việt Nam. Xin nhắc lại câu hỏi của bạn Trần Tuấn Vinh ở North Sydney: "Nhân hỏi chuyện này, nếu không làm mất thì giờ, ông có thể cho biết về tình trạng nhạc Việt ở VN hiện nay ra sao mà những người ở nước ngoài như gia đình tôi không thích nghe".

Thưa bạn, đây cũng là thứ chuyện thuộc loại "chuyện dài nhân dân tự vận", nói hoài không hết, nói gì thì nó cũng vẫn cứ còn y nguyên si như cũ, có khi nó còn "phát triển đa dạng, phong phú, ba láp" hơn nữa. Chẳng phải gia đình bạn không thích nghe mà gia đình tôi gồm cả anh em bà con, họ hàng làng xóm cũng chẳng muốn nghe cho mệt cái lỗ nhĩ vốn đã, đang và sẽ còn mệt vì nghe quá nhiều lời than thở về cơn sóng thần bão giá đang úp chụp lên đầu người dân Việt.


* Ca sĩ hạng nào cũng "sáng tác"!

Nhưng không phải là hầu hết mọi người đều không muốn nghe nhạc Việt. Tôi cần phải nhấn mạnh đó là thứ nhạc Việt Nam trên đất nước VN hiện nay mà thôi. Còn rất nhiều người vẫn thích nghe loại nhạc được gọi là nhạc tiền chiến, loại nhạc có một thời người ta đã gán cho cái "tội" là "nhạc vàng". Tức là loại nhạc bị khép tội ủy mị, lãng mạn của "bọn tiểu tư sản". Những năm gần đây cái chữ "vàng" đó trở thành vàng bốn số 9 thật. Ai cũng thích, lâu lâu có vài cái show trên đài truyền hình (TH) như "thay lời muốn nói" phát chương trình nhạc này được đón nhận nồng nhiệt. Nhưng lâu dần rồi cũng cạn vốn, không còn được "xum xuê" như trước nữa. Còn loại nhạc mới bây giờ, cũng không phải "vứt đi" tất tuồn tuột. Năm thì mười họa cũng có một vài bản nghe được. Nhưng so sánh với những bản nhạc xưa thì còn kém xa. Loại nhạc ngày nay dường như chỉ dành cho một số bạn trẻ (ở đây gọi là tuổi teen) tụ họp nhau ca múa, hò hét cho quên… sách vở và quên chuyện… nhân thế mà thôi. Ngoài một số nhạc sĩ khá nổi danh sáng tác được một vài ca khúc tương đối hay, đến nay dường như cũng đã quá mệt mỏi, rất ít thấy xuất hiện những ca khúc mới. Những ca sĩ hạng nhất hạng nhì VN và cả những ca sĩ nửa mùa được dịp múa gậy vườn hoang, đua nhau "sáng tác" nhạc. Cô này "sáng tác" được một bản em nhớ anh da diết thì cô kia cũng vội cho ra lò một bản em yêu anh quá trời để đáp lễ. Ca từ tầm thường đến thô kệch kiểu như "anh quên em làm con tim em rỉ máu". Cứ như thế phong trào sáng tác ca khúc theo đủ mọi thể loại được phô trương ầm ỹ. Vậy mà vẫn có khá nhiều "tuổi teen" múa may loạn xạ tung hô thần tượng của mình. Mỗi nhóm có một thần tượng để khi thần tượng hát ở đâu là lập tức kéo nhau đến "múa nhịp" lắc lư như lên đồng yểm trợ tích cực. Thú thật tôi không thể hiểu được các "tuổi teen" này ăn cơm nhà vác ngà voi hay có điều gì bí ẩn đằng sau. Bởi tôi biết có nhiều sinh viên nghèo được thuê làm "cổ động viên" cho một show truyền hình nào đó. Làm nhạc, làm phim đều theo kiểu mì ăn liền nên phim Việt cũng chẳng nhà nào muốn xem, nhạc Việt chẳng nhà nào muốn nghe, chứ chẳng phải gia đình bạn ở nước ngoài đâu. Từ thành thị tới thôn quê, nhà nhà xem phim Hàn Quốc, phim Tàu, phim Tây bạo lực. Vậy nhân đây, tôi điểm qua đôi nét về phim ảnh, nó cũng có tương quan mật thiết đến ca múa nhạc.


* Phim Hàn Quốc ngày nay là vũ khí trên thương trường

Loại phim "được mùa" nhất là phim Hàn Quốc, cách đây vài năm có nhiều phim xuất sắc, nhưng gần đây trên hầu hết các đài truyền hình VN cũng khó mà chọn được một phim hay. Phim nào cũng dài lòng thòng đến hàng trăm tập, nhưng chẳng đâu vào đâu. Hầu như họ bí đề tài nên những truyện phim đều cứ na ná giống nhau. Những "mô típ" như con rơi lưu lạc, râu ông nọ cắm cằm bà kia, hai ba cậu yêu một cô trong công ty gia đình, tưởng rằng lấy được nhau rồi bị ngăn cấm, tưởng không thể lấy nhau, rồi "cái hậu" lại đưa nhau vào nhà thờ làm lễ cưới tưng bừng hoa lá. Phim nào cũng có cảnh kéo nhau đi chơi đảo, chán rồi vào bệnh viện, mất trí nhớ, ung thư… Cảnh nào cũng dài lê thê, một chuyện vu vơ có thể kéo vài ba tập. Ăn uống lu bù, toàn mì và kim chi. Vui buồn, chán nản, sung sướng, đau khổ cứ lôi rượu ra uống tì tì cứ như trên đời không có gì làm hơn là uống rượu. Xem trăm cuốn phim Hàn Quốc bây giờ, bạn gặp những cảnh này lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần.

Nhưng nhiều gia đình VN vẫn thích xem vì cảnh quay của họ rất đẹp, quần áo, xe hơi, nhà cửa, son phấn, đồ dùng đều rất sang, thích hợp với sự mong muốn của nhiều khán giả. Diễn viên của họ đẹp, có nghề và diễn xuất rất giỏi. Nói thẳng ra phim Hàn Quốc ngày nay là một lối quảng cáo các mặt hàng do Hàn Quốc làm ra mà thôi. Nó là một vũ khí sắc bén trên thương trường, ăn sâu vào đời sống của đa số người dân. Vì vậy nên rất nhiều cô gái, chàng trai mới lớn ở VN bây giờ thường bắt chước y chang như Hàn Quốc. Phim Hàn không có tham vọng đánh đổ những nhãn mác đá quá lừng danh trên thế giới. Họ nhắm vào đa số người trung lưu, tiểu thương ở khắp các nước. Phim ảnh của họ chính là sự cạnh tranh thương mại rất hiệu quả.

 
* Văn hoá xuống dốc không "phanh"

Cũng chính vì chú ý đến khía cạnh thương mại nên phim Hàn ngày nay để lộ rõ nhiều khiếm khuyết. Đôi khi có những phân đoạn rất nhảm nhí, dung tục. Tôi đã thấy nhiều cảnh như thế. Cụ thể như trong cuốn phim "Thiên Sứ Tình Yêu" đang chiếu trên VTO1 (đài Cần Thơ), có đoạn một cô bé chơi khăm bạn trai bằng cách mời anh ta đến nhà bắt ăn toàn những thứ để anh ta phải… trung tiện (xin lỗi bạn đọc) trước mặt cả bà nội già nua cũng cười khành khạch. Rồi nó được nhắc đi nhắc lại cứ như một trò chơi tuyệt vời lắm. Tôi tự hỏi văn hóa Hàn Quốc vốn thâm trầm, tôn trọng lễ giáo, nay vì thương mại mà xuống dốc đến như vậy sao?

Song dù sao phim Hàn cũng hỗ trợ đắc lực cho nền kinh tế của họ. Còn phim ảnh và ca múa nhạc Việt Nam phục vụ cho cái gì? Đó là một dấu hỏi lớn đòi hỏi những người có trách nhiệm phải trả lời. Còn gì nản hơn khi biết những cuốn phim VN làm cho các đài truyền hình bây giờ được thành hình do những "lò viết kịch bản" chuyên cung cấp hàng cho đạo diễn làm gấp, làm vội, chạy vạy để bán được cho đài truyền hình. Các đài này cần rất nhiều kịch bản phim để lấp vào những "giờ vàng" đã được "cấp trên" quy định. Nhưng họ lại có rất ít "cán bộ" đọc kịch bản nên chỉ đọc sơ qua rồi cho quay luôn. Có ông đạo diễn vừa quay vừa viết thêm. Diễn viên hầu hết không qua trường lớp nào, chỉ có cái chân dài, cái mặt "coi được" là OK. Tôi không nói đến những chuyện phía sau hậu trường khác. Còn phim được gọi là hài, giải trí thì quá dung tục, những khuôn mặt quá quen thuộc đến mòn nhẵn với khán giả nhiều khi trở nên vô duyên, cứ nhìn thấy họ trên màn ảnh là muốn tắt máy. Đã không mang lại được gì cho đất nước, cho người dân, ngay cả phục vụ cho mục đích tuyên truyền cũng ấu trĩ, sáo rỗng. Nếu đã nhìn phim Hàn có những khiếm khuyết như thế mà người ta đánh giá là văn hóa xuống dốc thì phim ảnh, ca nhạc VN phải hiểu là gì? Những người có trách nhiệm với văn hoá dân tộc phải nhanh chóng tìm phương thuốc chữa trị.


* Nhạc chờ phục vụ cá độ bóng đá

Trở lại với ca nhạc, bạn hãy thử nhìn vào những bản nhạc chờ qua điện thoại di động (ĐTDĐ). Ngày nay hầu như người VN ở đâu cũng dùng ĐTDĐ. Dịch vụ được gọi là "hot" nhất và kiếm tiền nhanh nhất, nhiều nhất chính là những dịch vụ phục vụ cho ĐTDĐ. Trên các đài TH, quảng cáo cho cái món này là nhiều nhất. Thỉnh thoảng khán thính giả lại giật bắn mình lên vì những tiếng la thất thanh "Lưới rung là máy rung, hãy gửi tin nhắn cho 87xx là bạn đã nắm chắc phần thắng". Thắng cái gì? Thưa bạn đó là cá độ bóng đá mới có thắng thua chứ khán giả vô tư biết để biết mà thôi. Rõ ràng hơn là lời quảng cáo đầy hấp dẫn rằng "Bạn sẽ được tư vấn bởi các chuyên gia bóng đá hàng đầu thế giới". Chuyên gia nào, của hãng cá cược nào? Không thấy tiết lộ. Coi chừng lại là vua đoán đâu trật đấy thì có nước bán nhà, bán cả vợ con. Cảnh này xảy ra ở VN ngày một nhiều. Bạn cứ đọc báo sẽ thấy, đa số trọng tội ở VN đều do cá cược bóng đá lậu mà ra. Phục vụ kiểu này là phục vụ các "quý khách cá độ". Chuyện cá cược có nên để nó sống lậu huy hoàng hay nên cho nó chính thức hoạt động hãy để đó, một dịp khác ta sẽ quay lại.

Song song với kiểu nhắn tin phục vụ cá độ này, liên quan tới bộ mặt ca múa nhạc, cũng "hot" không kém là "nhạc chờ cho dế yêu của bạn", tức là loại nhạc chờ khi máy ĐTDĐ reo, người gọi sẽ được nghe một khúc nhạc. Nếu thật sự là một vài dòng nhạc hay thì cũng đỡ khổ, nhưng loại nhạc hay này rất hiếm. Hầu hết là loại nhạc "khủng" đang tra tấn nhiều người nghe khi chờ điện thoại. Một loại nhạc cổ vũ cho bợm nhậu, lô đề, cá độ… đến cả những bản nhạc thô tục chối tai. Vậy mà các hãng ĐTDĐ (ở đây gọi là nhà mạng) vẫn ung dung cung cấp cho khách hàng của mình để kiếm tiền lẻ, mỗi tin nhắn khoảng vài ba ngàn, hàng triệu cái lẻ thành cái cần câu cơm "vĩ đại".

 
* Nghe qua một tí đã thấy rùng mình

Nếu rảnh vào trang Ringtunes của hãng Vinaphone bạn sẽ thấy cả một kho nhạc rất "độc" đã được khá nhiều khách hàng tải về làm nhạc chờ cho "dế yêu của mình". Bạn nghe nhé, giọng rao của một người đàn ông mời gọi: "Nào anh em ta cùng vào nhậu, cho đời bớt khổ, bớt đau thương. Cuộc đời có bao nhiêu là bội bạc, chỉ có rượu là bạn của ta, khi nào đau khổ hay buồn tủi hãy nhớ đến rượu, đến anh em"… Chả biết nước VN này hay vợ con bồ bịch anh ta làm cái gì mà anh ta cho rằng toàn những thứ bội bạc. Thế thì nên đi nhậu cho say khướt thật.

Vào đến kho nhạc chờ của hãng Mobifone còn nhố nhăng hơn nữa: "Mau mau nào là mau mau nào, hết máu rồi thì… bơm máu vào, 1 2 3 dzô". Thú thật với bạn tôi đã vô tình gọi nhầm một số máy, được nghe "nhạc chờ" như thế này: :"Số máy quý khách vừa gọi không thể nhận cuộc gọi lúc này vì chủ thuê bao đang quá là say rồi, chờ lúc khác chủ thuê bao tỉnh lại sẽ nghe máy nhé"… Biết ngay là lầm số vì người tôi gọi là bà cô già rất nghiêm khắc của tôi ở Tân Bình. Nhưng chưa hết hồn bằng một ông công chức có cậu con trai mới 10 tuổi, đi học xa nhà nên sắm cho cái di động. Trời mưa, ông gọi cho con chờ thêm ít phút ông sẽ đến đón. Vừa gọi vào máy của con, ông này tá hoả vì nghe "nhạc chờ" trả lời: "Mày đó hả? Mày gọi tao hả?...". Cũng may cậu con trai a lô ba hả ngay. Ông lẳng lặng đến đón con rồi giựt phắt cái di động ném xuống sông Sài Gòn.

Tìm hiểu thêm các kho nhạc chờ của hãng ĐTDĐ mà nhiều người cho là "nhí nhố chịu không nổi", một anh phóng viên còn ghi nhận hàng loạt bài nhạc tự chế hết sức nhố nhăng, như bài "10 điều răn vợ" của Vinaphone có những lời lẽ: "Cưới vợ xấu là bất tài, có vợ đẹp là bất hạnh, bị vợ bỏ là bất lực, bị ế vợ là bất chí, cướp vợ bạn là bất nhân, vợ chồng đánh nhau là… bất phân thắng bại". Kinh khủng hơn, bài nhạc chờ "Bởi anh thích leo trèo" của cùng hãng này còn có lời lẽ quá khiếm nhã: "Trèo lên, lên trèo lên… trèo lên xong mà tuột xuống thiếp nay đã có bầu cũng bởi anh thích leo trèo…". Những ca khúc gây sốc ấy, được cho là "thảm hoạ" của nhạc Việt, nhưng đã thu về hàng tỉ đồng tiền tác quyền nhạc chuông, nhạc chờ mỗi năm.


* Bộ mặt thảm hoạ của nhạc Việt

Thị trường âm nhạc đã và đang xuất hiện hàng loạt bài hát gọi là "thảm hoạ nhạc Việt", có thể kể sơ qua như: "Vọng cổ teen", "Da nâu", "Nàng Kiều lỡ chân", "Tâm hồn vĩnh cửu", "Nói dối"… Đó là phiên bản bắt chước từ nước ngoài của một số người bước chân vào làng giải trí Việt muốn nhanh nổi tiếng, dễ thu lợi mà không được rèn luyện về chuyên môn. Ông bầu Vĩnh Thuyên – quản lý ca sĩ Vĩnh Thuyên Kim – cho biết Vọng cổ teen là một ca khúc gặt hái nhiều thành công về doanh thu. Chỉ tính riêng tiền tác quyền được trả khi khai thác nhạc chuông, nhạc chờ, "Vọng cổ teen" thu về 1 tỉ đồng 1 năm (cho cả 3 quyền: ca sĩ, nhạc sĩ và nhà sản xuất). Cục Nghệ thuật Biểu diễn Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết đang có trong tay danh sách 70 ca khúc nhạc Việt bị nghi là đạo nhạc nước ngoài với mức độ giống 80% đến 90%.

"Thảm hoạ" của nhạc Việt gắn liền với những cái tên: HKT, Phi Thanh Vân, Lê Kiều Như, Vĩnh Thuyên Kim, Phương My… Thế nhưng, điều không thể phủ nhận là những cái tên được cho là "thảm hoạ" của đời sống nhạc Việt này vẫn không thiếu lời mời biểu diễn, hầu hết là ở các tỉnh, thành ngoài TP Sài Gòn. Thậm chí, Vĩnh Thuyên Kim đang được xem là một giọng ca ăn khách ở tỉnh thời gian gần đây.

Những ca khúc nhảm nhí không có chút giá trị nghệ thuật, những vụ đạo nhạc và phong cách ăn mặc hở hang, loã lồ của giới giải trí xuất hiện trên các website âm nhạc, thậm chí trên cả băng đĩa nhạc và sân khấu biểu diễn khắp nơi. Thảm hoạ này càng để lâu càng làm bại hoại thuần phong mỹ tục, càng làm sói mòn văn hoá VN mà thôi./.

 
Văn Quang
Sài Gòn 6-8-2011

21 August 2011

NGÔ ĐÌNH DIỆM: CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC

NGÔ ĐÌNH DIỆM: CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC
Giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang, USA

 
IX.-  MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN NGƯỢC CỦA ÔNG DIỆM
 
Thông thường, người Việt Nam đều biết rằng:

1.- Đàn ông mà có cặp  mắt "trắng bệch" là hạng người gian tham và ác độc, và những nguời  "vô tu" là hạng người "bất nghì",
2.- Bất kỳ người nào có cặp mắt hay "nhìn trộm", "tròng trắng nhiều hơn  tròng đen", "láo liên" hay "tròng đen chạy long xòng xọc trong tròng trắng" hoặc mắt "chớp chớp" khi nói chuyện với một người nào, thì nhiên là người đó là quân lưu manh gian ác, tàn ngược và có bản chất phản trắc.

Ngô Đình Diệm có những  ác tướng thể hiện ra trên diện mạo như "bạch diện vô tu" và cặp mẳt "trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn  tròng đen" lại hay "nhìn trộm". Tất nhiên là những ác tính này sẽ biến thành hành động vào những khi có hoàn cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực trong tay. Diệm đã từng hành xử quyền hành trong những năm làm quan với quan thày Pháp và Vatican trong những năm 1922-1933 và hơn chín năm được Liên Minh  Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá trình nắm giữ quyền lực trong tay như vậy, tất nhiền,  những ác tính Da-tô và ác tính bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông ta đã có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện để biến thành không biết bao nhiêu tôi ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam. 

Căn cứ vào sách sử,  ông Ngô Đình Diệm đã phạm tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt Nam bằng những hành động "cõng rắn cắn gà nhà" và bạo ngược đối với nhân dân khi làm quan trong chính quyền bảo hộ Pháp - Vatican trong những năm 1922-1933 và khi được Hoa Kỳ và Vatican cho nắm giữ các chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam trong thời gian 1954-1963 ở miền Nam. Dưới đây là một số  bằng chứng về những hành động tội ác của ông ta:

1.- Khi được bổ nhậm làm tri phủ  ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động tàn ngược và dã man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:

"Khi ông làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp,  lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi,  bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng."[i]

2.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam Việt Nam từ ngày 7/7/1954 cho đến 1 giờ trưa ngày 1/11/1963, Diệm đã cho thi hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực khiến cho hơn 300 ngàn người bị sát hại, cùng với hơn nửa triệu người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dã man. Vấn đề này đã được người viết trình bầy đầy đủ trong nơi các trang 124-133  trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), và sẽ được nói rõ trong mấy chương sách nằm trong Mục XX ở sau.

3.- Ngày 30/11/1961, Diệm đã hí hửng và hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:
 
"Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt.  Diệm cho rằng ông ta "biết cộng sản ở đâu" và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn."[ii]
Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:
"Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam  và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp."[iii] .

Việc làm dã man này  không biết đã sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, và hậu quả của việc làm này cho đến ngày nay vẫn còn gây hại cho đất đai, cây cối, mù a màng, sinh vật và nhân dân ta trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay,   chính phủ Việt Nam đã và đang kiện đòi chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về hậu quả ghê gớm của việc làm tàn ngược và dã man này, nhưng lại bị những người đồng đạo của ông Diệm chống đối cực lực. Sự kiện này càng chứng minh cho chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Da-tô  thì họ trở thành những phường vong bản, phản dân tộc, mất hết nhân tín và trở thành hạng người "cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh."

Tạm kể ra ba tội ác này cũng đủ cho  chúng ta thấy thằng bạo chúa phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm quả thật là hạng người "thiên cổ tội nhân" đối với dân tộc Việt Nam ta, và đúng là một trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.

 
 
Trong tiểu mục này, người viết chỉ nói đến ác tính phản trắc của Diệm mà thôi. Ác tính này có thể là theo truyền thống hay dòng máu di truyền của gia đình họ Ngô.  Do đó, chúng ta cũng nên tìm hiểu xem gia đình Diệm có đặc tính phản trắc này hay không, rồi sau đó sẽ nói đến thành tích phản trắc của chính cá nhân Diệm. 

A.- Về truyền thống gia đình của Diệm, theo tác giả Giuse Phạm Hữu Tạo, chủ bút mang lưới dongduongthoibao.net và cũng là tác giả bài viết Quốc Kỳ Việt Nam đăng trong dongduongthoibao.net,tháng 12/2005, dòng họ Ngô Đình khởi đầu làm Việt gian bán nước cho cả hai đế quốc Vatican và Pháp từ  đời Ngô Đình Niệm, tức là ông nội của Ngô Đình Diệm. Dưới đây là nguyên văn lời ông Giuse Phạm Hữu Tạo viết:

"Chiến thuyền Pháp bắn phá và tấn chiếm Đà Nẵng vào năm 1858, có số giáo sĩ Tây và giáo dân Việt gian đón tiếp và xúi tấn công dứt điểm Huế. Trong số giáo sĩ có Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu có linh mục Nguyễn Trường Tộ đã cởi áo dòng theo hầu), linh mục Pellerin, linh mục Huc, Caspar (tên Việt là Lộc có giáo dân Ngô Đình Niệm là cha Ngô đình Khả theo hầu), linh mục Nguyễn Hoàng…..đại quan thuyền trưởng Pháp đã không thấy vài trăm ngàn giáo dân Việt gian đón tiếp theo như những linh mục Tây phúc trình."[iv]

Đến đời thân phụ của ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả thì lại còn ghê gớm hơn nữa. Đặc tính ghê gớm này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật ghi lại việc làm ghê gớm của ông Ngô Đình Khả như sau:

"Theo tài liệu sử, Ngô Đình Khả được Triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ công lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc Phan Đình Phùng  và đặc biệt là đã đào mả cụ Phan (lấy xác cụ đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc súng để bắn cho tiêu tan  hài cốt cụ Phan: quả thật là một tên đại thần, đại gian đại ác."[v]

B.- Về những việc làm phản trắc của Diệm.
- Những việc làm phản trắc của ông Diệm đối với nhiều người đều được sách sử ghi lại  rõ ràng.  Dưới đây là một số những việc làm phản trắc của ông ta:

1.- Phản lại lời thề trung thành với Quốc Trưởng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu khi được bổ nhậm làm thủ tướng với toàn quyền quyết định về cả dân sự lẫn quân sự vào ngày 19/6/1954. Khi về Việt Nam cầm quyền và sau khi đã củng cố xong quyền lực, ông Diệm cho tổ chức ngày Trưng Cầu Dân Ý vào ngày 23/10/1955 để truất phế ông Bảo Đại, người mà chính ông ta đã làm tôi hai lần : (a) những năm tháng trước ngày 12/7/1933 và (b) những năm tháng sau ngày19/6/1954. Ta gọi hành động này là phản thần.

2.- "Phản quốc và hại dân" qua những hành động tra tấn các nhà cách mạng chống Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican: Khi được Liên Minh Pháp – Vatican cho làm tri phủ ở Hoa Đa, Diệm đèn cầy sấy hậu môn để lấy khẩu cung hầu tâng công với quan thày Vatican và Pháp như đã kể trên. Trong thời kỳ nắm quyền cai trị miền Nam từ tháng 7 năm 1954 cho đến trưa ngày 1/11/1963,  ông đã phạm những tội ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam như đã nói ở trên. Ta gọi hành động này là phản quốc và người phạm tội phản quốc là Việt gian.

3.- "Phản trắc" và "tráo trở". Trong năm 1933,  ông Diệm có liên hệ đến âm mưu vận động cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne thân Giáo Hội La Mã trở lại Đông Dương để thay thế Toàn Quyền Pierre Pasquier (có tinh thần bất thân thiện với Giáo Hội La Mã). Âm mưu bị bại lộ cho nên mới bị Pháp sa thải. Sau đó,  tới đầu thập niên 1940, ông lại mưu toan liên kết với tín đồ Da-tô Cường Để ở Nhật để chống lại Pháp. Âm mưu này cũng bị bại lộ và bị Pháp bắt giam. Vì thế mới có chuyện Giám-mục Ngô Đình Thục viết lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi Toàn Quyền Jean Decoux xin khoan hồng cho hai người em là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Trong lá thư này, Giám-mục Thục có nói về công trạng đối với Pháp của thân phụ ông ta là Ngô Đình Khả"đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu,… chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Ohùng chỉ huy…" Những hành động như vậy gọi là phản chủ.

4.-  Phản lại Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã cưu mang, lo lót chạy chọt cho ông về Việt Nam làm thủ tướng chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng rồi ông lại qua mặt Hoa Kỳ, dồn nỗ lực vào việc tiến hành kế hoạch "Da-tô hóa miền Nam Việt Nam" bằng bạo lực và bằng tất cả các phương tiện của chính quyền. Việc làm đại gian đại ác này hoàn toàn trái với Hiến Pháp Hoa Kỳ (trong đó có điều khoản "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền"), và đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Chính vì thế mà nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới mới lên án chế độ của ông là chế độ đạo phiệt Da-tô, mới gọi ông là một "Spanish Inquisitor", và sách sử mới ghi nhận ông là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Vì bị nhân dân Hoa Kỳ chống đối dữ dội, chính quyền Hoa Kỳ mới ra chỉ thị cho ông phải sửa sai và thay đổi chính sách. Thay vì phải sửa sai và thay đổi chính sách, ông lại tìm cách bắt tay với chính quyền miền Bắc để bắt chẹt (blackmail) Hoa Kỳ.  Hành động này được gọi là hành động phản chủ.

5.-  Phản lại bạn bè: Các ông Trần Văn lý, Tạ Chương Phùng, Lê Quang Luật, v.v… là những người bạn của ông từ cái thuở ông còn long đong với hai bàn tay trắng. Họ đã ủng hộ và hy sinh công lao, thì giờ cũng như tiền bạc để cưu mang khi ông Diệm còn  lận đận. Sau khi lên cầm quyền, ông phản lại những người này nhưa hành động thủ tiêu người con trai của Cụ Tạ Chương Phùng là Tạ Chí Diệp, đối xử rất tệ với cụ Trần Văn Lý, lọai ông Lê Quang Luật ra khỏi chính quyền.[vi] Hành động này gọi là phản bạn.

6.- Phản lại tướng Trình Minh Thế. Ông Diệm cho người thuyết phục ông Trình Minh Thế đem lực lượng Cao Đài võ trang về hàng. Ông Thế đã nghe theo, về hàng và được gắn lon thiếu tướng.   Sau đó, ông lại ám sát ông Thế. Đây là một trong hành động  phản trắc.

7.- Phản lại  Đại Tá Edward G. Lansdale: Đại Tá Edward G. Lansdale là người được Tổng Thống  Eisenhower cử sang Việt Nam làm cố vấn đặc biệt cho ông Diệm ở Sàigòn và đã sang Việt Nam trước khi ông Diệm về nước cầm quyền. Vai trò và công ơn của Đại Tá Edward G. Lansdale  đối với ông Diệm như một vị sư phụ đối với một đệ tử yêu quý nhất trong truyền thống võ lâm Trung Hoa. Đại Tá Edward G. Lansdale  đã lo cho ông Diệm đủ mọi thứ, từ miếng ăn, vấn đề an ninh ở trong dinh Độc Lập, lập kế hoạch đưa cả hơn 600 ngàn người Công Giáo Bắc Kỳ vào miền Nam làm lực lượng hậu thuẫn cho ông, ly gián, phá vỡ âm mưu đảo chánh của Tướng Nguyễn Văn Hinh trong những tháng 9-11/1954,  dạy dỗ ông cách ăn nói và hành xử với nhân viên cấp dưới, cách phân biệt những người xu thời nịnh bợ và những người mộc mạc chân thành ủng hộ ông, phải đối đãi tử tế với những người cộng tác chân thành như Tướng Trình Minh Thế, chỉ bảo cho ông biết cung cách hành xử của một vị tổng thống ở một nước dân chủ, v v… Khi địa vị chưa vững, ông đã tỏ ra ngoan ngoãn nghe lời Đại Tá Edward G. Lansdale như một  môn sinh ngoan ngoãn nghe lời vị lương sư chỉ dạy. Nhưng khi chính quyền và địa vị đã củng cố và vững mạnh, những ác tính tiềm ẩn trong con người của ông đã biến thành hành động, cho người ám sát Tướng Thế bất kể gì cả lời khuyên dạy của Đại Tá Edward G. Lansdale . Hành động này gọi là phản thày.

8.- Phản lại lời cam kết với quốc dân miền Nam Việt Nam và những người chỉ huy cuộc đảo chánh 11/11/1960. Khi Dinh Độc Lập bị quân đội Nhẩy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại-tá Nguyễn Chánh Thi bao vây ngặt nghèo vào sáng sớm ngày 11/11/1969 và gửi tối hậu thư cho ông phải cải tổ chính quyền,  ông tuyên bố với quốc dân rằng ông "quyết định giải tán chính phủ hiện thời để các tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa thành lập chính phủ lâm thời để có thể chiên đấu tiếp tục chống Cộng…"[vii] Nhưng chưa đầy 24 giờ sau, khi viện quân của Đại Tá Trần Thiện Khiêm từ miền Tây kéo về tới Phú Lâm, ông liền trở mặt, xóa bỏ hết những gì  ông tuyên bố ngày hôm trước. Đây là hành động phản dân.

9.-  Phản lại lời cam kết vào ngày 16/6/1963 với Phật Giáo. Việc tiến hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực đã làm nẩy sinh phong trào Phật Giáo tranh đấu để đòi bình quyền về tôn giáo. Dưới áp lực của Hoa Kỳ, ông đã cho thành lập một Ủy Ban Liên Bộ nói chuyện với phái đoàn Liến Phái của Phật Giáo:

"Ngày 16/6/1963:  Hai Uỷ Ban Liên Bộ và Liên Phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận, ra một thông cáo chung xác định những điểm đã thỏa hiệp về cách treo cờ Phật Giáo và Quốc Kỳ; xét lại Dụ số 10 về phần quy chế tôn giáo; điều tra về các vụ bắt bớ, và khoan hồng cho những người tranh đấu cho Phật giáo; dành mọi sự dễ dàng cho các hoạt động tôn giáo; trừng trị những nhân viên có lỗi, bồi thường cho các gia đình nạn nhân."[viii]

Bản thỏa hiệp vừa ký xong được mấy ngày, ông trở mặt.  Báo chí và đài phát thanh của Sàigon trở giọng mạt sát Phật giáo, cảnh sát và mật vụ vẫn tiến hành những chiến dịch truy lùng bắt giam và tra tấn Phật tử,  học sinh và sinh viên, các truờng học được lệnh đóng cử. Bản thỏa hiệp giữa Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật giáo được ký kết vào ngày 16/6/1963 tại giữa thủ đô Sàigòn  bị ông Diệm liệng vào xọt rác. Đây là một hành động tráo trở hay phản phé.

10.-  Phản lại lời hứa đã hứa với Đại-sứ Frederick Nolting: Việc chính quyền Ngô Đình Diệm bách hại Phật Giáo khiến cho Hoa Kỳ lo ngại và bị lên án vì rằng vào năm 1954, chính Hoa Kỳ đã đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền rồi cưu mang chính quyền này kể từ đó. Cũng vì vậy mà Đại-sứ Hoa Kỳ ở Sàigòn là ông  Frederick Nolting được lệnh chủ chính quyền Hoa Kỳ đến gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu (đúng ra là ra lệnh cho ông) phải giải quyết vấn đề Phật Giáo cho êm đẹp. Lần nào nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại-sứ Nolting cũng được Tổng Thống Diệm hứa rằng sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo theo tinh thần hòa giải. Tuy là hứa như vậy, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn vi phạm những điều đã cam kết  trong bản thỏa hiệp mà Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật Giáo đã ký kết vào ngày 16/6/1963. Có thể vì  tình trạng này, đầu tháng 8/1963, Đại-sứ Noilting nhận được lệnh bị triệu hồi về Mỹ và chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigòn sẽ được ông Cabot Lodge sang thay thế. Trước ngày 15 tháng 8 năm 1963,  Đại-sứ Frederick Nolting đến Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm để từ biệt về Mỹ và yêu cầu ông Diệm hứa với ông rằng chính quyền ông Diệm không được dùng vũ lực tấn công các chùa chiền của Phật giáo. Tổng Thống Diệm đã long trọng cam kết với ông Noltting rằng ông sẽ không bao giờ tấn công Phật giáo. Được lời cam kết này của ông Diệm, ông Nolting yên trí trở về Hoa Kỳ và dự tính rằng sẽ báo cáo với Tổng Thống Kennedy bằng những lời lẽ bao dung cho anh em ông Diệm. Thế nhưng, trên đường về nước, khi tới Hawaii, ông Nolting được tin các chùa chiền ở trong các thành phố lớn ở Việt Nam bị quân chính phủ tấn công vào đêm ngày 20/8/1963 và ông Nolting đã tỏ ra vô cùng phẫn nộ về hành động phẳn trắc này của ông Diệm. Sự kiện này được sử gia John Newsman, người Hoa Kỳ, ghi nhận như sau:

"Ngày 19/7 , ông Diệm lên đài phát thanh nói với đồng bào trong hai phút, bày tỏ ý muốn hòa giải với phe Phật Giáo, nhưng ông nói với vẻ lạnh lùng và nhân nhượng rất nhỏ nhoi, chỉ vừa đủ làm cho tình hình dịu bớt. Hậu quả, vào tháng 8,  cuộc đấu tranh của Phật Giáo bộc phát trở lại: Khán giả truyền hình Mỹ được nhìn thấy các vụ tự thiêu vào những ngày 5, 15, và 18 (tháng 8) của 7 nhà sư và một ni cô. Tình hình gia tăng đến mức căng thẳng từ giữa tháng 8 tưởng chừng như sắp nổ tung,  qua đến sáng ngày 21/8, "Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn," và khuya hôm ấy, ông Diệm tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ và ông Nhu cho Cảnh Sát Chiến Đấu, một thứ Lực Lượng Đặc Biệt của riêng ông, tiến hành cuộc bố ráp các chùa và bắt giữ 1,400 Phật tử. Ông Nhu lợi dụng thiết quân luật để bắt bớ, nhưng che đạy bằng lệnh của các tướng vùng.

Hành động của ông Nhu  rõ ràng đã tạo ra bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ.  Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lên án các cuộc bố ráp các chùa chiền như sau:

"Dựa trên những tin tức từ Sàigòn, rõ ràng chính phủ VNCH đã dùng những biện pháp đàn áp nghiêm trọng các nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam. Hành động này tiêu biểu cho sự vi phạm trắng trợn các bảo đảm của chính phủ Việt Nam đã hứa theo đuổi chính sách hòa giải với Phật Giáo. Hoa Kỳ muốn phàn nàn về  các hành động đàn áp như vậy."

Ông Nhu cho cắt các đường dây điện thoại của Tòa Đại Sứ. Các tướng lãnh giận dữ đến Tòa Đại Sứ và hỏi xem Hoa Kỳ có chịu ủng hộ đảo chánh hay không?

Lúc bấy giờ (Frederick) Nolting cùng (Henri Cabot) Lodge và (Roger) Hillsman đang có mặt ở Honululu, cảm thấy choáng váng vì các biến chuyển ở Sàigòn. Ông liền đánh điện trách ông Diệm rằng: "Đây là lần đầu tiên Tổng Thống đã tự phản bội với những lời hứa trước mặt tôi." Hillsman mô tả giây phút Nolting trố mắt nhìn những dòng chữ từ từ hiện ra trên máy viễn ấn ký như sau:

"Tôi nghe có tiếng chửi đổng lúc chúng tôi đọc từng chữ trên máy. Cuộc tấn công được sắp xếp vào  thời gian giữa hai đại sứ cũ và mới thay đổi công việc.Ông Diệm đã cả gan dám bội ước và không dành một hành động nào để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ. Ông ta đã đặt chúng ta trước một chuyện đã rồi mà ông ta biết rõ đã làm tổn thương đến tinh thần thượng võ và sự công minh của chúng ta,  và ông ta đã có những hành động kiêu căng, ngạo mạn vì cho rằng chúng ta sẽ phải ngậm đắng nuốt cay như chúng ta đã từng chịu đựng trong quá khứ. Lúc ấy nét đau khổ lộ ra trên khuôn mặt của Nolting."

Tuy nhiên, lần này Hillsman sẽ cố làm sao để không phải nuốt một viên thuốc đắng nào hết." [ix]

Đây là một hành động phản bạn vì rằng ông Đại Sứ Nolting được coi như là một người bạn khá thân với ông Diệm và đã che chở rất nhiều cho ông Diệm khi báo cáo về chính quyền Hoa Kỳ.

Trên đây,  người viết mới liệt kê ra có 10 lần ông Diệm đã có hành động phản trắc. Có thể còn có rất nhiều lần phản trắc khác nữa mà người viết không biết.  Với quá nhiều lần phản trắc như vậy, ta có thể nói đặc tính phản trắc của ông Diệm là bẩm sinh và cũng có thể gọi là bản chất. Giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa. Vì khó chừa, cho nên ông Diềm mới có nhiều lần phản trắc như vậy.

Không biết cái bản chất phản trắc này có hiện ra ở chỗ nào trên cơ thể của ông không? Được biết trong truyện Tam Quốc, cái tướng phản trắc của thằng Ngụy Diên hiện ra thành một cái bướu (cục u) ở nửa đầu phía sau, trên gáy của nó.

Nói về thành tích phản trắc của ông Ngô Đình Diệm, sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:

"Thái độ bất trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế,  chả trách nào ông Trần Văn Lý, một nhân sĩ Thiên Chúa Giáo miền Trung còn biết rõ xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên án nhà Ngô là những kẻ mang mười chữ "bất": Bất hiếubất trungbất nhânbất nghĩabất tài,bất tríbất côngbất minhbất tín và bất hòa".

Hơn ai hết, ông Trần Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em nhà Ngô mang mười chữ "bất". Ông Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường, lại là đồng đạo và đồng hương (Trị Thiên), cùng là môn đệ của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong Trào Cường Để;  năm 1945, ông Diệm đã cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947-1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng "Giải Pháp Bảo Đại", cùng chủ trương thể chế "Quân Chủ Lập Hiến". Thời làm Thủ Hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm họat động chính trị. Ngày ông Diệm mới về cầm quyền,  ông Lý bị Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm "Caravelle".[x]
 
"Quân bất hí ngôn." Làm vua hay tổng thống hoặc là nhà lãnh đạo chính quyền phải "nhất ngôn cử đình", "lời nói như dao chém đá", không được nói láo, không được nói chơi,  không được hứa cuội và phản phé với bất cứ người nào. Ấy thế mà ông Ngô Đình Diệm, đường đường là một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam lại nói láo còn hơn cả cuội. Là một tổng thống của một nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến mà  bạ đâu ông cũng hứa cuội, cũng nói láo và cũng phản phé. Không những ông chỉ nói láo, hứa cuội và phản phé với người Việt Nam,  mà ông còn hứa cuội, nói láo và phản phé với cả nhà ngoại giao đại diện cho Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam. Hành động vô liêm sỉ này của ông đã khiến cho ông Đại Sứ Nolting đã phải "chửi đổng". Như vậy là ông Tổng Thống Diệm đã làm nhục quốc thể.
 
Thuộc từ "cuội" và danh từ "thằng Cuội" dành cho ông thiết tưởng rất đúng nhưng vẫn chưa đủ. Đúng là chỉ đúng với cái tíng gian dối hứa cuội và nói láo của ông ta mà thôi. Chưa đủ là vì trong con người ông, còn có không biết bao nhiêu ác tính ghê tởm gấp ngàn lần ác tính hứa cuội và nói láo. Tất cả những ác tính này đều nằm trong 17 ác tính Da-tô mà người viết đã trình bày ở trên, trong đó có ác tính phản trắc, bạo ngược và hiếu sát là ghê tởm nhất. Đối với những tín đồ Da-tô khác,  ác tính phản trắc, hiếu sát và bạo ngược là ác tính Da-tô, nhân tạo, do chính sách ngu dân và giáo dục nhồi của Giáo Hội La Mã tạo nên. Trái lại, riêng về trường hợp ông Ngô Đình Diệm, như đã trình bày ở trên, những ác tính này là bẩm sinh. Chính vì vậy mà ông mang trong người không biết bao nhiêu là thứ "phản": phản thần, phản quốc, phản dân, phản thày, phản chủ, phản bạn,  phản cấp trên, phản những người thuộc cấp. Xin tạm  gọi là "bát phản". Ác tính "phản" của ông còn vượt xa cả ác tính "phản" của nhân vật  Ngụy Diên trong sách Tam Quốc Chí. Vậy thì ta phải gọi ông ta là "Thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm".
 
Đối với Giáo Hội La Mã và xã hội Da-tô, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm được coi là mẫu người lý tưởng  và được suy tôn lên là "nhà chí sĩ yêu nước" và "nhà ái quốc" (của Đế Quốc Vatican). Nhưng đối với xã hội Đông Phương,  thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm này đã được ghi vào lịch sử là "một tên thiên cổ tội nhân" của dân tộc, và các nhà viết sử ở ngoài xã hội Da-tô cũng đã ghi nhận ông ta là một trong số một tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân lọai.
 
Hết Chương 63
Chú thích

[i] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327.
[ii] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.
[iii] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171
[iv] Phạm Hữu Tạo. "Quốc Kỳ Việt Nam." dongduongthoibao.net Tháng 12/2005.
[v] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ,1996), tr 18.
[vi] Xin xem sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 234-326, và phần kết luận ở sau .
[vii] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987), tr. 145.
[viii] Đoàn Thêm, Sđd., tr. 351.
[ix] John Newsman & Trần Ngọc Dung dịch, John F. Kennedy và Chiến Tranh Việt Nam (San Jose, CA: Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1993), tr. 327-329.
[x] Đỗ Mậu, Sđd., tr. 591..

20 August 2011

"Hội chứng bất trị" ở Việt Nam


 Văn Quang, viết từ Saigon  - Chủ Nhật, 14.8.2011 
 
                                                                                                                    
                                       "Hội chứng bất trị" ở Việt Nam

MỘT ĐỘC GIẢ HỎI :
Tôi nghe nói ở Việt Nam bây giờ có những "hội chứng bất trị", gần đây nhất là "hội chứng" tăng lương khiến người dân không mừng mà lại lo rồi đến "hội chứng" nhiều người không muốn tố cáo tham nhũng, vì sao vậy? Còn những thủ đoạn Trung Quốc thu mua sản phẩm của VN khiến nông dân điêu đứng, liệu người VN có "dám tẩy chay" hàng TQ không?

Ông có chịu tác động về những thứ bệnh trầm kha này không? Mong được ông giải thích rõ ràng hơn. Cảm ơn ông.
Trần Thu Hạnh (Cronula)
 

VĂN QUANG TRẢ LỜI :

Xin mượn tạm danh từ "hội chứng" của bạn để trả lời những điều bạn hỏi. Nếu nói như vậy thì còn rất nhiều vấn đề cần phải bàn. Trước hết xin trả lời bạn về cái "nghịch lý" lương tăng nhưng người dân không mừng mà lại lo. Vâng, đó là một sự thật rất thật ở VN hiện nay. Bởi một lẽ rất giản dị là lương chưa tăng thì mọi mặt hàng đã tăng và cứ thế theo đà "tiến lên", ngày nào giá sinh hoạt, giá thực phẩm cũng tăng ào ào, tăng chóng mặt. Tất nhiên là gia đình tôi cũng không thoát ra ngoài cơn bão đó. Phải tìm đến nguyên nhân thì ta có thể nhận ra. Những tháng trước đây, xăng dầu tăng giá 2 lần trong vòng một tháng với tỷ lệ cao cộng với giá điện tăng, kéo theo hàng loạt giá cả nhảy múa theo, được mô tả như một trận sóng thần đánh vào toàn bộ xã hội.

Tại TP.Sài Gòn, giá thực phẩm đã tăng 24% so với cách đây khoảng một năm, tức là hồi tháng 1 năm ngoái. Có lẽ bạn cho đó là "hội chứng bất trị" ở VN hiện nay. Quả là có phần đúng, chính phủ VN đang ra sức kiềm chế lám phát, kiềm chế giá cả nhưng chưa mang lại hiệu quả cụ thể nào. Cần phải có thời gian chăng? Thời gian là bao lâu, chưa ai dám trả lời câu hỏi này.
 
Thêm vào đó các anh thương lái Trung Quốc (TQ) thâm hiểm dùng mọi trò xảo quyệt chen chân vào thị trường VN tranh mua tranh bán làm nền kinh tế VN xáo trộn. Đây là một nguyên nhân không mới, nhưng nay người VN mới nhận diện được rõ ràng hơn. Đó cũng là một vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay. Vậy xin trả lời bạn về vần đề này trước.

 
* Đòn hiểm của "người anh em Trung Quốc"

Một thời gian khá dài vừa qua, trên thị trường Việt Nam, mỗi khi thương lái Trung Quốc tận mua một mặt hàng nào đó, ngay lập tức giá mặt hàng này bị đẩy lên cao, nguồn hàng nhanh chóng trở nên khan hiếm do người dân ra sức thu gom để bán. Điển hình là việc thương lái TQ thu mua gỗ sưa khiến hàng ngàn cây gỗ sưa đã bị đốn không thương tiếc.
 
Sau đó là thu mua cây gỗ trâm, khi đã thác cạn kiệt cây trâm cổ thụ tại cánh rừng khu đông huyện Ba Tơ, các "đầu nậu" chuyển sang khai thác cây trâm cổ thụ (trâm trội, trâm ba lá) có độ tuổi hàng chục năm đến trăm năm tuổi tại một số cánh rừng huyện Minh Long. "Đầu nậu" khai thác kiểu tận diệt, đào bới lấy luôn cả gốc lẫn rễ và bán sang Trung Quốc. Một "đầu nậu" thu mua trâm rừng cho biết: Trâm rừng cổ thụ được thu gom để chở sang Trung Quốc bán, với giá từ 70 - 120 triệu đồng/cây. Khi sang bên đó, họ tiếp tục trồng làm bóng mát và sử dụng trồng ở các đại lộ lớn. Cây trâm là loài cây cực hút nước và giữ nước. Mỗi khi bứng cây trâm thì những cây con xung quanh cũng sẽ chết vì không còn cây trâm giữ nước. Từ đây, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, làm thay đổi dòng chảy. Đặc biệt, việc khai thác những cây ven đường vào mùa mưa bão rất dễ gây sạt lở, ảnh hưởng tai hại đến sinh mạng của người dân.
 
Không chỉ cây lớn, cây củ nhỏ cũng mua, việc thu mua khoai lang khiến rất nhiều gia đình dân chuyển đổi cây trồng từ trồng lúa sang trồng khoai lang, việc đẩy giá thu mua sắn lát, chè, thuỷ sản… khiến nguyên liệu cho các ngành sản xuất, chăn nuôi trong nước trở nên khan hiếm, giá cả đội lên rất cao.
 
Hiện tượng một số mặt hàng như tôm, bạch tuộc, cá biển, mực bị thương lái của TQ thu gom đang trở nên rầm rộ. Những thương lái TQ này có tiềm lực về tài chính, lại thu mua qua đường tiểu ngạch để trốn thuế nên họ sẵn sàng "dốc hầu bao" mua với số lượng lớn. Đại diện một doanh nghiệp thuỷ sản cho hay, tôm của người nông dân bán với giá từ 130.000 đồng đến 170.000 đồng tuỳ loại, các thương lái của Trung Quốc mua cao hơn khoảng 3.000 đồng đến 10.000 đồng mỗi kg song sau đó gắn mác "made in China" để xuất khẩu. Thậm chí tôm còn được biến hoá để cho tròn mình, căng thịt, từ chất lượng loại hai lên loại một.

 
* Cướp bóc tàn bạo có nằm trong chính sách lớn?

Trong khi mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguyên liệu trầm trọng thì hiện tượng thu vét của thương lái Trung Quốc từ miền Trung tới miền Nam càng làm cho ngành thuỷ sản trong nước gặp khó khăn. Ngoài việc Trung Quốc ồ ạt thu gom thuỷ sản, những vùng biển khai thác hiện cũng thiếu an toàn cho việc khai thác nên sản lượng càng giảm sút. Ngư dân VN thường bị tàu TQ săn đuổi, cướp bóc nên cứ thấy bóng "tàu lạ" là giương buồm chạy trối chết. Vậy mà nhiều lần vẫn không thoát. Chúng ngang nhiên dùng vũ khí tấn công, lấy hết tài sản rồi biến mất. Không thể gọi chúng đơn thuần là bọn cướp biển, phải coi đó là một "chủ trương, chính sách" hẳn hoi. Kết hợp những thủ đoạn như đã kể trên lại có thể khẳng định đó là một thứ chính sách ngầm, một kiểu phá hoại tàn bạo nhưng cứ như là "riêng lẻ" của bọn thổ phỉ, nhà nước của họ không hề hay biết gì hết và vẫn… muốn giữ gìn an ninh, bảo vệ "bốn chữ vàng" (!).

Kiểu chơi đòn ngầm này quả là thâm độc. Đúng với đường lối ngoại giao của "người bạn bốn tốt", miệng thì Nam Mô, bụng một bồ dao găm.

 
* Mua từ cái hột vịt đến con gà, đến trái vải. Một bác nông dân kể về tình trạng, thương lái Trung Quốc đang mua gà, vịt và trứng với số lượng lớn ở khu vực miền Tây Nam Bộ. Ông cho biết, hằng ngày họ giết mổ cả ngàn con gây ô nhiễm nghiêm trọng và làm cho giá gà ,vịt bị đẩy lên khá cao.
 
Thậm chí người Trung Quốc còn thuê đất để sản xuất tại chỗ, sau đó xuất sang nước mình. Do thấy bán cho nước bạn thu được nhiều lời nên bà con ồ ạt bán và cũng đang nhân giống nuôi với số lượng lớn. Ông này đặt dấu hỏi: sau này, nếu họ bỏ đi không thu mua nữa thì bà con sẽ xoay xở ra sao với số gia cầm đang nuôi chờ lớn? Người nông dân sẽ thất thu vì số gia cầm đang độ tuổi sinh đẻ đã bán sạch. Nông dân lại ôm đàn gia cầm ngồi khóc.

Gần đây nhất là việc thu gom vải thiều ở miền bắc. Các bác nhà vườn cứ tưởng là bán cho thương lái Trung Quốc là được giá cao, nhưng họ đâu biết rằng phần lớn số vải thiều đó sau khi qua Trung Quốc sẽ được cắt cành, đóng gói và xuất sang Nhật. Tại siêu thị Nhật, 7-8 quả vải thiều được bán với giá xấp xỉ tương đương hơn 100 ngàn đồng, trong khi 1 kg mua tại vườn chỉ 18-20 ngàn đồng! Việc không bán cho doanh nghiệp Việt Nam để làm hàng Xuất khẩu chính ngạch đã làm thiệt hại rất lớn, hơn nữa lại mất thương hiệu vải thiều nổi tiếng vì tất cả vải thiều được bán tại siêu thị Nhật đều "made in china".
Như thế là chúng nhằm cả đến những người nông dân nghèo khổ càng làm suy yếu trầm trọng nền kinh tế VN.
 
Về phía người dân thì cứ phải "thất lưng buộc bụng" thêm vì nhà nước dường như bó tay trong việc phòng chống gian lận, buôn lậu, đầu cơ, tích trữ, đẩy giá lên cao, tạo cơn số ảo được xem là những "căn bệnh bất trị". Đó chính là mối lo lớn cho người dân trong những này này và những ngày sắp tới. Nếu không có giải pháp cứu nguy ngay thì tình hình càng xáo trộn và giá cả sẽ không bao giờ ổn định được.

 
* Phải kiên quyết xoá cái bóng lớn của Trung Quốc

Bà Phạm Chi Lan, là một chuyên gia kinh tế của Việt Nam, đồng thời cũng từng là Tổng Thư ký và Phó Chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nhân viên của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, bà nói: "Thực sự đây là một điều đau. Điều này cũng đã được các chuyên gia cảnh báo từ khá lâu. Nhất là từ khi chúng ta tham gia WTO và nhập siêu vọt lên trở thành vấn đề đáng quan tâm như hiện nay thì càng ngày thấy rõ bóng quá lớn của Trung Quốc trong việc nhập khẩu nói chung của Việt Nam và nhập khẩu từ Trung Quốc nói riêng. Tôi nghĩ rằng, chúng ta đang mất "cảnh giác" khi để tình hình diễn biến đến như hiện nay." Và: "Chúng ta đã có được quan hệ kinh tế càng ngày càng phát triển khá tốt đẹp với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu… Nếu chúng ta tập trung vào làm tốt hơn để cân bằng với họ thì sẽ giảm rất đáng kể sức ép từ Trung Quốc, sự lệ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc."
 
Bà Lan cũng xác nhận: "Hiện nay, các dự án lớn của Việt Nam có đến 90% là do Trung Quốc thực hiện". Bà kêu gọi các tập đoàn thay đổi đi, các doanh nghiệp thay đổi đi, tính toán kỹ càng lại đi thì thấy có nhiều dự án có thể đưa ra cho các đối tác khác làm và một phần cho chính người Việt Nam mình làm cho trưởng thành lên. Chứ không phải tất cả giao cho Trung Quốc như vậy."
 
Chúng ta có thể hiểu vì "mất cảnh giác" nên đã để cho người bạn láng giềng tung hoành ngang dọc trên thị trường và ngay cả đến các dự án lớn cũng nằm trong tay họ, hơn thế người bạn "bốn tốt" ngày càng để lộ rõ bộ mặt thâm hiểm "xỏ lá kềnh" trong mọi ngõ ngách, mọi tầng lớp xã hội tìm mọi cách buộc dân VN luôn lệ thuộc vào họ. Hơn bao giờ hết, người VN cần đề phòng mọi hoạt động của người bạn láng giềng này. Mặc cho họ huyênh hoang, đe doạ nay tăng cường hạm đội, mai tập trận sát biên giới rồi tung tin đồn sẽ đánh VN bằng mọi lực lượng "tối tân" nhất. Nhe nanh múa vuốt nhưng có dám làm hay không lại là chuyện khác và có làm được hay không lại là chuyện khác hơn nữa. Là Người VN dù ở bất cứ đâu cũng thừa ý chí, thừa quyết tâm bảo vệ đất nước, dù một tấc đất cũng không nhường cho bọn bành trướng xâm lược. Bên cạnh VN, còn cả thế giới văn minh sẵn sàng ủng hộ. TQ cứ thử làm xem họ nhận lại được hậu quả như thế nào.

 
* Có cần tẩy chay hàng TQ không?
 
Thưa bạn,
Một cuộc thăm dò trên mạng mới đây ở Philippines cho thấy hơn 70% trong số 31.000 người được hỏi ủng hộ những lời kêu gọi tẩy chay hàng hoá Trung Quốc. Những tranh cãi chủ quyền ở biển Đông giữa Manila và Bắc Kinh 2 tháng qua đã khơi dậy tinh thần chống Trung Quốc (TQ) ở Philippines, trong đó có những lời kêu gọi tẩy chay hàng hoá nước này. Một cuộc thăm dò tương tự trên đài truyền hình cho thấy một tỉ lệ ủng hộ còn cao hơn thế.
 
Còn ở VN tinh thần này cũng tương tự, không cần một cuộc thăm dò nào. Nhưng hơi khác là về điều này ở VN dường như không ai cần bàn tới. Bởi đã từ lâu rồi hàng hoá TQ đều bị chê là hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Bạn tặng một người nào đó món hàng mang nhãn hiệu "made in China" đều bị coi thường. Đến bất cứ siêu thị nào, bất cứ cửa hàng bán sỉ bán lẻ nào, nhãn hiệu TQ đều bị loại ra ngoài. Không nói đến dân sành điệu, các cô gái quê chính hiệu, các nam nữ công nhân cũng chẳng bao giờ dùng hàng TQ. Dân sành điệu chọn hàng hiệu, hàng không đụng hàng, hàng độc của Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… Người bình dân chọn hàng Việt có nhãn mác, cùng lắm là hàng sida, thà là không có nhãn hiệu chứ dính vào hàng TQ là lắc đầu. Trong các gia đình VN cũng vậy, từ tủ lạnh, máy truyền hình, nồi niêu xoong chảo, quần áo trẻ con, hầu như không còn bóng dáng bất kỳ món hàng TQ nào. Cho nên tự nó giết nó, khỏi cần tẩy chay. Tuy nhiên người VN vẫn cứ phải đề phòng những trò gian lận ma mãnh của mấy anh chuyên làm hàng giả. Hàng Tây hoá hàng Tàu, vỏ Nhật ruột TQ. Cái thứ đó không thiếu ở thị trường VN hiện nay.
 
Còn một số vần đề tế nhị khác như "hội chứng tăng lương dân không mừng mà lại lo", "tại sao lại có nhiều người dân không muốn tố cáo tham nhũng"... Vì phạm vi bài này quá dài, tôi chưa thể đi vào chi tiết, xin bàn luận với bạn đọc vào một kỳ khác.


Văn Quang

ĐÂU LÀ SỰ THẬT?

ĐÂU LÀ SỰ THẬT?
 
Đặng Xuân Khánh


Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).

Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như "chế độ khát máu Mỹ-Diệm", "miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp", "đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào", "ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ", "giải phóng miền Nam" v.v…
Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã hiểu biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền học tập trong nhà trường. Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để "giải phóng miền Nam" thoát khỏi sự "kìm kẹp của Mỹ, Ngụy" v.v giải thích giùm:

1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian ông HCM lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho "Mỹ – Diệm kìm kẹp" mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi. Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của ông HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho "Mỹ – Diệm kìm kẹp"? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà ???

2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội "giải phóng" thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội "giải phóng"? Nếu dân miền Nam bị "Mỹ, Ngụy kìm kẹp", cần phải được "giải phóng", thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các "đồng chí bộ đội", tay bắt mặt mừng và cám ơn "được giải phóng" mới phải , chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các "đồng chí" ấy? Đua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị "kìm kẹp", không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị "Mỹ, Ngụy kìm kẹp" chứ không muốn được "giải phóng" à?

3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, "bộ đội giải phóng" chiếm toàn bộ miền Nam , đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt vượt biên trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Đông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Đỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan? Chúng tôi là học sinh trên ghế nhà trường XHCN đã được học tập là "Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam", nào là "bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu", nào là "ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai"… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với ông Diệm hay ông Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày "Giải phóng" 30/4/1975 – 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền Nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên? Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam "giải phóng", lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại ùn ùn kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không?

4. Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Đảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN "tươi đẹp"?
N ăm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Đài Loan , Singapore , Đại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam đổi đời??? Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam??? Tại sao như vậy?

5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để "bám gót đế quốc", là "rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương", là "thành phần phản động", là "những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn của Mỹ " như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dặm"? Có đúng họ "yêu nước" không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, "Mặt trận Giải phóng Miền Nam" thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu "đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước". Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi TT Ngô Đình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá… Mỹ chỉ bắt đầu đưa quân đội vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết ông Ngô Đình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960 ???

7. Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ? Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì? _ Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

8. Tại sao Liên Xô và các nước Đông Âu được gọi là thể chế chính trị XHCN ưu việt nhất thời đại lại tự sụp đổ tan tành ? _ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn về đời sống kinh tế ? _ Tại sao nước ta không tiếp tục phát triển lên con đường XHCN mà ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?

9. Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch? Mà không đi du học ở các nước CS? v.v…


Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của CS đều trở thành vô nghĩa bởi sự thực đã quá hiển nhiên không thể công khai nhìn nhận. CS không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc nội chiến cho một sai lầm. CS xóa bỏ giai cấp , cào bằng , cho tư bản là bốc lột , giẩy chết rồi bây giờ quay lại xây dựng nền kinh tế thị trường của tư bản ?!!! kêu gọi các nước tư bản đầu tư , xây dựng nền kinh tế thị trường , phải làm lại từ đầu./.


Đặng Xuân Khánh

19 August 2011

Cái Thâm của Chệt Cộng, Cái Ngu của Việt Cộng

Cái Thâm của Chệt Cộng, Cái Ngu của Việt Cộng
Trần Hồng Tâm
 

1.   Người bơi vượt sông Dương Tử

Vào những năm cuối của thập kỷ 60, lũ trẻ trên dưới mười tuổi ở miền Bắc chúng tôi đều được kết nạp vào Ðội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh. Mỗi tuần có giờ sinh hoạt, do các anh chị đoàn viên thanh niên phụ trách. Nội dung thường là nói về công ơn trời biển mà Ðảng và Bác đã mang lại cho tuổi thơ, nói về những nỗi thống khổ của trẻ em miền Nam đang phải quằn quại, đớn đau duới gót giầy đinh của bọn Mỹ- Ngụy, nói về tinh thần chiến đấu kiên cường của miền Nam – Thành đồng của tổ quốc, v.v.

Tuy vậy, những câu chuyện khô khan, lặp đi lặp lại, mang đậm tính tuyên truyền thường không mấy lọt tai bọn trẻ trâu tinh nghịch, ngoại trừ những bài hát, bài đồng dao có vần có điệu. Tôi nhớ có "Bài ca Hữu Nghị", không biết ai là tác giả, nhưng đến giờ còn thuộc:

"Việt Nam Trung Hoa
Núi liền núi, sông liền sông
Chung một biển Ðông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông.
Chung sông, tắm cùng một dòng, anh nhìn sang đấy, tôi nhìn sang đây
Sớm sớm nghe tiếng gà gáy trưa …"
Lời kết cũng là điệp khúc của bài hát:
"Chung một ý, chung một lòng
Ðường ta đi màu cờ hồng cách mạng
Nhân dân ta ca Hồ Chí Minh Mao Trạch Ðông"

Bọn trẻ tuy tiều tụy, gầy ốm, còi xương, suy dinh dưỡng, những vẫn gân cổ lên gào đến vỡ thanh quản điệp khúc:

"Hồ Chí Minh Mao Trạch Ðông

Ðêm đêm, chúng tôi hát, hát say mê, hát cuồng nhiệt như những người lên đồng, hát trang trọng, thành kính và sùng bái như những người hát thánh ca.

http://www.danchimviet.info/archives/40374/maoswimming
Cùng Mao chủ tịch bơi qua sông. Ảnh Google

Sau bài hát các anh chị phụ trách kể những câu chuyện rất li kỳ về Bác Hồ – Vị cha già dân tộc, và về Bác Mao – Người cầm lái vĩ đại. Trong đó, câu chuyện Mao chủ tịch bơi vượt sông đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến tụi trẻ nhà quê chúng tôi. Chuyện kể rằng, vào ngày 16 tháng 7 năm 1966, mặc dù Bác Mao đã ở tuổi 73, nhưng Bác đã bơi 15 km chỉ trong vòng 65 phút, vượt qua sông Dương Tử, dòng sông hùng vĩ nhất Á châu. Bằng một ý chí phi thường Mao chủ tịch đã chống chọi với sóng gió, khống chế được dòng nước chảy; bằng một sức khoẻ vô song, Mao chủ tịch đã làm chủ được thiên nhiên; bằng một kỹ thuật bơi điêu luyện, Mao chủ tịch đã thiết lập lên một kỷ lục bơi lội mới, bỏ xa những tay bơi đường dài hàng đầu của thế giới.

Rồi những câu chuyện về những thành tựu vĩ đại của nền kinh tế Trung Quốc qua những chiến dịch "Ðại nhảy vọt" "Diệt chim sẻ" hay "Luyện thép" do Mao chủ tịch khởi xướng.  Người dân miền Bắc khi đó từ cụ già đến trẻ con đều được bảo rằng: "Trung Quốc là hậu phương bao la của Việt nam, với dân số 700 triệu, chỉ cần mỗi người nhịn một bữa, là đủ lương thực 1 năm cho Việt nam. Thế nên chúng ta không sợ đói, cứ yên tâm mà đánh Mỹ, đánh cho đến ngày thắng lợi, dù còn một người cũng đánh."

Lũ trẻ nhà quê chúng tôi khi nghe chuyện, chỉ còn biết há hốc miệng ra, nuốt lấy từng lời, thán phục, nguyện theo gương của Bác Mao, học tập Bác Mao, coi hiểm nguy chỉ là những trò chơi, nhìn bom rơi trên đầu cũng giống như những trái bàng chín rụng, đi vào chốn nguy hiểm mà như đi trẩy hội.

2.   Tinh Thần Quốc Tế Cao Cả

Khi hiệp định Paris đã có hiệu lực, bom không còn rơi trên miền Bắc nữa. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng, miền Bắc thực sự bắt tay vào công cuộc xây dựng XHCH. Tất nhiên Trung quốc "vừa là đồng chí, vừa là anh em" đã đi đầu trong việc giúp đỡ miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Các chuyên gia Trung quốc mang trong mình một tinh thần quốc tế cao cả được gởi qua để giúp chúng ta xây dựng nhà máy, cầu đường, trường học. Trong đó có nhà máy sứ Hải dương sẽ được xây dựng đúng theo khuôn mẫu của nhà máy sứ Giang Tây nổi tiếng của Trung Quốc. Nhưng lạ thay, những sản phẩm của nhà máy như là chén, bát, tô, đĩa, ấm, chuyên, tách, đều bị móp méo, đậy vung không kín, bán chẳng ai mua, cho không ai lấy, làm sao có thể cạnh tranh nổi với đồ sứ Trung quốc.

Mãi về sau, người ta mới phát hiện rằng nhà máy đã được xây dựng quá gần với đường xe lửa. Mỗi khi đoàn tàu chạy qua, những lò nung bị rung chuyển, dẫn đến những sản phầm đang nung bị móp méo, cong vênh. Việt Nam bị người đồng chí, người anh em Trung Hoa chơi cho một vố đau, đau như hoạn, đắng như ngậm bồ hòn mà vẫn phải khen là hữu nghị.

Ðầu năm 1974, nhà máy nhiệt điện Ninh Bình khánh thành. Ðây là biểu tượng cao cả của tình hữu nghị Việt – Trung. Khi nhà máy vận hành được một thời gian ngắn, thì người ta mới té ngửa ra rằng toàn bộ thị xã Ninh bình, và những vùng phụ cận ngập chìm trong bụi than mờ mịt suốt cả ngày đêm, kéo dài rất nhiều năm, không có phương cách nào cứu chữa. Dân cư trong vùng nghẹt thở, oán thán vô cùng.

Thêm nữa, nhà máy như một cái thùng không đáy, ngốn một lượng than đá khổng lồ mỗi ngày, lại quá xa nguồn cung ứng. Than phải vận chuyển từ Hòn Gai, Cẩm Phả tới Ninh Bình bằng cả đường sông và đường bộ rất tốn kém, làm giá thành rất cao. Rồi, than cháy không hết, thải ra một lượng than cám khổng lồ, đổ đi thì tiếc, bán mấy ai mua, qúa lãng phí nhiên liệu.

Mãi sau này, người ta mới biết rằng đây là một nhà máy đã quá cũ, công nghệ quá lạc hậu, lẽ ra nó phải được tháo bỏ để bán ve chai, nhưng Trung Quốc đã chuyển qua giúp Việt Nam duới danh nghĩa tinh thần quốc tế vô sản cao quý.  Song tất cả những điều bất cập trên, chẳng nghĩa lý gì so với sự tàn phá một thắng cảnh thiên nhiên quý hiếm của Viêt Nam.

Phía Tây Nam của thị xã Ninh Bình có một dải núi đá vôi tuyệt đẹp mang tên Ngọc Mỹ Nhân (còn có tên là núi Cánh Diều). Dải núi mang hình dáng của một người đàn bà đang nằm trong tư thế sản khoa, đầu ngả về hướng Phát Diệm, mặt hướng ra biển Ðông, hai chân mở rộng đạp lên Trường sơn, tóc xõa, ngực trần, lõa lồ, khêu gợi giữa cánh đồng lúa vàng bát ngát bao quanh. Một danh lam tuyệt hảo trong quần thể Non Nước, Ninh Bình.

Nhưng than ôi, cái nhà máy xấu xí, cũ kĩ đã được xây dựng đúng vào chỗ cửa mình của Ngọc Mỹ Nhân. Chiếc ống khói khốn kiếp nhìn giống như một dương vật cương cứng chọc thẳng lên trời. Tóc bị cắt trụi, ngực san bằng, chân chặt cụt.  Những hang động đá vôi đã được thiên nhiên ngàn năm kiến tạo cũng bị tàn phá tan hoang.

Người dân trong vùng còn đồn rằng mượn cớ xây dựng nhà máy, Trung Quốc đã lấy đi rất nhiều vàng bạc châu báu mà nghĩa quân Tây Sơn cất giấu trong những hang động trên đường ra Bắc vào Nam.

3.   Những cấm thành bị sạt lở

Cuối thập kỷ 70, những cấm thành tưỏng chừng vô cùng kiên cố, nay bỗng bị sạt lở bởi những cơn địa chấn chính trị Việt –Trung, làm lộ ra một phần sự thực hào nhoáng của mối tình "Vừa là đồng chí, vừa là anh em". Cả hai bên thi nhau chửi rủa, bôi nhọ, tố cáo, thề nguyền, răn đe. Trung Quốc chửi lãnh đạo Việt Nam là những tên "tiểu bá", "vừa chiếm được miền Nam, đã vội xưng Ðế xưng Vương"; "những tên vô ơn bạc nghĩa"; "ăn cháo đá bát" "lũ du côn của phương Ðông"  và răn đe rằng " ai tốt với Trung Quốc 1, Trung Quốc sẽ tốt lại 10, ai đểu với Trung Quốc 1, Trung Quốc sẽ đểu lại 100", và thề sẽ "dạy cho Việt Nam một bài học".

Ngược lại Việt Nam thì chửi Trung Quốc là "bọn bành trướng bá quyền" "bọn Maoist và chủ nghĩa Mao"; "bọn cực đoan đại Hán" "chủ nghĩa chauvin nước lớn"; "chủ nghĩa hai con mèo" "kẻ phản bội chủ nghĩa xã hội" "bọn diệt chủng" "bè lũ 4 người" "đánh Mỹ trên lưng người Việt", "âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài", "kẻ thù truyền kiếp của chúng ta"….

Mọi chi tiết được khai thác và sử dụng như là những bằng chứng để buộc tội đối phương.

Khi đó tôi đang là sinh viên trong một trường Ðại học ở Hà Nội. Cán bộ tuyên huấn xuống tận từng chi đoàn, từng lớp, phổ biến các tài liệu về tội ác của Mao.  Trên dưới 40 triệu người Trung Hoa đã bị giết trong "Cách mạng văn hóa". Mao đã bí mật thủ tiêu hoặc đày đoạ Lâm Bưu, Bành Ðức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ. Do những chính sách sai lầm của các chiến dịch "Ðại nhảy vọt", "Diệt chim sẻ", "Luyện thép" của Mao, mà hàng chục triệu người chết đói vào những năm đầu thập kỷ 60. Tất nhiên, sự kiện Mao 73 tuổi,  bơi 15 cây số trong vòng 65 phút vượt qua sông Dương Tử  ở Vũ Hán vào ngày 16 tháng 7 năm 1966 cũng được phơi bày.  Sự thực, Mao chỉ nhảy xuống nước ở điểm xuất phát, trình diễn mấy màn bơi, hướng dẫn cho một phụ nữ cách bơi ngửa, rồi kín đáo lẻn chui vào trong khoang kín một chiếc tầu đã được ngụy trang cẩn thận, đậu gần đó. Tầu từ từ tiến đến đích, cách đích vài thước, Mao tụt xuống nước trình diễn màn bơi ngửa, bơi bướm, bơi tự do, trong tiếng hò reo như sấm dậy của đám hồng vệ binh.

Toàn bộ màn ảo thuật bơi vượt sông Dương Tử của Mao đã lọt vào mắt của một nhà báo người Cuba. Giờ đây Việt Nam phơi bày ra những bằng chứng về sự vĩ cuồng và dối trá, đê tiện và độc ác của Mao. Có người còn so sánh Mao với Hitler hoặc Pol Pot.

Khi nghe xong chuyện, tôi bàng hoàng, chua chát nhận ra rằng tuổi thơ của tôi đã lớn lên trong dối trá, học hành trong dối trá, nói viết ra điều gì cũng toàn dối trá. Tôi chỉ còn biết ngửa mặt lên trời mà than hỡi những nhà đạo đức học, có gì mất đạo đức hơn khi một người thầy biết đó là những điểu dối trá, mà vẫn dạy cho học trò của mình, và tôi cũng tự hỏi tại sao Mao được so sánh với Hitler, Pol Pot mà Ðảng ta lại làm ngơ để cho người ta xếp Hồ Chí Minh đồng nghĩa với Mao Trạch Ðông trong điệp khúc của bài hát trên. Lẽ nào Bác Hồ lại ngang hàng với Hitler, Pol Pot.
 
http://www.danchimviet.info/archives/40374/lang_son_1979_a_-2
Lạng Sơn 1979. Ảnh Google

Ðến đầu năm 1979, mối tình Việt Nam – Trung Hoa đã lên đến điểm đỉnh của sự hờn căm. Những cuộc tắm máu đã diễn ra ở cả hai đầu đất nước. Những thanh niên nuớc Việt thế hệ của tôi, tưởng rằng thoát vòng bom đạn, nào ngờ vẫn bị ném vào lò lửa chiến tranh. Lần này không phải để chiến đấu chống bọn Ðế quốc Thực dân xâm lược, mà chiến đấu chống lại người "vừa là đồng chí, vừa là anh em", mà suốt tuổi thơ của chúng tôi được học, được ngợi ca, được tôn thờ, được yêu thương, được quý mến.

Trước khi lên đường ra trận, tôi có ghé thăm vị giáo sư già đã nghỉ hưu tại một căn nhà khiêm tốn trên đường Tăng Bạt Hổ, Hà Nội.  Ông bảo: "thế hệ của tôi may mắn hơn thế hệ của các em rất nhiều". Tôi chưa kịp hiểu, thì ông giải thích rằng khi ông tốt nghiệp Ðai học năm 1929, lương của ông là 120 đồng một tháng. Ông mua con gà hết 5 xu, nhưng còn bán được 2 xu lông. Khi tiễn tôi ra cổng, ông bảo, chủ nghĩa cộng sản là một tai họa cho dân tộc. Nhưng thà đi theo cộng sản Liên Xô, cũng vạn lần khá hơn cộng sản Trung Quốc. Ðây là một lựa chọn đúng của người lãnh đạo đất nước.

Hình như nhận định của ông cũng cùng với nhận định của nhiều người khác, kể cả những đảng viên. Những người có dịp đi học, hoặc làm việc với chuyên gia Liên Xô đều nhận thấy họ dễ chịu, thông thoáng, thành thật, và khoa học hơn. Còn những chính sách của Trung Quốc với Việt Nam thường thủ đoạn, áp đặt, hẹp hòi, thâm thù, xăm xoi, bần tiện, ganh tỵ, xỏ xiên, tham lam, đểu cáng, và ngụy biện.

Chuyện kể của ngài cựu thứ trưởng và bài báo của ông Tống Văn Công

Cách đây vài năm, tôi đến thăm gia đình một người quen, tình cờ gặp một người đàn ông đã lớn tuổi, nhìn vẫn khoẻ mạnh, có lối nói chuyện sắc sảo, pha chút khôi hài. Ông tự giới thiệu là Việt kiều Mỹ, và đã từng giữ chức thứ trưởng của một bộ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Trong cuộc trò chuyện tào lao bữa đó, ông có kể vào khoảng những năm 1979, 1980, khi ông và gia đình đã định cư tại San Jose, California, thì người của Ðại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ đã nhiều lần đến thuyết phục ông đứng ra kêu gọi, tổ chức kháng chiến. Trung Quốc hứa sẽ cung cấp lâu dài, toàn diện như là vũ khí, tài chánh, hậu cần, căn cứ địa, chiến khu cho đến ngày thắng lợi.

Tháng 6 năm 2011, tôi đọc bài báo "Ngẫu nhiên Bình Minh 2" của ông Tống Văn Công. Trong đó tác giả nhắc lại câu chuyện xảy ra vào lúc 8:40 sáng 30 tháng 4 năm 1975 tại dinh Ðộc lập đại ý rằng Tướng Vanuxem, người Pháp, đã nói với bạn thân ông ta bấy giờ là tướng Dương Văn Minh rằng:

"Bắc Kinh sẵn sàng có hành động quân sự để cứu lấy Việt Nam Cộng hòa khỏi rơi vào tay quân đội Bắc Việt. Ông là sứ giả mật của Bắc Kinh. Nếu Tổng thống Minh đồng ý cứ lên truyền hình kêu gọi quốc tế can thiệp, vì quân đội Bắc Việt đã xé hiệp định Pari, lập tức Bắc Kinh sẽ đổ bộ vào Việt Nam".

Khi nghe câu chuyện của vị cựu thứ trưởng, tôi không tin, cho rằng ông này chỉ nổ cho vui, chớ không đời nào Trung Quốc dám muối mặt dùng Việt Nam Cộng Hòa  để bóp cổ thằng em "môi hở răng lạnh" của mình là Ðảng Công Sản Việt Nam. Nhưng nếu xâu chuỗi những sự kiện, bình tĩnh mà suy ngẫm, thì tôi tin câu chuyện của ngài cựu thứ trưởng Việt Nam Cộng Hòa và sự kiện mà nhà báo Tống Văn Công nêu trên là hoàn toàn có cơ sở. Bởi vì Trung Quốc không bao giờ muốn nhìn thấy có một Việt Nam thống nhất,  vững mạnh, và đoàn kết.

4.   Những giọt nước mắt

Người ta đồn rằng, trong khi đi thị sát công trường xây dựng nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, ngồi từ trên máy bay trực thăng nhìn xuống Ngọc Mỹ Nhân, thủ tướng Phạm Văn Ðồng đã khóc. Ông khóc cho mái tóc dài quyến rũ của Nàng đã bị cắt cụt. Ông khóc cho cặp vú to, căng tròn khêu gợi của Nàng đã bị san bằng như ngực đàn ông. Ông khóc cho cặp chân dài thon thả của nàng đã bị chặt cụt. Ông khóc cho âm đạo của Nàng đã bị phá tan hoang, và gắn vào đó là một chiếc ống khói xấu xi.

Gần 4 thập kỷ đã qua, nhưng dấu vết của một sự tàn phá vẫn còn. Những người đã từng biết Ngọc Mỹ Nhân trước năm 1974, không ai có thể nhận ra Nàng nữa. Nàng đã bị các tay phẫu thuật lang băm ngưởi Trung Hoa cho chuyển giới tính. Giờ đây nhìn Nàng giống như một gã đàn ông dị hợm nằm tô hô giữa cánh đồng, với chiếc dương vật cương cứng dựng ngược lên trời.

Tháng 2 năm 1979, thị xã Lạng Sơn quê hương của nàng Tô Thị, bị người Trung Quốc tràn qua hủy diệt. Một cuộc hủy diệt của những kẻ phi nhân tính. Tàn bạo đến mức không ai có thể tàn bạo hơn. Dường như không còn một sinh vật nào sống sót nổi. Không một ngôi nhà nào còn đứng vững. Không một viên gạch nào mà không bị vỡ. Không một viên đá lát đường nào mà không bị lật tung.

Khi nhìn Lạng Sơn đổ nát, điêu tàn hẳn rằng ông Phạm Văn Ðồng lại khóc như ông đã từng khóc cho Ngọc Mỹ Nhân năm năm về trước. Thế mà những giọt nước mắt trên gò má ông chưa kịp ráo, Ông đã vội vàng cùng với các đồng chí của ông: Nguyễn Văn Linh và Ðỗ Mười lén lút vụng trộm đi Thành Ðô, để bắt tay, ôm hôn, tiệc tùng, thắm thiết với kẻ đã gây ra bao nhiêu thương đau tang tóc cho đất nước ông.

Tổng số đất trên biên giới phía Bắc đã mất vào tay người Trung Quốc gần đây là tương đương với diện tích của tỉnh Thái Bình. Nói cách khác, Trung Quốc đã nuốt trọn một tỉnh của Viêt nam, mà không tốn một viên đạn. Khi biết tin này, dưới suối vàng, hẳn rằng ông Phạm Văn Ðồng cũng khóc. Nhưng nước mắt của ông cũng không thể rửa hết được những lỗi lầm mà ông và Ðảng của ông đang gây ra cho dân tộc Việt nam.

Mới 20 năm thôn tình, kể từ sau cuộc gặp gỡ Thành Ðô, vậy mà xã hội Việt Nam hôm nay đã mang đủ dáng dấp của một xã hội thuộc địa đậm mùi, màu Trung Quốc. Rồi đây những nhà chép sử chân chính sẽ không ngần ngại xếp những người lãnh đạo của ÐCSVN thời kỳ hậu Lê Duẩn là "những kẻ cõng rắn cắn gà nhà".

Ba ông Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Văn Linh và Ðỗ Mười chắc chắn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc./.


Trần Hồng Tâm

Ẩn số im lặng của Sài Gòn

Ẩn số im lặng của Sài Gòn

Phan Nguyễn Việt Đăng, viết riêng cho RFA từ Sài Gòn-2011-08-16
Vì sao Sài Gòn không diễn ra biểu tình? Người Sài Gòn đã mệt mỏi với lòng yêu nước bị chà đạp hay sự im lặng đó là một ẩn số đáng chờ đợi?

Công an và rào chắn tại công viên Thống Nhất, TPHCM, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011.

Hà Nội ngày càng sôi động và đa dạng hơn qua các cuộc biểu tình yêu nước. Đến lần biểu tình thứ 10, người ta nhìn các nhân tố mới, cũng như nhiều tư duy đáng ngưỡng mộ của người xuống đường như phản đối sự xâm nhập trái phép của lao động Trung Quốc, vinh danh những tử sĩ ở Hoàng sa 1974 và 1988... Nhưng Sài Gòn, thì vẫn im lặng.

Mỗi buổi sáng chủ nhật, giới an ninh mật vụ vẫn kiên trì giăng bẫy, vẫn hậm hực rà soát quanh Nhà thờ Đức Bà, công viên 23-9.., nhưng gần như không có kết quả gì từ nhiều tuần. Người Sài Gòn đã mệt mỏi với lòng yêu nước bị chà đạp hay sự im lặng đó là một ẩn số đáng chờ đợi?

Đối phó với an ninh

Có thể nói rằng, im lặng và chờ đợi là một trong những phương thức đấu tranh quan trọng mà chính các cán bộ "lão thành" của giới sinh viên xuống đường trước năm 1975 cũng nhìn nhận khi quan sát tình hình. "Sài Gòn như trái bom hẹn giờ, rất khó đoán, đó là lý do vì sao công an luôn thấp thỏm và chưa bao giờ an tâm vì sự yên ắng tạm thời này", một cựu cán bộ dân vận trước năm 1975, giấu tên, bình luận như vậy.

Im lặng và nhẫn nại không lộ diện
lúc này, được coi là một trrong những đối sách của người yêu nước ở Sài Gòn để tránh các phương thức bắt nóng, bắt nguội và chụp mũ của công an. Cảm nhận được sức nóng của những đợt trấn áp mới, từ trước và sau khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tái nhận chức, người Sài Gòn như lùi lại quan sát để nghe ngóng thêm tình hình. Sài Gòn được coi là điểm nóng quan trọng, chứa đựng nhiều thành phần hết sức có kinh nghiệm dân vận, đấu tranh, biểu tình, tổ chức...v.v từ những năm 50-60. Do đó, để yên tâm triệt tiêu mọi tiếng nói và làn sóng tư tưởng khác biệt, Sài Gòn sẽ là nơi dễ bị ngành an ninh dày xéo nhất.

"Lịch sử xuống đường của Sài Gòn luôn là sự chọn đúng thời điểm và là điểm nhấn lớn, kéo theo mọi nơi khác tham gia", người cựu cán bộ dân vận nói trên bình luận. Mượn một câu nói của Hồ Chí Minh, nhân vật này nói một cách hóm hỉnh "Sài Gòn đi trước, về sau".

sg2-250.jpg

Tại các ngã tư đường, đặc biệt tại trước Nhà Văn hóa Thanh niên, nhất là tại khu vực Hồ Con Rùa, rất đông công an vào mỗi sáng chủ nhật, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011.

Phương thức trấn áp người yêu nước của giới an ninh mật vụ tại Sài Gòn như lôi kéo, bắt cóc mang đi công khai giữa đường phố... để làm hài lòng các bản báo cáo từ Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc, đã chựng lại trước sự phản ứng mạnh mẽ từ Hà Nội sau vụ công an Minh đạp vào mặt anh Nguyễn Trí Đức. Đổi vào đó, theo các cuộc họp phổ biến nghiệp vụ của công an ở Sài Gòn, 3 phương pháp chủ yếu sẽ là bắt nóng, bắt nguội và chụp mũ.

Bắt nóng, tức là công an mật vụ quan sát tìm những hạt nhân trong đoàn biểu tình, hoặc khiêu khích, hoặc chờ thời cơ đứng xa đám đông sẽ bắt đi, thẩm vấn và kết tội lãnh đạo biểu tình, sách động.

Bắt nguội, là tìm đến từng gia đình, từng nơi cư trú của người biểu tình bị nhận diện. Sách nhiễu, hành hạ bằng cách mời, triệu tập liên tục, tìm cớ để họ không sống yên ổn để từ đó mệt mỏi không tham gia biểu tình.

Chụp mũ, là kết tội đi biểu tình do nhận tiền nước ngoài. Hoặc do là thành viên Đảng Việt Tân hoặc phản động nói chung. Bất kỳ ai khi bị bắt, nếu có liên lạc với người thân hay bạn bè ở nước ngoài đều bị chụp mũ nhận tiền để biểu tình phá hoại. Nếu có liên lạc hay trò chuyện với ai trên mạng, cũng sẽ bị kết tội là Việt Tân hoặc là cảm tình viên của Việt Tân. Ngay trong khi có biểu tình, công an cũng cài người luôn hô to hoặc chụp mũ những người bị bắt là "phản động" khi có ai lên tiếng bênh vực hay hỏi han.

Công an sợ gì?

Điều làm giới an ninh luôn lo âu, là sự xuất hiện của những nhân tố có uy tín có thể dẫn đầu đoàn biểu tình hay hướng dẫn hành động. Trong cuộc biểu tình ngày 5-6-2011 ở Sài Gòn, sự có mặt của những nhân vật quan trọng như các ông Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Cao Lập... đã mở ra một không khí hoàn toàn khác mà chính giới an ninh cũng bối rối.

Giới trẻ luôn cần những nhân tố như vậy dẫn đường cho tinh thần của họ. Và cũng vì vậy mà hầu hết những nhân tố có thể tạo được sinh khí cho các cuộc xuống đường yêu nước, chống Trung Quốc đều bị công an chiếu cố hết sức tận tình.

sg3-250.jpg
Tại các ngã tư đường, đặc biệt tại trước Nhà Văn hóa Thanh niên, rất đông công an vào mỗi sáng chủ nhật, ảnh chụp sáng ngày 14-07-2011.

Những nhân vật gần đây xuống đường như các ông Đỗ Trung Quân, Nguyễn Đình Đầu, Đinh Kim Phúc, Nguyễn Viện... đều bị mời lên, hăm dọa, sách nhiễu theo những kiểu khác nhau. Có thể nói phía Hà Nội, khi các giới nhân sĩ chọn cách phản ứng quyết liệt với các sự theo dõi, đàn áp, bắt bớ... thì Sài Gòn chọn cách mềm dẻo để bảo đảm một khoảng tự do, dành lại cho cơ hội chín muồi cần thiết.

Nhưng còn một điều mà giới công an sợ hơn nữa. Họ luôn luôn tìm kiếm sục sạo xem giới nhân sĩ, trí thức, người yêu nước... có một đường dây liên kết bí mật nào với nhau hay không? Có hay không, quả thật không ai biết, nhưng rất lạ là khi giờ G đến, đột nhiên giới nhân sĩ, trí thức, đấu tranh của Sài Gòn xuất hiện, và khi thì truy xét không ra một ai.

Hơn nữa, phương thức đấu tranh của Sài Gòn cũng đa dạng, không nhất thiết là chỉ biểu tình. Buổi tưởng niệm chiến sĩ trận vong ở đảo Hoàng Sa ngày 27-7 tại số 43 Nguyễn Thông, Sài Gòn vừa qua, cũng là một ví dụ. Hoặc việc hợp thức hóa khẩu hiệu chống đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Quốc qua việc in lên áo công khai lên áo phông cũng từ Sài Gòn lan đi khắp nơi.

Công an sợ những cuộc xuống đường sôi sục của Sài Gòn nên trấn áp tàn bạo. Nhưng họ cũng sợ hãi sự im lặng của Sài Gòn. Mọi thứ như một sức ép lặng lẽ tăng dần theo thời gian và các sự kiện của tổ quốc. Những ngày này, giới công an đang kiệt sức tìm kiếm xem ai liên kết với ai, ai có thể cùng ai xuống đường, và ai là người có thể là hạt nhân của các cuộc biểu tình sắp tới.

Có ý kiến cho rằng Sài Gòn đã sợ hãi dừng bước trong cuộc bày tỏ lòng yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược. Nhưng thật sự thì không, chính công an mới đang lo sợ vì sự im lặng đáng ngờ này. Sài Gòn im lặng cám ơn Hà Nội giữ lửa nhưng Sài Gòn chắc chắn cũng sẽ không bao giờ để Hà Nội một mình với ngọn cờ yêu nước, khi đến lúc.


Phan Nguyễn Việt Đăng
Sài Gòn-2011-08-16

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/y-protes-in-hcm-not-succes-pnvd-08162011180341.html