13 January 2012

ÂM VANG TIẾNG SÚNG ĐOÀN VĂN VƯƠN



ÂM VANG TIẾNG SÚNG ĐOÀN VĂN VƯƠN

Phạm Đình Trọng

Trong vụ nổ súng làm bị thương sáu công an, bộ đội ở Tiên Lãng, Hải Phòng, Đoàn Văn Vươn không cầm súng bắn nhưng Đoàn Văn Vươn là thủ lĩnh, là linh hồn, là người tiêu biểu cho ý chí lấn biển, mở cõi, mở mang đất sống cho gia đình, cho quê hương và cho đất nước, Đoàn Văn Vươn cũng tiêu biếu cho ý chí phản kháng việc thu hồi đất như cướp trắng thành quả hàng chục năm trời lao động bằng mồ hồi và bằng máu của cả gia đình, cướp trắng toàn bộ của cải tiền bạc đầu tư vào việc lấn biển mở đất. Vì thế tiếng súng phản kháng đó chính là tiếng súng Đoàn Văn Vươn.

Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là sự bùng nổ của mâu thuẫn đang chứa chất ở nhiều nơi trong xã hội ta hôm nay, mâu thuẫn giữa người nông dân lao động sáng tạo trên mảnh đất mồ hôi xương máu của họ với hệ thống quyền lực nhân danh Nhà nước quản lí mảnh đất đó.

Luật đất đai, điều 5: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Và điều 6: Nhà nước thống nhất quản lí về đất đai. Luật đất đai như vậy đã tạo ra những đoàn nông dân hình hài gầy guộc, xiêu vẹo, gương mặt rầu rĩ, tiều tụy cầm đơn đi khiếu kiện đất đai nối dài từ Nam ra Bắc, dòng dã năm này qua năm khác suốt mấy chục năm nay. Tấc đất tấc vàng, những tấc vàng đó lại thuộc sở hữu toàn dân, tức là của chùa! Những tấc vàng của chùa dễ xơ múi quá đã làm hỏng những người được Nhà nước giao cho quyền quản lí, quyền định đoạt những tấc vàng của chùa. Mảnh đất người nông dân đổ mồ hôi, đổ máu, đổ của cải ra khai khẩn lại không thuộc quyền sở hữu của người khai khẩn mà thuộc quyền quản lí của quan lại hàng huyện thì sự quản lí sẽ vô cùng tùy tiện và việc thu hồi, cưỡng chế mảnh đất người kĩ sư nông nghiệp Đoàn Văn Vươn khai khẩn là sự tùy tiện đó.

Từ trước đến nay lệnh thu hồi đất của quan ban ra, người dân chỉ biết cay đắng nhận đồng tiền đền bù rẻ mạt rồi đau khổ giao mảnh đất của tổ tiên ngàn đời để lại, giao mảnh đất mồ hôi xương máu, mồ mả ông cha, giao mảnh đất là núm ruột chôn rau cắt rốn, là quê cha đất tổ, là gốc tích cội nguồn dòng dõi, là nguồn sống của muôn đời con cháu cho các quan để các quan tư túi kiếm lợi trên mảnh đất đó. Đây là lần đầu tiên lệnh thu hồi đất ngang trái gặp sự phản kháng bằng tiếng súng.

Mảnh đất lấn biển của người kĩ sư nông nghiệp Đoàn Văn Vươn không phải chỉ là mảnh đất mồ hôi, xương máu mà còn là mảnh đất của sự nghiệp cuộc đời, của ý chí nam nhi. Mảnh đất của sự nghiệp cuộc đời bị mất trắng là ý chí nam nhi bị đánh bại. Ý chí nam nhi đã thắng cả trời, thắng cả sức mạnh hoang dã của bão biển mà phải thua cái lệnh hành chính ngang trái của hai anh em ruột nhà quan, phía sau ông anh quan đầu huyện kí quyết định thu hồi đất thấp thoáng bóng ông em quan đầu xã, nơi có bãi đất lấn biển của kĩ sư Đoàn Văn Vươn bị thu hồi.

Đã là nông dân thì ai cũng khát đất như quan khát chức quyền. Quan xuất thân từ nông dân thì khát cả hai! Người nông dân thỏa mãn nỗi khát đất bằng đổ mồ hôi, đổ máu ra mở đất, bỏ cả chiếc ghế công chức, bỏ cả cuộc đời vào mở đất. Quan thỏa mãn nỗi khát đất bằng quyền lực.

Dời núi lấp biển, thay đổi cả cảnh quan thiên nhiên, vẽ lại bản đồ cả vùng đất là công việc của những anh hùng cái thế. Đoàn Văn Vươn là người anh hùng đó. Lấn biển, thách thức sức mạnh hoang dã của biển cả, chỉ người có chí lớn mới làm được và Đoàn Văn Vươn đã làm được. Bãi biển xã Vinh Quang, Tiên Lãng đã có từ bao đời và từ bao đời nay chỉ có sóng cuồng, bão dữ. Bão từ biển đổ bộ vào, người dân Vinh Quang phải bỏ nhà cửa ruộng vườn chạy sâu vào đất liền tránh bão thì Đoàn Văn Vươn lại tiến ra biển đắp đê ngăn sóng, trồng cây chắn bão. Nhà cửa có thứ gì bán ra tiền đều bán hết để có đồng tiền cùng với tâm trí, sức lực, cùng với mồ hội và máu đổ ra, cùng với năm tháng cuộc đời làm nên con đê ngăn sóng, làm nên rừng cây chắn bão.

Lấn biển là sự nghiệp của cả cuộc đời, của nhiều thế hệ. Nhưng mảnh đất Đoàn Văn Vươn lấn biển vừa thành bãi chuối, vừa thành đầm tôm, chuối chưa kịp ra buồng, tôm vừa quen nước thì quyết định thu hồi đất của quan huyện tùy tiện ban ra. Luật đất đai qui định thời hạn giao đất là 20 năm, quan tùy tiện chỉ giao 14 năm. Quan kí quyết định giao đất ngày 9. 4. 1997 nhưng ngày tính thời hạn sử dụng đất lại là ngày 4.10.1993, tùy tiện kéo lùi ngày sử dụng đất trước ngày kí giao đất đến ba năm rưỡi. Quyết định thu hồi đất tùy tiện trái luật đất đai bị dân kiện, quan lại tùy tiện hứa: Dân rút đơn kiện thì quan sẽ cho dân tiếp tục sử dụng đất có được từ mồ hôi, xương máu của dân. Nhưng dân rút đơn kiện năm trước thì năm sau liền có quyết định thu hồi đất cùng với lệnh cưỡng chế quyết liệt, ầm ầm kéo công an, bộ đội về đập tan ngôi nhà nơi đầu sóng của gia đình người mở đất. Người đại diện Nhà nước thực hiện lời hứa với dân như vậy không thể dùng từ nào khác ngoài từ lật lọng. Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là tiếng súng nổ vào sự lật lọng đó!

Kí giấy giao đất, tùy tiện định thời hạn sử dụng đất gây thiệt hại cho người nông dân chân chính Đoàn Văn Vươn khai phá lên mảnh đất đó, lại vội vã, nôn nóng, quyết liệt cưỡng chế, thu hồi mảnh đất lấn biển là toàn bộ cuộc đời, cơ ngơi, sự nghiệp của người nông dân chân chính Đoàn Văn Vươn, người đại diện Nhà nước quản lí đất đai đã thiếu cái đức lo cho dân của quan cai trị dân, lại thiếu tầm nhìn ra xã hội của người quản lí xã hội. Bãi biển nơi phô trương sức mạnh của thiên nhiên hoang dã nay đã thành bãi chuối, đầm tôm có sức hấp dẫn quá lớn làm cho ông quan đại diện Nhà nước quản lí đất đai trở nên nhỏ nhen, hẹp hòi, đối lập với dân.

Nhà nước đổ tiền ngân sách, huy động sức dân đắp được con đê quai biển nhưng động mưa bão là đê vỡ, sóng biển tràn vào tàn phá xóm làng, cuốn cả người, cả tài sản ra vùi dưới đáy biển. Động mưa bão là người dân phải bỏ nhà cửa, dắt díu con cái chạy trốn sức mạnh của biển. Đoàn Văn Vươn không xin một đồng tiền ngân sách Nhà nước, chỉ đổ của cải, công sức của gia đình ra đã đắp lên con đê vững chãi, trồng lên rừng cây bền bỉ, tạo ra khoảng cách an toàn giữa sóng dữ và làng xóm hiền hòa. Dân không còn phải chạy bão, bãi lấn biển của người nông dân mở đất Đoàn Văn Vươn còn tạo thêm việc làm cho những người dân quê tham công tiếc việc, tạo thêm của cải cho xã hội, mở thêm đất sống cho quê hương, mở mang bờ cõi cho đất nước. Những lợi ích to lớn đó do người nông dân mở đất Đoàn Văn Vươn tạo ra, người dân cả xã Vinh Quang, cả huyện Tiên Lãng đều thấy, người dân Việt Nam cả nước đều thấy, chỉ riêng những người đại diện Nhà nước quản lí đất đai ở huyện Tiên Lãng không thấy.

Anh Vươn không phải người tốt. Nói đúng ra anh Vươn chẳng có công lao gì cũng chẳng phải là người đi đầu vì sử dụng hàng chục hecta (đất) và thu lời nhưng không đóng góp gì cho địa phương. Đặc biệt từ năm 2007 đến nay anh hoàn toàn ăn không. Anh đắp đê để thu lợi cá nhân chứ có ích gì cho xã hội. Câu nói của ông chánh văn phòng ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng, người phát ngôn của chủ tịch huyện Lê Văn Hiền đã bộc lộ rõ sự chật chội, hẹp hòi, đối lập với dân, bộc lộ sự tha hóa của những người đại diện Nhà nước quản lí đất, quản lí dân. Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là tiếng súng nổ vào sự tha hóa đó.

Những người nổ súng vào quyền lực Nhà nước sẽ bị pháp luật Nhà nước xét xử. Nhưng tiếng súng phản kháng quyền lực Nhà nước chỉ là cái ngọn. Cái gốc là luật đất đai đã tước đoạt quyền làm chủ của người nông dân trên mảnh đất của chính họ. Cái gốc là sự tha hóa, sự xa dân đến mức đối lập lợi ích với dân, sự lợi dụng quyền đại diện Nhà nước quản lí đất đai nhưng ứng xử với đất đai không vì lợi ích Nhà nước, không vì lợi ích toàn dân mà chỉ vì lợi ích của cá nhân và phe nhóm. Sự tha hóa của quan chức đại diện Nhà nước quản lí đất đai đã xuất hiện ở mọi miền đất nước tạo nên dòng người dân mất đất cầm đơn đi khiếu kiện nối dài trong thời gian. Nhưng sự tha hóa của quan chức trong quản lí đất đai như được dung túng. Chưa có nỗi oan khuất mất đất đai của dân nào được giải quyết thỏa đáng, chưa có sự tha hóa nào của quan chức trong quản lí đất đai được nghiêm trị và sự tha hóa cứ lan rộng, kéo dài. Trong xử lí đất đai ở bãi biển xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng có yếu tố của sự tha hóa đó.

Cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh kéo dài rầm rộ suốt nhiều năm, tốn kém không ít tiền thuế của dân nhưng chỉ ồn ào hình thức, kết quả không thấy đâu, tiêu cực tham nhũng không suy giảm mà ngày càng trầm trọng đang đe dọa sinh mệnh của đảng cầm quyền và đe dọa sự sống còn của chế độ. Vào những ngày tận cùng của năm 2011 đầy biến động, ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản Việt Nam vừa gấp gáp họp và thống thiết phát động cuộc chỉnh đốn đảng cứu đảng, cứu chế độ thì bùng nổ tiếng súng Đoàn Văn Vươn.

Người dân phập phồng lo lắng cho số phận người hùng mở đất Đoàn Văn Vươn trước sự xét xử của pháp luật nhưng người dân cũng chờ đợi sự phán quyết của pháp luật, của cơ quan tổ chức cán bộ, của cơ quan kiểm tra đảng đối với những ông quan cai trị dân nhưng ngày càng xa dân, ngày càng đối lập với dân. Người dân chờ đợi sự phán quyết đó để xem cuộc chỉnh đốn đảng lần này có khác với cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh chỉ ồn ào hình thức rầm rộ suốt mấy năm qua không./.

P.Đ.T.
11. 01. 2012

12 January 2012

Nguyên nhân kinh tế của chiến tranh


Nguyên nhân kinh tế của chiến tranh

Ludwig von Mises
Phạm Nguyên Trường dịch

Chiến tranh là định chế cổ xưa nhất của loài người. Từ thời thương cổ con người đã khao khát đánh nhau, giết chóc và cướp bóc lẫn nhau rồi. Tuy nhiên, công nhận sự kiện này không đưa ta đến kết luận rằng chiến tranh là hình thức không thể tránh được trong quan hệ giữa người với người và những cố gắng nhằm thủ tiêu chiến tranh là đi ngược lại bản chất của con người và vì vậy mà không tránh khỏi thất bại.

Vì mục đích tranh luận, chúng ta có thể công nhận luận đề của phái quân phiệt rằng con người được tự nhiên phú cho bản năng là đánh nhau và phá hoại. Nhưng những bản năng và xung lực thô sơ đó không phải là đặc điểm của con người. Con người đứng cao hơn tất cả các loài sinh vật khác vì có lí trí và có khả năng tư duy. Và lí trí của con người dạy họ rằng hợp tác và cộng tác trong hòa bình trên cơ sở phân công lao động có lợi hơn là xung đột vũ trang.

Tôi không muốn nhắc lại lịch sử của những cuộc chiến tranh. Chỉ cần nói rằng trong thế kỉ XVIII, tức là ngay tại ngưỡng cửa của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tính chất của chiến tranh đã khác xa với thời con người còn ăn lông ở lỗ rồi. Người ta không còn đánh nhau nhằm tiêu diệt hay bắt kẻ chiến bại làm nô lệ nữa. Chiến tranh đã trở thành công cụ của nhà cầm quyền và được tiến hành bằng những binh đoàn tương đối nhỏ, với những người lính chuyên nghiệp, đa phần là lính đánh thuê. Mục tiêu của chiến tranh là xác định xem vương triều nào có quyền cai trị đất nước hay một tỉnh nào đó. Những cuộc chiến tranh lớn nhất ở châu Âu trong thế kỉ XVIII là những cuộc chiến tranh đòi quyền thừa kế ngai vàng, đấy là những cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha, ở Ba Lan, ở Áo và cuối cùng là cuộc chiến tranh giành quyền kế vị ở Bavaria. Người bình thường hầu như không để ý tới kết quả của những cuộc chiến tranh này. Họ chẳng quan tâm nhiều tới việc ai sẽ là người cai trị họ, ông hoàng dòng họ Habsburg hay Bourbon thì cũng thế mà thôi.

Nhưng những cuộc xung đột bất tận đó đã trở thành gánh nặng đối với loài người. Chúng là những chướng ngại nghiêm trọng đối những cố gắng nhằm mang lại sự phồn vinh ngày càng tốt đẹp hơn. Kết quả là, các nhà triết học và các nhà kinh tế học thời đó đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu nguyên nhân của chiến tranh.

Sau đây là kết quả của những công trình nghiên cứu của họ:

Trong hệ thống sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất và kinh doanh tự do, khi nhà nước chỉ có một chức năng duy nhất là bảo vệ các cá nhân khỏi những hành động tấn công bằng vũ lực và lừa đảo đối với cuộc sống, sức khỏe và tài sản của họ, thì công dân của bất cứ nước nào cũng chẳng cần quan tâm đến việc đường biên giới của họ đi ngang qua những đâu. Không ai cần quan tâm đến việc nước họ to hay là nhỏ, có cần xâm chiếm thêm một tỉnh nữa hay là không. Việc xâm chiếm lãnh thổ sẽ chẳng mang lại lợi lộc gì cho những người công dân bình thường.

Nhưng các ông hoàng và giới quí tộc cầm quyền thì lại khác. Mở rộng lãnh thổ tạo điều kiện cho họ tăng cường quyền lực và thu được nhiều thuế hơn. Đất đai xâm chiếm được mang lại lợi nhuận cho họ. Họ là những kẻ hiếu chiến, trong khi những người công dân bình thường lại là những người yêu chuộng hòa bình.

Như vậy là, những người theo trường phái tự do cổ điển kết luận rằng trong hệ thống kinh tế tự do (laissez faire) và chính quyền nhân dân, chiến tranh sẽ không còn. Chiến tranh sẽ chấm dứt vì không còn lí do nữa. Vì những người theo trường phái tự do thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX tin tưởng tuyệt đối rằng không gì có thể ngăn chặn được phong trào hướng đến tự do trong lĩnh vực kinh tế và dân chủ trong lĩnh vực chính trị cho nên họ cũng khẳng định rằng loài người đang đứng trước ngưỡng cửa của thời đại hòa bình vĩnh viễn.

Họ khẳng định rằng muốn làm cho thế giới được hòa bình thì cần phải thực hiện tự do kinh tế, thương mại tự do và quan hệ hữu hảo giữa các dân tộc, chính phủ của dân. Tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của cả hai yêu cầu này: tự do thương mại cả nội thương lẫn ngoại thương và chế độ dân chủ. Sai lầm chết người của thời đại chúng ta là đã từ bỏ yêu cầu thứ nhất, cụ thể là thương mại tự do, và chỉ còn quan tân đến chế độ dân chủ mà thôi. Như vậy là, người ta đã lờ đi sự kiện là không được tự do kinh doanh, không có thương mại tự do và không có tự do kinh tế thì chế độ dân chủ cũng không tồn lại được lâu.

Tổng thống Woodrow Wilson tin tưởng tuyệt đối rằng muốn thế giới được hòa bình thì phải là cho nó trở thành dân chủ. Trong Thế chiến I người ta tin rằng chỉ cần tước quyền lực của dòng họ Hohenzollern và giới địa chủ quí tộc Đức là có thể giữ được nền hòa bình bền vững rồi. Tổng thốngWilsonkhông nhận ra rằng trong thế giới của những chính phủ toàn trí toàn năng, lại đang ngày càng tăng cường sức mạnh, thì như thế vẫn chưa đủ. Trong cái thế giới mà sức mạnh của chính phủ càng ngày càng gia tăng thì vẫn còn đó nguyên nhân kinh tế của chiến tranh.

Chiến tranh xâm lược có mang lại lợi ích cho những công dân bình thường hay không?
Người theo chủ nghĩa hòa bình nổi tiếng ở Anh, ông Norman Angell, nhắc đi nhắc lại rằng chiếm đoạt lãnh thổ của người khác chẳng mang lại cho người công dân bình thường bất cứ lợi lộc nào. Chẳng có người công dân bình thường nào của Đức được lợi sau khi cuộc chiến Pháp-Phổ, diễn ra trong các năm 1870-1871, kết thúc và nước này sát nhập vùng Alsace-Lorraine vào Đức. Hoàn toàn đúng như thế. Nhưng đấy là giai đoạn của chủ nghĩa tự do truyền thống và tự do kinh doanh. Trong giai đoạn của chúng ta, khi chính phủ can thiệp vào kinh tế thì tình hình đã khác.
Xin lấy một thí dụ. Chính phủ các nước sản xuất cao su kí kết thỏa thuận thành lập liên minh nhằm tạo ra độc quyền trong lĩnh vực cao su tự nhiên. Họ buộc các đồn điền phải hạn chế sản xuất nhằm kéo giá cao su lên cao hơn mức giá trên thị trường tự do. Đây không phải là trường hợp cá biệt. Các chính phủ trên khắp thế giới đã thi hành những chính sách tương tự với nhiều loại lương thực và nguyên vật liệu có tính chất quan trọng sống. Họ bắt buộc các nhà sản xuất trong nhiều ngành công nghiệp phải tham gia các tập đoàn, kết quả là quyền kiểm soát đã chuyển từ các doanh nhân sang tay chính phủ. Đúng là một vài bước đi như thế đã gặp thất bại. Nhưng các chính phủ đó vẫn không từ bỏ kế hoạch. Họ đang cố gắng tìm cách cải tiến phương pháp và tin rằng sau Thế chiến II họ sẽ thu được nhiều thành công hơn.

Hiện nay người ta đang nói nhiều về nhu cầu kế hoạch hóa trên bình diện quốc tế. Nhưng những người trồng cao su, cà phê hay những loại hàng hóa khác lại chẳng cần kế hoạch hóa, cả trên bình diện quốc gia hay quốc tế. Họ sản xuất những món hàng đó là vì đối với họ, đấy là cách kiếm sống tốt nhất. Kế hoạch hóa trong trường hợp này bao giờ cũng chỉ là những hành động của chính phủ nhằm hạn chế sản xuất và thiết lập độc quyền về mặt giá cả mà thôi.

Trong những điều kiện như thế, không thể nói rằng chiến tranh thắng lợi không mang lại cho nhân dân lợi lộc gì. Nếu các nước cần nhập khẩu cao su, cà phê, thiếc, ca cao và các loại hàng hóa khác có thể buộc chính phủ những nước sản xuất từ bỏ chính sách độc quyền thì họ sẽ cải thiện được tình hình kinh tế của các công dân của nước họ.

Đánh giá như thế không có nghĩa là biện hộ cho chiến tranh xâm lược và chinh phục. Nó chỉ chứng minh sự lầm lẫn của ông Norman Angell và những người theo chủ nghĩa hòa bình khác, tức là những người xây dựng luận cứ ủng hộ hòa bình của mình trên giả định ngầm rằng tất cả các nước vẫn còn gắn bó với những nguyên tắc của chế độ kinh doanh tự do.

Ông Norman Angell là đảng viên Đảng lao động Anh. Đảng này ủng hộ xã hội hóa[i] một cách triệt để nền kinh tế. Nhưng đảng viên Đảng lao động quá ngu dốt, đến mức không hiểu được xã hội hóa sản xuất nhất định sẽ gây ra những hậu quả kinh tế và chính trị như thế nào.

Trường hợp nước Đức
Tôi muốn giải thích những hậu quả đó bằng cách sử dụng tình hình ở Đức.

Giống như tất cả các nước châu Âu khác, Đức là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên. Chỉ dựa vào nguồn lực trong nước, họ không thể nuôi ăn cũng như cung cấp quần áo mặc cho toàn thể dân chúng trong nước. Đức phải nhập một khối lượng lớn nguyên vật liệu và lương thực và phải thanh toán những khoản nhập khẩu rất cần thiết đó bằng cách xuất khẩu hàng công nghệ, đa số những món hàng này lại được chế tạo từ nguyên liệu nhập khẩu. Trong chế độ kinh doanh tự do, Đức đã tự thích ứng được với hoàn cảnh đó một cách cực kì xuất sắc. Sáu, bảy mươi năm trước, tức là trong những năm 1870 và 1880, Đức là một trong những nước thịnh vượng nhất thế giới. Các doanh nhân của họ đã biết xây dựng những nhà máy cực kì hiệu quả. Ngành công nghiệp Đức giữ vị trí đầu tầu trên lục địa châu Âu. Hàng hóa của họ giữ vị trí áp đảo trên thị trường thế giới. Sự thịnh vượng của người Đức – của tất cả các tầng lớp dân cư – gia tăng hàng năm. Chẳng có lí do gì để phải thay đổi cơ cấu của nền kinh tế Đức.

Nhưng đa phần các nhà tư tưởng và những nhà bình luận chính trị, các giáo sư do nhà nước bổ nhiệm, các lãnh tụ Đảng xã hội cũng như các quan chức chính phủ đều không thích hệ thống thị trường tự do. Họ gán cho nó nhãn hiệu "tư bản chủ nghĩa", "tài phiệt", "tư sản", "Tây" và "Do Thái". Họ than vãn trước sự kiện là chế độ kinh doanh tự do đã sát nhập nước Đức vào hệ thống phân công lao động quốc tế.

Tất cả các nhóm người đó và các đảng phái chính trị đều muốn nhà nước quản lí chứ không để kinh doanh tự do nữa. Họ muốn thủ tiêu động cơ lợi ích. Họ muốn quốc hữu hóa và đặt nó dưới sự chỉ huy của chính phủ. Việc đó có thể là tương đối đơn giản đối với đất nước có khả năng tự lực cánh sinh về mặt kinh tế. Nước Nga, chiếm đến một phần sáu diện tích mặt đất, có thể sống mà hầu như không cần nhập khẩu. Nhưng Đức thì khác. Đức không thể không nhập khẩu và vì vậy mà phải xuất khẩu hàng công nghiệp. Đấy chính là điều mà bộ máy quản lí quan liêu của chính phủ không thể làm nổi. Các quan chức chỉ có thể phát tài trong thị trường nội địa bị bế quan toả cảng mà thôi. Họ không biết cạnh tranh trên thị trường ngoại quốc.

Hiện nay phần lớn dân chúng nước Đức quốc xã muốn chính phủ kiểm soát công việc kinh doanh. Nhưng sự kiện là chính phủ kiểm soát kinh doanh và ngoại thương là những việc không tương thích với nhau. Xã hội xã hội chủ nghĩa phải nhắm đến sự tự cấp tự túc. Đây là đất sống của chủ nghĩa dân tộc có tính gây hấn – có thời được gọi Chủ nghĩa đại Đức, bây giờ gọi là chủ nghĩa xã hội quốc gia (quốc xã). Chúng ta là một dân tộc đầy sức mạnh, những người xã hội chủ nghĩa quốc gia nói như thế; chúng ta đủ sức đập tan tất cả các dân tộc khác. Chúng ta phải chinh phục tất cả các nước có nguồn tài nguyên cần thiết cho sự thịnh vượng kinh tế của chúng ta. Chúng ta cần tự cấp tự túc và vì thế chúng ta phải chiến đấu. Chúng ta cần Lebensraum(không gian sống) và Nahrungs freiheit (không lệ thuộc vào lương thực, thực phẩm).

Cả hai khái niệm này đều trỏ vào cùng một thứ – chinh phục những vùng đất đủ lớn và giàu tài nguyên để cho người Đức có thể sống với mức sống không kém hơn bất cứ dân tộc nào mà không cần ngoại thương. Ở nước ngoài người ta hiểu rõ thuật ngữ Lebensraum (không gian sống). Nhưng thuật ngữ Nahrungs freiheit (không lệ thuộc vào lương thực, thực phẩm) thì không. Freiheit là không lệ thuộc, Nahrungs freiheit nghĩa là không lệ thuộc vào việc buôn bán làm cho Đức phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm. Trong mắt những người quốc xã, chỉ sự "không lệ thuộc" như thế mới có ý nghĩa mà thôi.

Công sản và quốc xã thống nhất với nhau ở một điểm: dân chủ, tự do và chính phủ nhân dân được họ hiểu là chính phủ kiểm soát tòan bộ công việc kinh doanh. Gọi là hệ thống xã hội chủ nghĩa hay cộng sản hoặc kế hoạch hóa không phải là điều quan trọng. Dù gọi là gì thì hệ thống này cũng đòi hỏi phải tự cấp tự túc về mặt kinh tế. Trong khi nước Nga, nói chung là có thể sống tự cấp tự túc về mặt kinh tế thì Đức không thể làm như thế được. Vì vậy mà nước Đức xã hội chủ nghĩa phải tiến hành chính sách Lebensraumhay Nahrungs freiheit, nghĩa là chính sách xâm lược.
Cộng sản và quốc xã thống nhất với nhau rằng thực chất của cái mà họ gọilà thi hành chương trình kiểm soát của chính phủ đối với công việc kinh doanh cuối cùng sẽ phải dẫn tới kết quả là bác bỏ sự phân công lao động trên bình diện quốc tế. Theo triết lí của quốc xã thì chỉ có một kiểu quan hệ quốc tế phù hợp – đấy là chiến tranh. Những người lãnh đạo của họ lấy làm tự hào khi trích dẫn những lời tuyên bố của Tacitus. Gần hai ngàn năm trước, nhà sử học người La Mã này nói rằng người Đức lấy làm xấu hổ khi phải lao động nặng nhọc mới kiếm được những thứ có thể kiếm được bằng giết chóc. Không phải vô tình mà vào năm 1900 Kaiser Wilhelm II đã kêu gọi binh sĩ của mình bắt chước rợ Hung. Mấy từ đó chứa đựng cả một chính sách có chủ ý.

Phụ thuộc vào nhập khẩu
Đức không phải là nước duy ở châu Âu phụ thuộc vào nhập khẩu. Châu Âu – chưa kể Nga – có dân số gần 400 triệu người, gấp hơn ba lần dân số nước Mĩ. Nhưng châu Âu không sản xuất được bông, cao su, cùi dừa khô, cà phê, trà, đay và không có nhiều kim loại quan trọng khác. Ngoài ra, họ còn rất thiếu những sản phẩm như len, cỏ khô nuôi gia súc, gia súc, thịt, da và nhiều loại lương thực.

Năm 1937 châu Âu chỉ khai thác được 56 triệu thùng dầu thô, trong khi Mĩ sản xuất được những 1.279 thùng. Đấy là chưa nói, hầu như tất cả dầu thô của châu Âu đều nằm ởRomaniavà miền Đông Ba Lan. Nhưng cuộc chiến hiện thời dẫn đến kết quả là những vùng này đã nằm dưới quyền kiểm soát của Nga. Sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp là nhiệm vụ quan trọng sống còn của nền kinh tế châu Âu. Nhưng khi chính phủ kiểm soát kinh doanh thì xuất khẩu là việc làm bất khả thi.

Sự thật trần trụi là như thế, ngôn từ hoa mĩ của những người theo đường lối xã hội chủ nghĩa không thể nào thay đổi được nó. Muốn sống, người châu Âu phải bám lấy cơ chế tự do kinh doanh, một cơ chế đã được thử thách trong một thời gian dài. Lựa chọn khác là chiến tranh và chinh phục. Người Đức đã thử làm như thế hai lần và cả hai lần họ đều thất bại.

Nhưng các nhóm có ảnh hưởng chính trị nhất ở châu Âu không nhận thức được nhu cầu của tự do kinh tế. Ở Anh, Pháp vàItalycũng như ở một vài nước nhỏ hơn người ta đang cổ động cho việc chính phủ kiểm soát hoàn toàn hoạt động kinh doanh. Chính phủ các nước đó hầu như đã bịt tai, nhắm mắt trước nguyên tắc tự do kinh tế. Đảng lao động Anh và những người vẫn còn gọi đảng mình một cách sai lần là Đảng tự do coi cuộc chiến tranh này không chỉ là cuộc chiến đấu cho nền độc lập của nước họ mà còn coi nó là cuộc cách mạng nhằm thiết lập quyền kiểm soát của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh nữa. Đảng thứ ba ở Anh, tức là Đảng bảo thủ, nói chung vẫn có cảm tình với những chủ trương như thế. Người Anh muốn thắng Hitler, nhưng họ rất muốn du nhập những phương pháp quản lí kinh tế của ông ta vào đất nước mình. Họ không ngờ rằng chủ nghĩa xã hội nhà nước ở Anh sẽ mang lại tai họa cho quần chúng nhân dân. Anh phải xuất khẩu hàng công nghiệp để mua nguyên vật liệu và thực phẩm của nước ngoài. Giảm xuất khẩu nhất định sẽ làm mức sống của nhân dân Anh giảm theo.

Tình hình ởPháp,Italyvà đa phần các nước châu Âu khác cũng tương tự như tình hình ở Anh.

Bằng việc cung cấp cho người tiêu dùng các nhu yếu phẩm khác nhau – chính phủ xã hội chủ nghĩa sẽ trở thành quốc chủ. Người công dân buộc phải nhận những gì chính phủ ban cho. Nhưng ngọai thương thì khác. Người tiêu dùng ngoại quốc chỉ mua nếu chất lượng và giá cả món hàng hấp dẫn được họ. Trên đấu trường quốc tế nhằm giành quyền phục vụ người tiêu dùng ngoại quốc, chủ nghĩa tư bản đã chứng minh được tính hiệu quả và khả năng thích ứng vượt trội. Mức độ thịnh vượng kinh tế và nền văn minh ở châu Âu thời trước chiến tranh không phải là kết quả hoạt động của các cơ quan và đại diện của các chính phủ. Nó là thành tựu của hệ thống kinh doanh tự do. Những chiếc máy ảnh và hóa chất của Đức, những bộ trang phục, mũ và nước hoa của Paris, những chiếc đồng hồ Thụy Sĩ và túi da của Vienna không phải là sản phẩm của các xí nghiệp do nhà nước kiểm soát. Chúng là sản phẩm của các doanh nhân, những người làm việc không mệt mỏi nhằm cải thiện chất lượng và hạ giá thành sản phẩm của họ. Không người nào dám cả gan nói rằng những cơ quan của chính phủ sẽ thay thế một cách thành công các doanh nhân.

Nền thương mại quốc tế do các doanh nhân thực hiện là công việc cá nhân giữa các công ty tư nhân của các nước khác nhau. Nếu có bất đồng thì đấy cũng chỉ là xung đột giữa các công ty tư nhân mà thôi. Chúng không tạo ra xung đột trong quan hệ chính trị giữa các quốc gia với nhau. Chúng chỉ liên quan tới ông Meier và ông Smith nào đó mà thôi. Nhưng nếu ngoại thương trở thành công việc của chính phủ thì những xung đột như thế sẽ biến thành các vấn đề chính trị ngay lập tức.

Giả sử chính phủ Hà Lan thích mua than của Anh chứ không thích mua than từ vùng Ruhr của Đức. Lúc đó những người dân tộc chủ nghĩa ở Đức có thể nghĩ: "Một nước nhỏ hành xử như vậy mà chịu được à? Năm 1940 Đế chế thứ ba chỉ cần bốn ngày là đã đè bẹp được lực lượng võ trang của Hà Lan rồi. Phải ra tay một lần nữa! Lúc đó chúng ta có thể dùng tất cả những sản phẩm của Hà Lan mà chả mất đồng nào".

Phân chia nguồn lực một cách "công bằng"
Xin xem xét yêu cầu nổi bật của những tên xâm lược quốc xã và phát xít nói về cách phân chia mới và công bằng những nguồn lực tự nhiên trên địa cầu. Trong chế độ tự do kinh doanh, người không trồng cà phê mà muốn uống thì phải trả tiền. Dù đấy có là người Đức, ngườiItalyhay người của nước cộng hòaColombiathì anh ta vẫn phải làm cho đồng bào mình một số việc nào đó, anh ta phải kiếm được tiền và dùng một phần tiền để trả cho món cà phê mà anh ta thích. Còn đất nước không sản xuất được cà phê trong vùng biên giới lãnh thổ của mình thì điều đó có nghĩa là họ phải xuất khẩu hàng hóa hay nguồn lực để lấy tiền thanh toán cho món cà phê mà họ nhập. Nhưng các ngài Hitler và Mussolini lại không thích cách giải quyết như thế. Điều họ muốn là thôn tính lãnh thổ nước xuất khẩu cà phê. Nhưng công dân củaColombiahayBrazillại không muốn trở hành nô lệ của cả nước Đức quốc xã lẫn nươcItalyphát xít, thế là xảy ra chiến tranh.

Thí dụ đáng chú ý nữa là ngành trồng bông. Hơn một trăm năm qua, một trong những ngành công nghiệp chủ yếu của châu Âu là kéo sợi và sản xuất hàng may mặc. Châu Âu không trồng được một cân bông nào. Khí hậu không thích hợp. Nhưng nguồn cung bao giờ cũng đủ, ngoại trừ giai đoạn 1860, tức là những năm nội chiến ở Mĩ, khi cuộc xung đột làm gián đoạn việc cung cấp bông từ những bang miềnNam. Các nước công nghiệp ở châu Âu đã mua được đủ bông không chỉ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn cho nhu cầu xuất khẩu khá lớn các sản phẩm về bông nữa.

Nhưng trong những năm ngay trước Thế chiến II tình hình đã thay đổi hẳn. Số lượng bông được bán trên thị trường thế giới vẫn còn rất lớn. Nhưng hệ thống kiểm soát ngoại thương mà phần lớn các nước ở châu Âu áp dụng đã ngăn chặn, không cho thương nhân mua bông để sản xuất nữa. Hitler đã làm cho ngành dệt may suy tàn bằng cách hạn chế sản xuất và buộc họ phải sa thải phần lớn công nhân trong ngành này. Hitler không quan tâm tới số phận của những người công nhân mất việc. Ông ta đưa họ tới những nhà máy sản xuất đạn dược.

Tôi đã chỉ ra rằng trong thế giới của tự do thương mại và tự do kinh doanh thì nguyên nhân kinh tế của chiến tranh sẽ không còn đất sống nữa. Trong thế giới đó việc xâm chiếm các vùng đất và thuộc địa sẽ chẳng mang lại cho người công dân bình thường bất cứ lợi lộc gì. Nhưng trong thế giới của các chế độ toàn trị, nhiều người có thể tin rằng thôn tính những vùng lãnh thổ giàu tài nguyên có thể cải thiện được sự thịnh vượng về mặt vật chất của họ. Những cuộc chiến tranh trong thế kỉ XX chắc chắn là những cuộc chiến tranh kinh tế. Nhưng đấy không phải là do chủ nghĩa tư bản gây ra như những người xã hội tìm cách thuyết phục chúng ta. Các chính phủ muốn có quyền năng vô hạn –được quần chúng, bị bộ máy tuyên truyền trong nước làm cho rối trí, ủng hộ – trong cả lĩnh vực chính trị và kinh tế, là nguyên nhân gây ra những cuộc chiến tranh này.

Ba kẻ xâm lược chính trong cuộc chiến tranh này là nước Đức quốc xã, nướcItalyphát xít và đế quốc Nhật bản sẽ không thực hiện được mục đích của họ. Họ đã bị đánh bại và chính họ cũng đã biết như thế. Nhưng trong tương lai họ có thể lại thử làm như thế một lần nữa, vì hệ tư tưởng toàn trị sai lầm của họ không biết bất kì biện pháp cải thiện điều kiện vật chất nào khác, ngoài chiến tranh. Những người có tư tưởng toàn trị cho rằng chinh phục là phương tiện chính trị hữu hiệu duy nhất đối với những mục tiêu kinh tế của họ.

Tư duy kinh tế
Tôi không nói rằng tất cả các cuộc chiến tranh của tất cả các dân tộc và trong mọi thời đại đều là có nguyên nhân kinh tế, nghĩa là đều là do ước muốn làm giàu bằng mồ hôi nước mắt của những người bại trận mà ra. Chúng ta không cần phải nghiên cứu nguyên nhân sâu xa của những cuộc thập tự chinh hay những cuộc chiến tranh tôn giáo trong các thế kỉ XVI và XVII. Điều tôi muốn nói là: trong thời đại của chúng ta, tất cả các cuộc chiến tranh lớn đều là kết quả của tư duy kinh tế.

Chắc chắn không thể gọi Thế chiến II là chiến tranh giữa người da trắng và da màu rồi. Vế mặt sắc tộc, người Anh, người Hà Lan và người Na Uy chẳng khác gì người Đức; người Pháp và người Ý thì cũng thế; người Trung Quốc chẳng khác gì người Nhật. Đấy không phải là cuộc chiến giữa người Công giáo và người theo đạo Tin lành. Nói cho cùng, người Công giáo và người Tin lành có mặt trên cả hai bên chiến tuyến. Đấy cũng không phải là cuộc chiến giữa chế độ dân chủ và chế độ độc tài. Đòi hỏi của một số nước thành viên Liên hiệp quốc (đặc biệt là Nga Xô) để được gọi là "dân chủ" là đòi hỏi rất đáng ngờ. Mặt khác, Phần Lan (liên minh với Đức quốc xã) lại là nước có chính phủ được bầu theo lối dân chủ.
Lí lẽ của tôi cho rằng những cuộc chiến tranh trong thời gian gần đây là do động cơ kinh tế không phải là lời biện hộ cho chính sách xâm lược. Dùng chính sách xâm lược và chiếm đóng làm phương tiện kinh tế nhằm tranh giành lợi ích kinh tế là thất sách. Ngay cả trong ngắn hạn có thu được thành công "về mặt kĩ thuật" thì trong dài hạn nó cũng không đạt được mục đích mà bọn xâm lược nhắm tới. Nền công nghiệp hóa hiện đại không cho phép đặt vấn đề xây dựng hệ thống xã hội mà bọn quốc xã gọi là "Trật tự mới". Chế độ nô lệ không phải là giải pháp của các xã hội cộng nghiệp. Nếu bọn quốc xã chiến thắng được kẻ thù của mình thì chúng sẽ phải phá hủy nền văn minh và đưa nhân loại trở lại thời kì ăn lông ở lỗ. Chúng không thể nào xây dựng được Trật tự mới vĩnh cửu, như là Hitler từng hứa.

Như vậy là, vấn đề chính là làm sao tránh được những cuộc chiến tranh mới. Câu trả lời không phải là xây dựng Hội quốc liên mạnh hơn, cũng không phải là thành lập Tòa án quốc tế hữu hiệu hơn, thậm chí cũng không phải là thành lập lực lượng Cảnh sát quốc tế. Nhiệm vụ thực sự là làm cho tất cả các dân tộc – hay chí ít cũng là những dân tộc động người nhất thế giới – trở thành những dân tộc yêu chuộng hòa bình. Muốn được như thế thì phải quay lại với chế độ kinh doanh tự do.

Muốn loại bỏ chiến tranh thì phải loại bỏ nguyên nhân của chiến tranh.

Thần tượng lớn nhất của thời đại chúng ta là nhà nước. Nhà nước là định chế xã hội cần thiết, nhưng không được thần thánh hóa nó. Nó không phải là thần thánh, nó chỉ là sản phẩm của những con người hữu sinh hữu tử mà thôi. Nếu chúng ta biến nó thành thần tượng thì chúng ta sẽ phải hiến dâng cho nó những thế hệ thanh niên của chúng ta trong những cuộc chiến tranh trong tương lai.

Muốn giữ được nền hòa bình bền vững thì xây dựng văn phòng và tòa án cho Hội quốc liên ở Geneva, thậm chí xây dựng lực lượng cảnh sát quốc tế là chưa đủ. Việc cần làm là thay đổi hệ tư tưởng chính trị và quay trở lại với hệ thống kinh tế thị trường tự do.

L. d. M.
Đây là phần chính bài giảng của Ludwig Von Mises (1881-1973) ở quận Cam, California vào tháng 10 năm 1944.
Ludwig von Mises là lãnh tụ nổi tiếng của trường phái kinh tế Áo. Ông giảng dạy và viết về lí thuyết kinh tế, lịch sử, nhận thức luận, chính quyền và triết lí chính trị. Ông có những đóng góp quan trọng trong lí thuyết kinh tế, trong đó có lí thuyết về quan hệ giữa lượng tiền lưu thông và giá cả, lí thuyết về chu kì kinh doanh… Mises là học giả đầu tiên công nhận rằng kinh tế học chỉ là một phần của môn khoa học lớn hơn về hành vi của con người mà Mises gọi là "nghiên cứu hành vi của con người".


Ludwig von Mises

Phạm Nguyên Trường dịch

[i] Từ xã hội hóa ở đây được hiểu khác với quan niệm của ta hiện nay. Nó có nghĩa là quốc hữu hóa hay tập thể hóa chứ không phải là tư nhân hóa -ND.


11 January 2012

Sau 2011 năm Mẹo đầy thay đổi, 2012 Năm Thìn rất chiến lược ?

Sau 2011 năm Mẹo đầy thay đổi,
2012 Năm Thìn rất chiến lược ?
Phan Văn Song
 
Bài học quản trị, tức nước thì vỡ bờ :
Năm Mẹo sắp tàn, một năm Mẹo thật đặc biệt : nhiều thời sự từ truc trặc kỹ thuật khoa học, Fukushima và điện nguyên tử, đến chánh tri với cách mạng bông lài, kinh tế tài chánh với khủng hoảng đồng euro. Thật vậy, về mặt chánh trị, năm Mẹo đã mang thay đổi  ngay từ đầu năm với cơn bảo cách mạng bông lài thổi đến Bắc Phi rồi Trung Đông : Tunisie, Ai Cập, Lybie, Yémen, Syrie.. . kể theo thứ tự thời gian khởi điểm, kể theo mức độ tranh chấp từ ôn hòa đến nội chiến. Nhưng mặc dù ngày nay vẫn còn chưa hẳn kết thúc, Yémen vẫn còn chưa hẳn dân chủ Tổng Thống Saleh tuy đã chấp nhận từ chức nhưng vẫn tạm thời xử bám trụ lý thường vụ chức lãnh đạo quốc gia, Tổng Thổng Syrie vẫn còn tiếp tục cho quân đội bắn giết đàn áp trong máu nhơn dân mình mặc dù đã bị toàn thế giới và bạn bè láng giềng lên án.
 
Bài học dân chủ : Ý dân là ý trời (Vox populi, vox Dei) ?
Tháng 11/2011 vửa qua, những cuộc bầu cử đầu tiên cũng bắt đầu được tổ chức. Đối với những quốc gia không bao giờ được biết bầu cử là gì, đây là một cuộc cách mạng rất lớn. Kể cả Maroc, dù Maroc không có Cách mạng Bông Lài nhưng cơn gió Mùa Xuân Dân chủ của đầu năm con Mèo cũng đã thổi tới và Nhà Vua Mohammed VI cũng đã tự làm cách mạng, tuyên bố thay đổi Hiến Pháp, từ nay cho các đảng phái được thành lập, và được bầu cử tự do và chấp nhận cử lãnh tụ đảng thắng cử đa số làm Thủ tướng, chấp nhận một nền Quân chủ lập hiến như những Vương quốc tân tiến âu châu vậy. Và lần lượt  Tunisie, Ai cập, Lybie  những cuộc bầu cử tự do dân chủ bắt đầu được thực hiện. Đây là lần đầu tiên các công dân của các quốc gia Bắc Phi nầy mới được thực sự đi bầu, có lẽ lần đầu từ những ngày các quốc gia nầy hoàn toàn được các đế quốc thuộc địa trả  lại độc lập !

Và thế giới cùng các thầy dùi chánh trị đâm ra lo lắng. Cũng chỉ vì các đảng có khuynh hướng Hồi giáo toàn thắng. Lần đầu tiên từ Maroc qua Tunisie, đến Ai cập và Lybie đều do các đảng Hồi giáo cầm đầu và lập chánh phủ và tất cả đều nói sẽ áp dụng những luật lệ  « charia » chiếu theo luật Đạo Hồi. Và vì vậy cả thế giới đều lo lắng ! Lại càng lo lắng hơn, khi Iran bắt đầu hung hăn thẩy chay đả đảo Tây phương sau khi Tây phương biết được Iran vẫn tiếp tục chương trình đào tạo một vũ khí  Nguyên tử.

Vìệc gì phải lo, 30 năm, 40 năm độc tài, gia đình trị, đảng trị dân chúng vẫn nổi lên lật đổ được huống chi ! Phải biết tin tưởng vào dân chúng ! Ngày nay, sau khi làm cách mạng, lật đổ bạo quyền, dân chúng các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông đã quyết định, đa số dân chúng đã quyết định giao vận mệnh đất nườc mình cho Hồi giáo dẫn dắt. Chúng ta phải biết chấp nhận. Khi chúng ta đã kêu gọi dân chủ ta phải biết kính trọng quyết định của  người dân.

Những cái mẫu dân chủ  của các quốc gia tiên tiến tây phương, trước đây  thường được  đem ra đề nghị với các quốc gia chậm tiến, hay mới lấy lại độc lập, rất ít được thành công. Vi nhiều lý do, tập tục, tập quán, văn hóa, phong thổ. Vérité au-delà des Pyennées, erreur en deçà ( Sự thật bên nầy rặng núi Pyrennées, sự sai bên kia) !  Ngày nay thử xem các quốc gia Hồi giáo tạo được một cái mẫu dân chủ Hồi giáo không ? và có  làm được  thành công không ? Chớ có chưa gì đã vội la hoảng. Những mẫu dân chủ tây phương, với những tranh chấp từ ngữ, rất xa vời với đòi sống hằng ngày của người dân, trái lại tôn giáo cùng tập tục điạ phương  tạo cho những người dân một cuộc sống nội tâm an toàn, một xã hội trật tự, một gia đình yên ổn. Vì kinh thánh Qram, trong phần Sunna dẫn dắt người giáo hữu trong đời sống xã hội hằng ngày : đọc kinh và quỳ lạy năm lần, không uống rượu, và ăn chay một tháng trong năm. Những người dân của thế giới hồi giáo quen với những tập quán sanh hoạt tập thể ấy, quen với những suy nghĩ tập quán ấy, lễ nghĩa gia đình, nhà thờ, nên những quan niệm tự do cá nhơn thường bị xem là những xáo trộn làm mầt trật tự, lề lối tập tục gia đình và xã hôi…
 
Xã hội Việt Nam kém đạo đức : kết quả của 60 năm đàn áp tôn giáo, phá vỡ nền văn hóa và giáo dục truyền thống lễ nghĩa tam giáo :
Chúng ta cũng nên mở một dấu ngoặc nho nhỏ để nói đến tình trạng của  Việt Nam :
Cũng như các quốc gia Bắc Phi vừa nói trên, độc tài Việt Cộng đã cầm quyền suốt 60 năm, đã phá vỡ hoàn toàn những sanh hoạt xã hội theo tập tục và nền nếp gia đình. Đảng Cộng sản buộc con người phải sanh hoạt thoát ly khỏi cái nôi gia đình, khỏi cái tập tục gia đình và tôn giáo. Từ thuở nhỏ những con trẻ đã phải nhập vào đoàn, và nhóm, gia đình cha mẹ cũng vậy cũng phải sanh hoạt tập thể. Gia đình chỉ còn là một cuộc gặp gở qua loa với nhau.  Thời gian họp, thời gian ăn nhậu với nhau nhiều hơn thời gian cha mẹ con cái nói chuyện với nhau. Chúng ta đừng ngạc nhiên khi nhận xét những thái độ kém đạo đức, kém văn hoá của người Việt Nam hiện nay. Cái tổ ấm gia đình không còn nữa, cái giáo dục gia đình không còn nữa, thi cái văn hoá cái đạo đức gia đình cũng không còn. Những con người Việt Nam mới do giáo dục của những đoàn, những đội, những khăn đỏ, khăn xanh… và sau đó của đảng thì làm sao biết có tình tha nhơn. Người không nói đạo đức, lễ nghĩa , đàng hoàng, tử tế nữa, mà chỉ nói đạo đức cách mạng ?  Còn lại những từ ngữ rỗng tuết như :  phấn đấu, tranh thủ, nào là tranh giành, nào là cạnh tranh, nào là mánh mun, là đội, là đạp …  để sống còn vương lên, vượt lên để tìm chút, tiền, chút ánh sáng, chút ơn trên, chút ban, chút phát, chút thưởng…tí mề đay, tí tiền bạc,  tí danh vọng ! Nhà xinh phải trị giá, việc làm tốt phải lương cao, bộc tốt.. Học nghề  thì phải học nghề gì làm bao nhiêu tiền … Không nghe ai nói thích nghề ấy vì yêu nghề ấy !

Ngày mai muốn trở về một Việt Nam tử tế, làm sao hãy cố gắng tìm lại những khung sườn đạo đức ? Vì vậy chúng ta sẽ không nên ngạc nhiên khi những tôn giáo sẽ giữ những chức năng chánh trị đầu tiên sau một cuộc cách mạng lật đổ độc tài. Tại Nga, Ba lan, Đông Đức, những hoạt động đầu tiên hậu cộng sản là những hoạt động tôn giáo.

Nhưng chúng ta :     
Trái lại, hãy cảnh giác, hãy thận trọng với  những thuyết quốc gia dân tộc, ngày nay vì khủng hoảng kinh tế các quốc gia Âu châu đang sửa soạn co mình lại, bế môn tỏa cảng, không dám mở cửa để có một chánh sách cởi mở, một chánh sách nhơn bản xã hôi. Những đảng phái cực hữu dùng những bài hát dân tộc, huyết thống đang bắt đầu đưa những tư tưởng bảo vệ làng mạc, máu huyết, đất đai để chận những di chuyển hôi nhập từ bên ngoài.

Đừng để những tư tưởng kỳ thị, nghi kỵ, mặc cảm bóp méo những tự hào lý lịch. Đừng nhầm tưởng lẫn lộn văn hóa dân tộc và huyết thống, giang sơn đất nước và quê hương làng mạc.

Iran cũng đang sử dụng cả Hồi giáo và tư tưởng dân tộc với tham vọng sẽ là cường quốc số một của Trung Đông thay thế lỗ trống Irak và Syrie. Nhưng vì muốn là cường quốc số hai địa phương có vũ khí hạt nhơn nên và sẽ là một điểm nóng mới cho Trung Đông vào năm 2012.
 
Năm 2012, Nhâm Thìn, năm mới, người mới, quản trị mới :
 Năm 2012 cũng sẽ là năm của những cuộc bầu cử mới. Huê Kỳ, Pháp, với  những chánh phủ mới, những lãnh đạo mới, nhưng dù các vị cũ được bầu lại chăng đi nữa, cũng sẽ đưa ra những đường hướng lãnh đạo chánh trị mới, vì với cuộc khủng hoảng tài chánh kinh tế năm 2011, từ nay  bắt buộc phải có một đường hướng quản trị mới, hạn chế hoang phí, hạ bớt công nợ, ..Thế nhưng, phải làm thế nào chưa ai nắm rõ : một Ngân hàng trung ương thế giới ? World Bank . IMF, có rồi để làm sở chửa lữa cho những quốc gia chẳng may bị cháy nhà, nhưng nguồn nước nghĩa là nguồn tiền từ đâu ? ai lãnh đạo ? Mỹ, Âu châu như hiện nay ? hay người bỏ tiền nhiều nhứt ? Một Liên bang âu châu để cùng ngoại giao hiệp thương với Liên bang Mỹ, với Liên bang Đông Nam Á, Liên bang Đông Á ? …  .

Năm 2011 cũng là năm của sự lớn mạnh của vai trò bốn quốc gia đang lên : Ba tây, Ấn độ, Trung Quốc, Nga (BRIC). Nếu vài năm trước, 4 quốc gia BRIC nầy đã tương đối mạnh, năm 2011 với khủng hoảng đồng Euro, vai trò các quốc gia BRIC càng rõ ràng hơn. Năm 2012 Nga sẽ thay đổi lãnh đạo, Vladimir Poutine sẽ trở lại  quyền Tổng Thống, từ lâu nay Poutine khuyến khích tin thần quốc gia dân tộc Slave của Nga. Khác với đương kim Tổng thống Medvedev, Vladimir  Poutine sẽ cũng cố Nga trong hướng phát dân tộc  ấy. Ba Tây với nữ Tổng thống đầu tiên Dilma Rousseff, đệ tử của cựu Tổng thống Lula đang đưa Ba Tây bước lên hàng số một của Nam Mỹ. Ba Tây với tham vọng đứng hàng số tám của thế giới* Ấn độ với dân số ngày nay đứng hàng số một của thế giới, vượt qua mặt anh Trung Quốc vĩ đại đầy tham vọng, Ấn độ cũng sẽ là một cường quốc ngày nay đã đứng hàng số tám về tổng sản lượng với tham vọng sẽ lên hàng thứ ba vào năm 2050*, Ấn độ vế mặt chiến lược kiểm soát Ấn độ Dương con đường huyết mạch tiếp liệu nguốn sống Đông Tây của Trung Quốc, dầu hỏa, nguyên liệu từ Trung Đông sang Tàu, hay hàng hóa từ Tàu chở đi Âu châu. . .Không phải là không có lý do khi Mỹ vẫn tăng cường đảo chiến lược Diégo Garcia (thuộc Anh). Giữ Diégo Garcia, lập Hiệp Ước đồng minh với Ấn độ Huê kỳ và Nato sẽ kiểm soát đường tiếp vận của Trung Quốc. Cường quốc đang lên số một của BRIC là Trung Quốc. Khỏi cần giới thiệu, chúng ta ai ai cũng biết Trung Quốc hiện nay là số một về mặt kinh tế tài chánh rồi. Trung Quốc là ông chủ nợ của Huêkỳ và Liên Âu. Trung Quốc vì vậy, phải bảo vệ thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình. Trung Quốc giàu thật đấy nhưng người dân Trung Quốc vẫn còn nghẻo lằm ! Tổng sản lượng hằng năm đầu người vẫn chỉ 2.396$ (để so sánh Mỹ là 36.354$, Pháp là 23.881$ hay Đức là 25.083$).
 
Và Đông Nam Á ? :
2011, Đông Nam Á chúng ta cũng có nhiều biến chuyển. Vai trò ASEAN củng cố hơn và cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, càng cứng rắn hơn khi Miến Điện với sự lãnh đạo dân sự đã đổi hướng chánh trị, đổi mới, cởi mở hơn,  ôn hòa hơn, dân chủ hơn, chấp nhận trả lại tự do của bà Aung San Sưu Kyi và nhìn nhận sự có mặt và vai trò đối lập trong sanh hoạt chánh trị của mình. Lần lượt Phi, Luật Tân và cả Việt Nam cũng từ từ ra mặt phản kháng Trung Quốc,  và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á gồm 18 quốc gia tại Bali ngày 18/11/2011  cũng đã đồng ý phải quốc tế hoá vấn đề Biển Đông và bác bỏ lập luận của Trung Quốc. Như vậy cuối năm 2011 cũng đánh dấu một sự đồng thuận của các quốc gia có quyền lợi ở Đông Á từ phía bờ cực Đông xa xôi là Huê kỳ, với lời tuyên bố của Tông thống Obama là vấn đề Biển Đông nên được giải quyết một cách đa phương, và còn nhắn nhủ thêm là các phe tranh chập phải cố gắng giải quyết tranh chấp một cách hòa bình phù hợp với luật lệ quốc tế, áp dụng đúng công ước LHQ về Luật biển, cho đến phía bờ Tây với một nước xa lạ với Biển Đông là Ấn độ cũng tỏ thái độ bất đồng tình với đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đồng. Trong một cuộc gặp gở song phương với đồng nhiệm Wen Jia Bao – Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Ấn độ Manmohan Singh đã thông báo là New Delhi vẫn xúc tiến công việc tìm kiếm dầu khí ngoài Biển Đông, tại khu vực được Việt Nam giao quyền khai thác. Theo, ông Singh, đó là một vấn đề thuần túy thương mại ! Tuyên bố nầy đã mặc nhiên bác bỏ lời phản đối chính thức của Beijing cho rằng tập đoàn dầu khí quốc gia Ấn độ đã xâm phạm lãnh hải Trung Quốc. Ông Singh còn lên mặt khuyên nhẹ  Ông đồng nhiệm Tàu Wen rằngcác vấn đề chủ quyền trên Biển Đông từ nay phải được giải quyết trên tinh thần tôn trọng luật lệ quốc tế. Và cái lạ lùng  hơn nữa là thái độ của Thủ tướng Wen và phái đoàn Trung Quốc là vẫn giữ thái độ ôn hoà.
 
2012 Biển Đông sẽ trầm lặng, vì Huê kỳ trở lại Tây Thái Bình Dương ?:
Như vậy 2012 chúng ta có hy vọng một Biển Đông tương đối ôn hòa hơn. Thái độ Phi Luật Tân cứng rắn đã đành, thái độ Việt Nam cũng có tí ngon lành, thay đổi. Vừa qua Thủ tướng Nguyễn Tấn Dủng trong một bài nói cũng nhắc khéo với Trung Quốc là Hoàng sa là của Việt Nam. Và cũng trong bài nói chuyện ấy Thủ tướng Dủng để chứng minh cái chánh thống của chủ quyền Việt Nam trên các quẩn đảo đã nhắc tới cuộc hải chiến anh hùng năm 1974 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Sở dỉ Thủ tướng Dủng nhắc đến là để chứng minh cái tuổi lịch sử của Hoàng sa, và cũng để xóa bỏ cái hiểu lầm của Trung Cộng đối với công hàm Phạm Văn Đồng. Khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhìn nhận cái lãnh hải của Trung Quốc trên vùng Biển ông Phạm Văn Đồng chỉ nhìn nhận những vùng biển thuộc chủ quyền trên miền Bắc vỉ tuyến thứ 17 mà thôi !

 Hoàng sa và Trường sa nằm phía Nam vỉ tuyến thứ 17, thuộc quản trị hành chánh của  Quốc gia Việt Nam và sau Hiệp định Genève của Việt Nam Cộng Hòa. Trung Cộng dùng Hải quân cưởng chiếm Hoàng sa năm 1974 là một cuộc gây hấn đối với Việt Nam Cộngb Hòa.

Công hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay là người thừa kế của Việt Nam Cộng Hòa phải có bổn phận tiếp tục đòi lại cho được phần đất đã bị Trung Cộng cưởng chiếm vào năm 1974.

Cuối năm 2011, Tông thống Obama trong cuộc đi công du 9 ngày qua thăm Canberra (Úc châu) và Indonésia đã công bố một chánh sách mới tại Thái bình Dương. Trong một cuộc họp báo với thủ tướng Úc, bà Julia Gillard, và một ngày sau đó với Quốc hội Úc, Tổng thống Obama công bố kế hoạch « Huê kỳ trở lại Tây Thái bình Dương ». Kế hoạch là trong nhiều năm tới, Hoa kỳ sẽ chuyển quân (2 500 quân) đến đồn trú tại Darwin, một cảng lớn của Bắc Úc Châu.

Nhìn vào bàn đồ, chúng ta có ngay những tên kỷ niệm của bản đồ quân sử trong Thế chiến thứ 2 giửa Nhựt và Mỹ : nào Papua New Guinea với  các trận đánh Port Moresby,  rồi những vùng chiến lược Singapore, Indonésia ( với eo biển chiến lược Malacca), Việt Nam (với cảng chiến lược Cam Ranh), nào là Đài Loan,  Phi luật Tân, Guam … Biển Đông của Đông Nam Á, và Biển Cao Ly  của Vùng Đông Á với Nam Hàn và Nhựt Bổn.
Mỹ trở lại với Tây Thái Bình Dương. Mỹ trở lại với nhóm Liên Minh ANZUS ( New Zeland- Australia – USA) – Liên Minh ANZUS  ký năm 1951, một liên minh đề củng cố Hiệp Ước SEATO – Liên Phòng Đông Nam Á. Mặc dù vào năm 1984, Tân Tây Lan đã từ chối không cho một tàu nguyên tử Mỹ cặp bến, ANZUS có vẽ bị bỏ quên, vì thời điểm ấy không cần thiết. Nhưng, ngày nay, tuyên bố của Huê kỳ vừa qua, trong tình hình mới cũng có nghĩa là một ANZUS mới đang tái sanh ( rồi Tân Tây Lan cũng phải trở lại thôi – cũng như Pháp cũng đã trở lại NATO bốn năm trước đây ! vì cần thiết !).
 
Một SEATO mới ?:
ANZUS và SEATO cũng như NATO phía Ấu châu là những con để của thời chiến tranh lạnh. Sau chiến tranh Việt Nam, SEATO và ANZUS không được nói tới, vì lúc ấy, nếu Huê kỳ có ra khổi Tây Thái Bình Dương đi nữa, sự hiện diện của Hạm đội 7 cũng đủ duy trì thế lực và bảo vệ quyền lợi của Huê Kỳ trong cả Thái binh Dương. Trung Quốc chưa đủ mạnh để có một lực lượng quân sự đáng kể. Nhưng ngày nay, một Trung Quốc đang lớn mạnh về mặt kinh tế đang xây dựng một lực lượng quân sự với một tham vọng làm bá quyền trong vùng, và ra biển lớn để vẩy vùng trên Thái binh Dương. Đến lúc,  Huề kỳ cần phải củng cố lại sức mạnh của mình ở Tây Thái bình Dương.

Mặc dù trong nhiều năm qua đã có một sự sửa soạn rồi, do nhửng chuyến đi lại của ông bộ trưởng bộ quốc phòng Robert Gates, vừa đi thăm để nhắc chừng các quốc gia Đông Nam Á rằng Huê kỳ vẫn quan tâm đến Đông Nam Á. Thế nhưng, Huê Kỳ những năm tháng ấy vẫn còn bận tâm với Irak, với Afghanistan nên các quốc gia Đông Nam Á vẫn còn chưa « dám » ngã hẳn về phía Huê kỳ. Nhưng nay, vì sự « lên gân » quá sức của Trung Quôc. Nào công bố chủ quyền trên Biển Đông, nào thiết lập căn cứ tàu ngầm trên đảo Hải Nam, nào đàn áp và tạo khó khăn cho các công ty nào ký giao kèo khai thác dầu khí với Việt Nam, với Phi luật Tân, rồi chận bắt ngư dân Viêt Nam, cắt cáp các tàu thăm dò của Việt Nam và ngang nhiên « dám »...  chận cả tàu chiến Huê kỳ đang hoạt động thăm dò đáy biển trong hải phận quốc tế.

Ngang ngược của Trung Quốc đã đưa Huê Kỳ nhập cuôc Tây Thái bình Duông là một bài toán sai ? Chưa chắc hẳn vậy. Huê kỳ vẫn chưa hẳn rãnh tay để đóng vai trò đàn anh dầu đàn ở Tây Thái bình Dương. Việc Irak vẫn chưa xong, Việc Afghanistan vẫn chưa ổn, nhưng vì cái thế chẳng đặng đừng thôi. Liên minh ANZUS là khóa cái chốt đường tiếp tế của Tàu từ Ấn độ Dương qua.  Nếu đi đường ngắn thì phài qua eo Malacca, đường trung qua eo Sunda, đường dài qua eo Lombok  nằm trước mặt Darwin. Từ Darwin Mỹ có thể  kiểm soát Trường Sa - quần đảo Spratley cũng không xa lắm.

Huế kỳ nay đã có mặt ở Tây Thái bình dương.  Tại sao không lập lại Liên Phòng Đông Nam Á – SEATO ?  Đừng quên thời SEATO  cũ trước ( thành lập năm 1954 với Úc, Tân Tây Lan, Pháp, Anh, Pakistan, Phi luật Tân, Thái Lan và Huê kỳ) đã có mặt của Pakistan. Ngày nay một SEATO trải dài từ Pakistan, chư hầu tự nhiên của Mỹ qua Ấn độ đến các nước ASEAN là một hàng rào cản đối với sự bành trướng của Trung Quốc về phía Nam. Phần Đông Á với 28.500 quân đồn trú ở Nam Hàn, và hơn 40.000 quân đồn trú tại Nhựt bổn Mỹ có thể khoá miệng Trung quốc mạn Bắc Thái Bình Dương dễ dàng.
 
SEATO mới sẽ  là hàng rào cản quân sự của ASEAN, đối lực với Trung Quốc, giữ độc lập cho Việt Nam :
Tạo lại một SEATO mới cho Đông Nam Á có phải là một ảo tưởng không ? Ngay từ những năm cuối thế kỷ 20, chúng tôi trong những bài viết vẫn nghĩ rằng muốn tránh nạn Hán hóa và bành trướng của Tàu, bảo vệ giang sơn cơ đồ, Việt Nam phải biết dựa vào những Liên Minh vùng với các láng giềng : ASEAN về phát triển kinh tế, Ủy ban Mêkong bảo vệ giòng sông nuôi dưởng vựa lúa miền Nam, và phải cùng các nước cố gắng thành lập lại cái SEATO mới, cũng như SEATO  cũ be bờ chống cộng sản Trung Hoa đỏ và nay sẽ giúp đở Đông Nam Á be bờ chống nạn Hán hóa.

SEATO mới có thể gồm 10 quốc gia ASEAN (Brunei, Cam Bốt, Indônésia, Lao, Malaisya, Myanmar, Phi luật Tân, Singapore, Thái lan, Việt Nam Cộng Hòa thành lập năm 1967 cũng trong chánh sách be bờ chống cộng)  nhưng cũng có thể cộng thêm hai quốc gia phía Tấy là Pakistan và Ấn độ, và phía Bắc là Nam hàn và Nhựt bổn. Chúng tôi không dám nghĩ đến Đài loan, vi hiện nay nếu Đài loan tuy lúc nào cũng ngoài mặt chống Lục địa nhưng trong lòng vẫn Hán tộc. Ấn độ và Pakistan là những kẻ thù không đội trời chung tranh chấp đất đai biên giới : Cachemir là một cái điển hình, Hồi giáo và Ấn giáo là hai. Sự tranh chấp về đất đai là một di tích của thời thuộc địa Anh để lại với đường Mac Mahon vẽ không không chú ý ý đến những cái đặc tính chủng tộc và sanh hoạt cùng lịch sử. Còn nói tranh chấp vì Hồi giáo và Ấn Giáo ? Nếu Pakistan là hoàn toàn Hồi giáo, nhưng với nhiều hệ phái khác nhau, Ấn độ gồm nhiều đạo giáo khác nhau đa số là Ấn giáo, nhưng cũng có của người  đạo Sik, cũng có kẻ đạo B'Hai, Phật giáo, Thiên chúa giáo…. Bên Âu châu người Hy lạp và người Thổ nhỉ Kỳ tuy không đội trời chung với nhau , nhưng cả hai đều ở chung Liên Phòng Đại Tây Dương  - NATO với nhau.
 
NATO ngày nay là hàng rào cản quân sự phía Tây và phía Bắc của Mỹ chống Trung Quốc ! :
Xin mở một dấu ngoặc để nói về NATO hay The North Atlantic Treaty - Tổ chức Organization Hiệp Uớc Bắc Đại Tây Dương được Việt ngữ hóa rõ ràng hơn là Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương là một tổ chức liên minh quân sự của các quốc gia đồng minh Âu châu và Bắc Mỹ để chống khối quân sự Công sản do Liên Sô đứng đầu (Khối quân sự Warsaw). Hiệp Ước ra đời năm ngày 4 tháng 4 năm 1949. Trụ sở được đặt tại Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ, hiện nay gồm 28 thành viên ( hai quốc gia thành viên cuối cùng :Albania và Croatia nhập cuộc tháng 4 /2009), vị Tổng thư ký đương nhiệm là Ông Anders F Rasmussen, người Đan Mạch. NATO ngày nay không còn có nhiệm vụ phòng thủ chống khối Cộng sản nữa, nhiệm vụ chánh là giữ hòa bình, can thiệp, đứng giữ những ký kết tôn trọng đình chiến ở những vùng tranh chấp, …giữa hai quốc gia, giữa hai cộng đồng (thí dụ ở Kosovo, giữ đường ranh giới giữa cộng đồng người Serbes thiên chúa giáo chánh thống và cộng đồng người Kosovars hồi giáo), nhiệm vụ giữ hoà bình  nhưng cũng có thể nổ súng, như vừa qua, giúp đở phe dân chúng nổi dậy Lybie  để chống việc quân đội của nhà độc tài Khadaffi tàn sát dân mình …

NATO cũng trong nhiệm vụ bảo vệ hoà bình thế giới đã ký kết với 22 quốc gia, trong đó có Liên bang Nga, cựu thù của mình, và bốn quốc gia Trung lập : Thụy sĩ, Thụy điển, Áo và Phần lan  lập thành một Liên minh cho Hòa bình (Parnership for Peace). Tất cả 22 thành viên  Liên Minh nầy đều tham dự Hội đồng Hữu nghị Âu châu - Bắc Đại Tây Dương (Euro – Atlantic Partnership Council) để cùng với 28 quốc gia thành viên NATO ( tổng cộng là 50 thành viên) để bàn bạc, tổ chức bảo vệ hoà bình cho tất cả các thành viên. Mặc dù chỉ có 28 thành viên của NATO có đóng góp phương tiện kỹ thuật tài chánh và quân đội ( Huê kỳ đóng góp 46% của tổng số chi tiêu, Anh Pháp Đức Ý 15% còn lại..) và  nhưng các Partnership for Peace cũng phải tùy lúc, tùy vùng lúc cần thiết, giúp đở phương tiện, tiếp viện, tài chánh, kỹ thuật … . Ngoài ra NATO cũng ký trong những chương trình phòng thủ ngoài Âu châu với 8 quốc gia Địa trung Hải gọi là chương trình Đối thoại Điạ trung Hải (1994) : năm nước Bắc Phi : Mauritanie, Maroc, Algérie, Tunisie, Egypte và hai quốc gia Trung đông : Jordan và Israël. Năm 2004 NATO cũng được nhóm Istanbul Cooperation Iniative mời vào  tham dự  Hội đồng hợp tác của vùng Vịnh  Ả Râp (Gulf Cooperation Council) gồm có Bahrein, Qatar, Kuwait và Liên Hiệp ẢRập.

Sở dỉ chúng tôi dài dòng về NATO, để đánh tan với quý độc giả vài quan niệm sai lầm về NATO :
Sai lầm số 1 : NATO chỉ là một Hiệp Ước quân sự của Bắc Mỹ và Âu Châu và chỉ hoạt động trên vùng địa lý  và chỉ có ảnh hưởng Âu châu thôi là một quan niệm sai lầm. Liên bang Nga thí dụ ngày nay tuy chỉ là một NATO partner thôi, nghĩa là  không đóng góp người và vật, tài chánh hay quân sự. Nhưng theo hiệp ước PfP - Partnership for Peace, lúc nào vì nhu cầu hoà bình Nga, cũng có thể cho mượn đường, cho mượn đất đai, địa hình để quân đội NATO sử dụng. Nước Nga không phải chỉ là một quốc gia Âu châu, Nga cũng là một quốc gia Á châu, hải cảng lớn phía Đông của Nga là Vladovostok nằm cạnh biên giới Trung Quốc và Bắc Hàn. Nói tóm lại với Nga, NATO ngày nay nằm cạnh Trung Quốc và kiểm soát, bao vây và chận toàn mạn Bắc Trung Quốc. Với Hiệp Ước PfP (Partnership for Peace), NATO có 5 quốc gia Hồi giáo nói tiếng Thổ nhỉ Kỳ, cựu Sô Viết,  cựu Đé quốc Tamerlan, nằm dọc theo Con đường chiến lược lụa cạnh sát phía Tây Trung Quốc. NATO, tức là Mỹ (40% tổng chi phí là do Mỹ tài trợ), với các đồng minh Nga và 5 quốc gia  cuối tên Stan (Ouzbékistan, Kazakhstan, Kirghizistan, Tadjikistan, Turkménistan) giữ mạn Bắc và mạn Tây của Trung Quốc.

Ngày nay với ANZUS mới, và nếu với SEATO mới,  NATO nghĩa là Huê kỳ có thể bao vây Trung Quốc. Thế giới ngày nay đa cực, nhưng những hiệp ước quân sự phòng thủ do Huê Kỳ tổ chức thế giới tiên tiến vẫn có thể giữ được một quân bình quân sự. Có thể có những cuộc bùng nổ chiến tranh cục bộ , nhưng một cuộc Đại chiến thế giới khó có hy vọng bùng nổ.

Sai lầm số 2
 : Ngày nay không còn  quốc gia trung lập nữa. Những quốc gia có thể chế Trung lập truyền thống như Thụy sĩ, Thụy Điển, Đảo Malte, hay thể chế mới như Áo hay Phần Lan hay Ireland cũng không còn nữa vì tất cả đều nằm trong chương trình PfP. Thụy sĩ vừa qua đã chấp nhận ra lệnh  cho các Ngân hàng Thụy sĩ  mình sẳn sàng trả lời những câu hỏi về những tài mục do các thân chủ mình cất gởi, nếu có trát Tòa án . Như vậy thái độ Trung lập của Thụy sĩ không còn nữa.

Các nhà trí thức  và học giả Việt Nam không theo dõi thời sự vẫn còn mơ các thời Thế giới lưởng cực của chiến tranh lạnh ý thức hệ.  Mơ rằng khi có hai bên chiến tranh ,Việt Nam ta ở giữa, ta nên  trung lập. Thế giới ngày nay là thế giới đa cực. Huê Kỳ, Âu Châu, Trung Quốc, Nga, Nhựt … đều là những thế lực lớn để lôi kéo tranh giành ảnh hưởng. Nhưng đó là những ảnh hưởng kinh tế. Nhưng về mặt quân sự, sức mạnh quân sự hiện vẫn còn trong bàn tay của Mỹ ? Âu Châu và Nga tuy kém hơn,  nhưng về mặt kỹ thuật vẫn còn hiệu lực cao.

Trước nguy cơ ngày nay của khủng bố Al Quaida, người ta có cảm tưởng về mặt quân sự,  là Mỹ và NATO thất bại. Người ta chỉ nhìn vào con số tổn thất người chết, của cải, tiền bạc… , người ta không nghĩ rằng từ ngày 11/9/2001 đến nay trên 10 năm, thế giới sanh sống bình thường, giao thông yên ổn, làm ăn đàng hoàng….

Sau một vòng du lịch quanh thế giới, lời kết xin giành riêng cho Việt Nam :
 
Việt Nam năm 2012 : phải thay đổi, chỉ thay đổi và thay đổi để tồn tại:
Năm 2012, Việt Nam đang bước vào một vận hội mới. Kinh tế bi quan, hết ngoại tệ, lạm phát, bong bóng nhà đất thế nào cũng nổ, nếu không nổ rồi. …  Nhưng trái lại ngày nay dám nói với Trung Quốc rằng Hoàng sa Trường sa là của Việt Nam ( chiếu lời nói của Thủ tướng Dủng vừa qua).
Vì vậy, đây là lần đầu tiên, Quan và dân đều nói được tiếng nói Chống Tàu. Nói được tiếng nói Dân tộc, Độc lập. Việt Nam còn nhiều tiền. Tiền ở  tài sản của Đảng Cộng sản, tiền nơi tài sản riêng của các đảng viên, tiền ở  giới tài phiệt Việt Nam, ở các các đại gia Việt Nam, Dân Việt Nam nghèo, đất nước Việt Nam Nghèo, nhưng đảng Cộng sản Việt Nam, các đảng viên, giới tài phiệt Việt Nam rất giàu.  

Hãy tạo Một quỹ cứu nước để kêu gọi các tài sản ấy đóng góp. Đây là cái dịp để Cứu Đất Nước. Đảng Công sản có cái dịp ngàn năm một thuở trở về với dân Việt Nam. Nếu thực sự Đảng Cộng sản là đảng của dân, dẫn dắt dân, thì ngảy hôm nay, Đảng, đảng viên, và gia đình và các người sống nhờ Đảng hãy mở hầu bao để cứu dân Việt Nam.

Đó là về mặt kinh tế tài chánh.

Về mặt quân sự hãy cùng ASEAN thành lập một SEATO mới để tạo một đối lực quân sự  với Trung Quốc.

Muốn có Hòa Bình phải biết sửa soạn chiến tranh
. Qui veut la Paix prépare la Guerre !.

Cũng vì lẽ ấy mà Huê Kỳ đổ bộ vào Darwin (Úc Châu)./.
 
 Phan Văn Song
 
*Bảng sắp hạng 10 cường quốc năm 2050
 (theo Tổng sản lượng quốc gia hằng năm) :
 
1/ Trung Quốc      24. 617 tỷ US$    (  thứ tự 2010 : 3  TSL đầu người 2010 /2050 : 2.396 /17.372 )
2/ Huê Kỳ            22. 270 tỷ US$    ( 1  : 36. 354 / 55. 134 ) Số 2 năm 2050 về TSL/đầu người
3/ Ấn độ                8. 151 tỷ           ( 8  :      790/     5. 060 )
4/ Nhựt Bổn          6. 429 tỷ            (2  : 39. 435/ 63. 244 số 1 năm 2050 về TSL/đầu người.
5/ Đức                  3. 714 tỷ            (4  : 25. 083/ 52. 683 ) số 3
6/ Anh Quốc         3. 576 tỷ            (5  : 27.646/  49. 412 ) số 5
7/ Ba Tây             2. 960 tỷ            (9  :   4. 711/ 13.547 )
8/ Mể Tây Cơ       2. 810 tỷ            (13 :  6.217/  21. 793)
9/ Pháp               2.750 tỷ             (6  : 23. 881/  40. 643 ) số 6
10/ Canada          2.287 tỷ             (10 : 26. 335/  51.485 ) số 4
 
Năm 2050 Trung Quốc sẽ là quốc gia giàu nhứt thế giới.
Nhưng người Nhựt sẽ là người có bình quân Tổng sản lượng nhứt thế giới (người giàu nhứt)
Và theo thứ tự các quốc gia tiên tiến Huê kỳ, Đức,  Canada, Anh, Pháp vẫn có những công dân giàu.  Nhóm nầy G6 vẫn ngon lành như thường .

Chúc quý vị một Mùa Xuân Năm Thìn an lành.