03 August 2012

Tại sao viết về chính trị?


Nguyễn Hưng Quốc

các cuộc gặp gỡ với bạn bè cũng như với độc giả trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, một trong các câu hỏi tôi nghe nhiều nhất là: Tại sao mấy năm gần đây tôi lại quay sang viết về chính trị, hơn nữa, càng ngày càng viết nhiều về chính trị?

Câu trả lời của tôi, rất đơn giản, thế này: Với người cầm bút lưu vong, việc viết về chính trị là điều bình thường. Gần như là tự nhiên. Đáng lẽ nó không gợi nên bất cứ một thắc mắc nào cả.

Có ba lý do chính.

Thứ nhất, lưu vong, đặc biệt lưu vong của người tị nạn, tự bản chất, là một sự lựa chọn chính trị. Có người ra đi vì chính trị, vì những đe dọa bắt bớ, tù đày, thậm chí, hãm hại; nhưng cũng có người ra đi chỉ vì những khó khăn và bế tắc về kinh tế; nhưng dù bất cứ lý do gì đi nữa, việc quyết định rời khỏi đất nước để sống hẳn ở hải ngoại cũng vẫn là một lựa chọn mang tính chính trị. Đó không phải chỉ là sự lựa chọn giữa hai công việc hay hai địa điểm cư trú mà còn là sự lựa chọn giữa hai quốc gia, hai thể chế, hai tương lai, hai cái nơi mình sẽ được nằm xuống trong chuyến đi lần cuối. Với bất cứ người nào, sự lựa chọn như thế cũng đều quan trọng. Với người Việt Nam, vốn không hề có truyền thống phiêu lưu và vốn có tâm lý gắn bó với cái gọi là quê cha đất tổ, sự lựa chọn ấy lại càng quan trọng. Chắc chắn đó là một trong những lựa chọn quan trọng nhất trong đời.

Thứ hai, trước một lựa chọn như thế, người ta không thể không dằn vặt, không day dứt. Sự dằn vặt và day dứt ấy sẽ còn lại mãi. Như một ám ảnh không nguôi. Một trong những nét tâm lý nổi bật của những người lưu vong được giới nghiên cứu đề cập đến nhiều nhất là tâm lý bất an, lúc nào cũng thấy lạc lõng, không bám vào một không gian nhất định nào cả. Với quê gốc, đã xa lắc, người ta không muốn hoặc không thể trở về hẳn. Với quê khách, nơi người ta đang sống và có lẽ sẽ sống đến cuối đời, người ta mãi mãi thấy xa lạ. Người ta sống ở đây mà không ngớt hướng về bên nọ. Tâm lý của người lưu vong là tâm lý ở-giữa (in-between). Giữa hai quốc gia và hai nền văn hóa. Giữa quá khứ và hiện tại. Giữa hoài niệm và ước mơ. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những người lưu vong, thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng bị ám ảnh về chính trị ở quê nhà. Cứ gặp người lưu vong là lại nghe chuyện chính trị.

Trước khi chế độ cộng sản ở Nga và Đông Âu sụp đổ, những người lưu vong đến từ Nga và Đông Âu, ở Tây phương, cũng túm tụm với nhau, trong các quán cà phê, ngày này sang ngày khác, bàn chuyện chính trị như thế. Người Việt Nam cũng không khác. Ghé bất cứ quán cà phê Việt Nam nào ở ngoại quốc, đặc biệt ở California, chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy những người khách quen thuộc, dường như đến đó mỗi ngày, chỉ để bàn mỗi một chuyện: chính trị Việt Nam. Mà đó hẳn không phải là ngoại lệ. Cứ quan sát các bữa ăn chung với bạn bè trong nhà mà xem. Đề tài phổ biến nhất cũng vẫn là chuyện chính trị. Có thể nói, rời khỏi quê hương, bất cứ người lưu vong nào cũng bị siết chặt bởi vòng kim cô chính trị. Không thể thoát được.

Thứ ba,
chính trị không phải chỉ là một chọn lựa bước đầu hay một ám ảnh không dứt; với người lưu vong, chính trị còn gắn liền với ý niệm về bản sắc, nghĩa là, nói cách khác, chính trị trở thành một yếu tố có tính bản thể luận để định nghĩa mỗi người, để giải thích lý do tại sao người ta lại sống (và chết) ở đây chứ không phải là bất cứ nơi nào khác. Ngày xưa, Aristotle từng nói: con người là một con vật chính trị. Câu nói ấy càng đúng với người lưu vong: Mỗi người lưu vong nhất thiết phải là một con vật chính trị. Người lưu vong nào, nhất là những người lưu vong thuộc thế hệ thứ nhất, tuyên bố mình không quan tâm đến chính trị, không hề nghĩ đến chính trị, người ấy đang nói dối hoặc đang tự đánh lừa mình. Sự thực, khi bản sắc của họ được định nghĩa bằng chính trị; họ không thể thoát được chính trị. Trừ phi họ muốn tự phủ nhận chính họ.

Với ba lý do ấy, không có gì lạ khi một người cầm bút lưu vong bàn đến chính trị. Đó là phản ứng tự nhiên và bình thường. Với họ, chỉ có việc né tránh chính trị mới là một cố gắng đầy ý thức một cách không tự nhiên và không bình thường. Xin nói ngay: cái gọi là "không tự nhiên" và "không bình thường" ở đây nên được hiểu từ góc độ tâm lý. Chứ không phải là đạo đức học. Tức không gắn liền với hàm ý phê phán nào cả. Đó chỉ là một chọn lựa của từng cá nhân. Mỗi chọn lựa đều có những lý do nhất định. Trong một xã hội dân chủ, chúng ta hoàn toàn tôn trọng những lựa chọn như thế. Hơn nữa, từ góc độ văn học và nghệ thuật, không có chọn lựa nào đúng hơn chọn lựa nào. Người cầm bút chỉ nên được đánh giá ở kết quả cuối cùng: Tác phẩm. Và tác phẩm chỉ nên được đánh giá từ một tiêu điểm: thẩm mỹ.

Nói né tránh chính trị là một lựa chọn có ý thức cũng có nghĩa là muốn nói: Đó chỉ là chuyện bên ngoài. Sâu trong tiềm thức và lẩn khuất trong từng giấc mơ của mỗi người lưu vong bao giờ cũng có những con ma chính trị không ngừng gào thét.

Sự khác biệt giữa người này và người khác, cũng như, ở mỗi người, giữa thời điểm này và thời điểm khác, chỉ ở cách thế hành xử với những con ma ấy mà thôi.

http://bit.ly/NWKy18

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

02 August 2012

Xin tiễn biệt bà Liêng được trở về Cõi Phật!


Ts. Đặng Huy Văn

Ngày 30/7/2012, cư dân mạng cả trong và ngoài nước bất ngờ nhận được tin tự thiêu của bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của chị Tạ Phong Tần, một nhà báo tự do đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam đã được Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) trao giải thưởng vì nhân quyền năm 2011. Bà Liêng đã qua đời khi đang trên đường tới bệnh viện Chợ Rẫy để cấp cứu. Theo những người con của bà Liêng cho biết, trước khi quyết định tự thiêu cạnh trụ sở UBND TP Bạc Liêu, bà rất bức xúc vì con gái bà, chị Tạ Phong Tần đang bị giam giữ trái pháp luật và sắp bị đưa ra tòa xét xử ngày7/8, cùng với việc chính quyền Bạc Liêu đã cấp sổ đỏ cho kẻ đã chiếm dụng bất hợp pháp mảnh đất của gia đình bà mà bà khiếu nại nhiều lần nhưng không được chính quyền giải quyết.

Sáng nay, ngày 2/8/2012, gia đình cùng nhân dân sẽ tiễn đưa bà về cõi Phật nên tôi viết bài này như một nén tâm nhang kính viếng hương hồn người Phật tử đáng kính.

Xin tiễn biệt bà Liêng được trở về Cõi Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!
...
Bà Liêng ơi!

Hôm nay ngày 2/8
Cả nước yêu thương đưa tiễn trái tim bà
Về Cõi Phật nơi trời cao xanh thẳm
Để cứu người bất hạnh Việt Nam ta!

Xin bà lạy Đức Phật Tổ A Di Đà
Hãy thương lấy các con dân nước Việt!
Nếu phải tiếp tục sống lầm than
Xin Người cho được chết
Để cứu độ chúng sinh
Cùng phúc đẳng hà sa!

Xin các phật tử hãy tụng kinh
Đưa tiễn bà Liêng về Cõi Phật!
Cầu Quốc Thái Dân An
Cho cả nước Việt Nam ta!
Diệt hết lũ độc tài
Không còn phường tham nhũng
Đánh đuổi bọn bán nước buôn dân
Quét sạch giặc Tam Sa(*)
Để không còn những bà mẹ
Vì dân oan mà tuẫn tiết
Không còn những người yêu tự do
Bị bắt bớ, ra tòa!


Bà Liêng ơi!

Hôm nay không phải
Chỉ có Tạ Phong Tần đau
Mà tất cả chúng tôi đau!
Không phải chỉ có con cháu bà phẫn uất
Mà cả dân tộc này phẫn uất!
Cái chết của bà
Là tiếng kêu Thiêng Liêng nhất
Để 91 triệu dân cùng xiết chặt tay nhau
Đạp đổ chế độ tham nhũng độc tài
Tay sai của giặc Tàu xâm lược
Con thuyền dân chủ, tự do
Ngày cập bến chẳng xa đâu!


Bà Liêng ơi!

Con cháu bà hôm nay
Không còn nước mắt để khóc
Cho người mẹ, người bà
Đã quá đỗi thân thương!
Vì căm hận lũ quan tham
Từ trung ương đến mọi miền đất nước
Đang vì tiền mà tiếp tay cho kẻ gian
Khắp quận, huyện, thôn, phường...


Ngày 7/8 này

Tạ Phong Tần và các bạn chị sẽ ra giữa công đường
Dù mẹ đã mất nhưng vẫn còn dân cả nước yêu thương
Sẽ tiếp cho chị và bạn bè thêm sức mạnh
Để có thể hét thật to vào mặt lũ bất lương:

"Đã đảo những kẻ bán rẻ Biển Đông cho Hoa cộng!
"Những kẻ dày xéo dân ta trải mấy chục năm trời
"Giờ đã đến lúc bọn bay phải cáo chung cơ chế
"Tham nhũng, độc tài, thối nát tanh hôi!"


Bà Liêng ơi!

Xin chúc bà được bình an khi trở về Cõi Phật!
Từ những oan trái, bất công, gian dối của cõi người
Bà đã để lại cho đời Tạ Phong Tần đẹp nhất!
Người con gái nhân hậu, can trường
Đã chiếm trọn trái tim tôi!


Hà Nội, sáng 2/8/2012
Ts. Đặng Huy Văn

----------------------

(*) "Giặc Tam Sa": Ngày 24/7/2012, bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh đã ngang ngược ra mắt cái gọi là "thành phố Tam Sa" bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bất chấp Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc Hội thông qua ngày 22/6/ 2012 đã ghi ngay trang đầu: Hoàng Sa , Trường Sa là của Việt Nam.

Ý nghĩa xâu chuỗi hay tràng hạt


Thích Phước Thái

Hỏi: Là một Phật tử tu theo pháp môn niệm Phật, con thường lần tràng hạt để niệm Phật. Tuy nhiên, thú thật là con chưa hiểu rõ ý nghĩa của nó như thế nào. Tại sao phải xâu kết làm 108 hạt, mà không phải là 107 hay 109? Như vậy, 108 có ý nghĩa gì? Và tại sao khi niệm Phật, tay cần phải lần chuỗi? Nó có công dụng gì cho việc diệt trừ phiền não không?
Đáp: Tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện khác. Trong Phật giáo có vô số phương tiện. Mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.
Thí dụ như cái mõ, cái chuông, cái trống v.v… Điều quan trọng cần nêu ra là: Nương phương tiện để đạt cứu cánh, tức như nhờ nôm mà bắt được cá, nhờ ná mà bắn được chim. Nếu nói theo cung cách ngôn ngữ của nhà Thiền thì "kiến sắc minh tâm". Nói cách khác là: "nương sự để hiển lý, sự lý phải viên dung". Đó là cái chủ đích chính yếu mà Phật giáo nhắm tới và đó cũng là thái độ khôn khéo của người tu học Phật.

Câu hỏi thứ nhứt là tại sao người ta xâu chuỗi kết 108 hạt mà không phải 107 hay 109 ?

Xin thưa:  sở dĩ có con số 108, là vì người ta đem 6 căn, 6 trần và 6 thức cộng lại, thành ra thập bát giới (18) rồi nhân cho 6 món căn bản phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) thành ra có con số là 108 (18 x 6  = 108). Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi cũng xin được giải thích thêm một chút về con số 108 tượng trưng nầy.
Như chúng ta đều biết, trong khế kinh Phật có dạy, sở dĩ chúng sanh cứ trôi lăn mãi trong vòng sanh tử luân hồi, gốc từ ở nơi vô minh. Mà vô minh có ra, gốc từ ở nơi căn, trần và thức. Thường gọi chung là Thập bát giới.
Ba thứ nầy, nếu xét kỹ, thì chúng ta thấy, lỗi là ở nơi căn và thức, chớ trần (6 trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) không có lỗi gì cả, vì chúng chỉ là đối tượng nhận thức của căn và thức mà thôi. Khi căn (tức 6 căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với trần (6 trần nói trên) khởi thức (6 thức nói trên) phân biệt. Khi ý thức phân biệt lại cộng thêm 6 món căn bản phiền não vào. Nói rõ hơn là 6 món căn bản phiền não nói trên, chúng hợp tác cùng chung làm việc với Ý thức một cách rất chặt chẽ, đắc lực, nên mới có phân biệt tốt xấu, rồi sanh  tâm yêu ghét. Cái niệm yêu ghét phát sanh là gốc từ ở nơi: tham, sân, si. Đây là đầu mối của vô minh phiền não (vọng tưởng) .
Từ đó, mới tạo nghiệp để thọ khổ. Nếu nói một cách nghiêm khắc và ngắn gọn hơn nữa, thì như kinh Lăng Nghiêm, Phật có nêu ra: "luân hồi hay giải thoát, gốc từ ở nơi 6 căn mà ra". Như vậy, cho chúng ta thấy rằng, ba thứ nầy tối hệ trọng mà mỗi hành giả cần phải thẩm sát thật kỹ để đoạn trừ phiền não. Mà muốn đoạn trừ phiền não, thì hành giả cần phải có phương tiện, hay một pháp môn hành trì. Đối với người tu tịnh nghiệp, thì Phật Tổ đều dạy cần phải niệm Phật. Mà pháp môn niệm Phật, để đi đến nhứt tâm, thì bước đầu cần phải có phương tiện để cột tâm. Phương tiện đó, ngoài câu niệm Phật ra, còn cần phải có thêm tràng hạt để lần từng hạt theo mỗi câu hiệu Phật làm chuẩn cứ trong khi niệm Phật công cứ vậy.

Đến câu hỏi thứ hai, tại sao khi niệm Phật, tay phải lần chuỗi?

Xin thưa rằng: không phải nhứt thiết ai niệm Phật cũng lần chuỗi cả. Điều nầy, còn tùy theo căn tánh và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những liên hữu nào đã phát nguyện niệm Phật công cứ, theo lời chư Tổ Liên tông đã chỉ dạy, thì cần nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện.  Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng như chúng ta, tâm chưa thuần nhứt, còn dẫy đầy vọng tưởng tạp loạn, thì tốt hơn hết nên dùng phương tiện tay lần chuỗi, để khi niệm Phật dễ cột tâm hơn, như trên đã nói. Hơn nữa, chúng ta cũng thường nghe nói, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Rồi cũng trong kinh nói:"Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương". Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là để ghi nhớ số không lộn lạo vậy.

Đến câu hỏi thứ ba, nó có công dụng gì cho việc diệt trừ phiền não không?

Xin thưa: đương nhiên là có. Như trên đã nói, công dụng của nó chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, nghĩ xằng, tính bậy, chạy đông, chạy tây, thì đó chỉ là miệng niệm cho có niệm, chứ không thể nào kết quả định tâm được.
Mục đích chính của việc niệm Phật là để được định tâm. Vì niệm Phật là nhớ Phật, đằng nầy Phật không nhớ, mà nhớ những chuyện tào lao khác, niệm như thế, thì đâu có đúng ý nghĩa niệm Phật. Thế nên, muốn sớm mau hết phiền não, thì hành giả phải giữ tâm và tiếng cho hợp nhất và phải thường xuyên khắn khít nhau, đồng thời niệm câu hiệu Phật phải thật cho rành rõ. Trong quyển sách Hạ Thủ Công Phu niệm Phật, Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh có khuyến nhắc người niệm Phật bằng một bài kệ như sau:
Nam mô A Di Đà! 
Không gấp cũng không hưởn 
Tâm tiếng hiệp khắn nhau 
Thường niệm cho rành rõ 
Nhiếp tâm là định học 
Nhận rõ chính huệ học 
Chánh niệm trừ vọng hoặc 
Giới thể đồng thời đủ 
Niệm lực được tương tục 
Đúng nghĩa chấp trì danh 
Nhứt tâm Phật hiện tiền 
Tam muội sự thành tựu 
Đương niệm tức vô niệm 
Niệm tánh vốn tự không 
Tâm làm Phật là Phật 
Chứng lý pháp thân hiện 
Nam Mô A Di Đà! 
Nam Mô A Di Đà! 
Cố gắng hết sức mình 
Cầu đài sen thượng Phẩm.
Thích Phước Thái

người việt nam hèn hạ

Hanwonders

Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.


Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.


Cách đây đã lâu, tôi đọc "người trung quốc xấu xí" của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn "Người Mỹ xấu xí", "Người Nhật Bản xấu xí", rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là "cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…" & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?


Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng "thần tượng Su-Ju" của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?


Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.


Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng "cơm no, áo ấm". Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! "Doanh nhân là chiến sĩ thời bình". Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng "luật im lặng" của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là "lý tưởng Hồ Chí Minh" hay "lý tưởng cộng sản" nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là "phản động".


Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..


Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?


Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.


Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!


Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm "đầy tớ" của nhân dân!


Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.


Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách  của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?


Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…


Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.


Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.


Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.


Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.


Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.


Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.


Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.


Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.


Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!


… còn rất nhiều tin.


Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?


Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.


Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là "nền văn chương than khóc".


Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là "cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…" một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.


Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:

-          Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.

-          Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?

-          Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!


Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.


Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.


Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?


Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.


Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.


Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!

Nghe nói cụ Tản Đà có câu:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!

Cho nên quân ấy mới làm quan.


Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.


Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?


Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?


Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?


Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?

Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?


Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.


Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.


Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?


Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.  


Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam "cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…" đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?


Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là "Mỹ đã đến biển Đông", "bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn",.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã "dạy dỗ" cả đám chóp bu việt nam. "Đĩ" chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà "đĩ" như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?


Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.


Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.

Hanwonders

http://bit.ly/R76wO2

01 August 2012

ĐẠO PHẬT GIÚP GÌ CHO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA?


Đào Văn Bình

Theo Lý Duyên Sinh của nhà Phật, tình yêu khởi đầu từ Thụ. Vì nhìn thấy, ngửi thấy, nghe thấy, sờ thấy, nếm thấy hoặc tưởng tượng tới một người nào đó - dĩ nhiên tòan hương vị ngọt ngào, tòan những êm ái, tốt lành, mộng mơ, quyến rũ, đáng yêu, quý giá - mà sinh Ái (ham muốn)

Kể từ khi đất nước ta bắt đầu có bút tự …thì văn chương, thi phú được dùng để ca ngợi cuộc sống, quê hương, đất nước, ruộng đồng, các gương hiếu học, nề nếp gia phong chẳng hạn như Gia Huấn Ca, đề cao các bậc anh hùng, gái trung trinh tiết liệt chứ không phải dùng để ca ngợi tình yêu. Khi đất nước bị Thực Dân Pháp chiếm đóng và khi nền móng thuộc địa đã vững vàng thì văn hóa Âu Tây tràn vào. Trào lưu văn chương lãng mạn Thế Kỷ 19 lúc bấy giờ làm chóang ngợp thế hệ Tây học và từ đó nền văn hóa cổ truyền xụp đổ. Phong trào văn chương lãng mạn Pháp điển hình có Chateaubriand, Lamartine, Alfred de Musset…chủ trương than mây, khóc gió, tán dương phụ nữ và những tình cảm lãng mạn. Sự biến đổi bình thường của thời tiết như từ Thu sang Đông đã làm tốn bao giấy mực và nước mắt vì các nhà văn, nhà thơ này cho rằng "Mùa Thu Chết". Khi Tự Lực Văn Đòan ra đời thì hình ảnh êm đềm của thời xa xưa như "chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa", ôm con hóa đá để chờ chồng của Nàng Tô Thị, "chàng đọc sách ngâm thơ, nàng bên khung cửi" trở thành lạc hậu. Những câu tục ngữ, ca dao như "Chồng giận thì vợ làm lành. Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì?" trở thành cổ hủ, cần phải lọai bỏ. Vợ chồng "tân thời theo Tây học" bây giờ không nhường nhịn nhau mà cần phải tranh cãi cho ra lý lẽ. Văn chương, chữ nghĩa không còn được dùng để ca ngợi tình nghĩa vợ chồng, hạnh phúc gia đình mà là để ca ngợi tình yêu. Huy Cận không mơ một mái ấm gia đình mà chỉ mơ được ngồi quạt hầu cho người con gái ngủ ngày:

Nắng chia nửa bãi chiều rồi.

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.

Sợi buồn con nhện giăng mau.

Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây.

Trong Trống Mái, Khái Hưng đã dựng lên một truyện tình lãng mạn gần như không tưởng trong một dịp nghí mát của Hiền "một thiếu nữ đẹp và giàu" ở đất Hà Thành làm cho bao chàng, kể cả Lưu – sinh viên năm thứ ba Trường Luật mê mệt. Hiền đã có lúc mê Vọi - một chàng thanh niên đánh cá quê mùa ở Sầm Sơn chỉ với thân hình vạm vỡ. Khi Hiền trở về Hà Nội thì quên mất Vọi, nhưng Vọi lại tương tư Hiền. Trước khi Vọi chết vì cá nhà táng (cá voi), Vọi đã khắc hai chữ V.H (Vọi và Hiền) lên khắp các ghềnh đá ở hai Hòn Trống và Hòn Mái. Đọan kết của câu truyện thật mù mờ…không ngòai mục đích dựng lên một truyện phiêu lưu tình cảm, làm rối rắm thêm cuộc đời và không giúp ích gì cho cuộc sống thực, hạnh phúc thực.

Rồi Đinh Hùng của Miền Nam đã thần thánh hóa đàn bà và tình yêu trong Mê Hồn Ca:

Mười ngón tay dâng lửa nguyện cầu

Hỡi ơi hồn chuyển kiếp về đâu?

Ta xin giữ trọn lòng trinh bạch.

Ngưỡng mộ em như nữ chúa sầu!

Rồi khi người Mỹ vào Miền Nam với phim ảnh Holywood tràn ngập, tân nhạc nở rộ, công thêm với ảnh hưởng của Francoise Sagan (Pháp) và Quỳnh Dao của Đài Loan thì tình yêu nhiều lúc không còn là bước khởi đầu để tiến tới hôn nhân, xây dựng gia đình, sinh con nối dõi tông đường mà chỉ là…những đam mê, những phóng túng, những phiêu lưu, những lãng mạn không cần biết ngày mai. Thậm chí còn mơ tưởng đến "thú đau thương" tức là mong cầu có đổ vỡ, tan tác, chia ly để tận hưởng xem sự đau thương thú vị như thế nào:

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề (Xuân Diệu)

Như vậy từ thế kỷ trước các văn nghệ sĩ đã "gieo nhân" ngày nay con cháu chúng ta "hái quả" và nghiệp báo chuyển dịch không một sức lực nào ngăn cản nổi.

Ngày nay, tình yêu đã được hằng kho, hằng kho sách vở, báo chí, phim ảnh ca tụng như là một thứ "linh thiêng, thần thánh", một nguồn hạnh phúc, hoan lạc đẹp nhất của kiếp người. Cứ theo những lời ca ngợi nói ở trên, thật không có gì bất hạnh cho bằng không được yêu hoặc không biết tình yêu là gì. Nhìn chung quanh mình, thấy bạn bè, thiên hạ người ta "được yêu" còn mình thì không biết mùi vị tình yêu như thế nào …thì quả thật không có gì "quê mùa", thiệt thòi cho bằng. Cô Susan Boyle, một ngôi sao trong cuộc thi tuyển lựa ca sĩ mới đây tại Anh Quốc than thở rằng từ trước đến giờ cô chưa hề được cậu con trai nào hôn cả! Thế nhưng tình yêu – dù chân thật hay lãng mạn - cũng chính là nguyên do gây ra không biết bao nhiêu khổ đau và còn kéo lê, chắc chắn cho đến ngày tận thế.

- Nước mắt mà tình yêu ngang trái đem đến nếu dung chứa được có lẽ cũng ngập tràn Biển Đông. Ngưu Lang và Chức Nữ một năm gặp nhau có một lần mà lệ nhớ thương nhỏ xuống làm ướt cả trần gian trong những trận mưa Ngâu.

- Hận thù vì tình yêu nếu có hình thể, có lẽ cũng chất đầy trái đất.

- Rên xiết vì tình yêu, bay lên, nếu đọng lại, có lẽ còn nhiều hơn mây trời.

- Tiếc thương vì tình yêu "chắp cánh bay đi" hoặc "dang dở" hoặc "duyên kiếp bẽ bàng" v.v.. còn buồn thê thiết và ảo não hơn mùa đông dài hiu hắt, hơn cả những đám tang…khiến người ta không thiết sống, mà chỉ muốn chết đi cho rảnh nợ. Ai thất tình mà nghe bản nhạc "Con Thuyền Không Bến" của Đặng Thế Phong chắc chỉ muốn uống độc dược quyên sinh.

- Rồi thì những lời than vãn vì "tình yêu đơn côi", "yêu đơn phương ", yêu người mà người chẳng yêu mình, yêu trộm nhớ thầm v.v.. nếu có thể vẽ ra bằng tranh thì chắc chắn không có chỗ mà treo.

Thử vào các khu thương mại Việt Nam ở Hoa Kỳ, hoặc mở bất kỳ một băng Video ca nhạc nào ra, cứ 10 bản nhạc thì đã có tới 7 bản nhạc buồn. Hầu hết đều là những lời lẽ khóc than vì tình yêu ngang trái, bội phản, gian trá, lừa lọc " xin người cứ gian dối, nhưng xin người đừng lìa xa tôi", ghen tuông, hờn giận, trách móc, nuối tiếc, nhớ nhung, đòi hỏi. Xa em một ngày mà tim anh lịm chết. Xa anh một ngày mà tưởng chừng như một thế kỷ "đời vắng em rồi say với ai?". Rồi thì những lời than van thảm thiết "trái tim lẫm lỡ", "trái tim mù lòa". Rồi những tiếng gào thét "Em ở đâu? Anh ở đâu?" v.v…Rồi khi tình yêu đổ vỡ, thậm chí còn giận hờn cả thiên nhiên bằng cách "Đem tình yêu trả lại trăng, sao!".

Đấy là nói về những cặp trai gái yêu nhau rồi bỏ nhau. Còn đối với những cặp trai gái đã yêu nhau thắm thiết, đã trải qua giai đọan thử thách, kết hôn rồi chung sống với nhau, con số ly hôn cũng thật đáng buồn. Tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2004, khoảng 50% các cuộc hôn nhân chấm dứt bằng ly dị, trong đó lứa tuổi từ 20 -24 chiếm tỷ lệ cao nhất. Các cuộc hôn nhân thứ nhì thì 60% đổ vỡ và 74% các cuộc hôn nhân lần thứ ba cũng chấm dứt nơi tòa án. Còn ở Anh, thống kê 2002 cho biết có 160,000 vụ ly dị tức 70% con số kết hôn lần đầu.

Tại Việt Nam, ly hôn đang trên đà gia tăng. Theo thống kê ngày 26/6/2005, năm 2000 có 51,361 vụ ly dị. Tới năm 2005 đã tăng lên 65,929 vụ. Lý do nổi bật gồm: Mẫu thuẫn về lối sống 27%, ngọai tình 25.9%, kinh tế 13% và bạo lực gia đình (đánh chửi nhau) 6.7%. Bây giờ yêu nhau rồi bỏ nhau vì đời sống khó khăn cho thấy giấc mơ "Một túp lều tranh hai quả tim vàng" hay "Đầu tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon" đã không còn nữa.

Như vậy hiển nhiên tình yêu không phải là nguồn hoan lạc như người ta tưởng, mà nó còn ẩn chứa, tiềm tàng một nỗi khổ đau khủng khiếp. Tình yêu vừa là dòng suối mát nhưng cùng lúc nó cũng là ngọn núi lửa thiêu đốt. Tình yêu vừa là mật ngọt nhưng nó cũng là chén thuốc đắng. Tình yêu vừa là sự bao dung nhưng nó cũng là cạm bẫy, hận thù. Tình yêu là cam kết muôn đời nhưng nó cũng là sự lừa lọc. Tình yêu khởi đầu bằng lời hứa hẹn nhưng nó hàm chứa gian trá. Gia đình tưởng như một tổ ấm nuôi dưỡng hai trái tim để đi hết cuộc đời, cuối cùng lại trở thành địa ngục. Cái lối định nghĩa "yêu là chết trong lòng một ít" chỉ làm lung linh, mờ ảo, rối rắm thêm tình yêu chứ thực sự không giúp ích gì cho những người đang yêu và những bạn sắp sửa yêu.

Vậy chúng ta thử mổ xẻ, và đặt những câu hỏi thẳng thắn để xem tình yêu là gì? Câu hỏi cần đặt ra là "Trong tình yêu có thiện tánh ( tốt lành) không?"

1) Yêu là hy sinh: Bởi không có sự hy sinh nào lớn lao và bền bỉ cho bằng hy sinh cho người mình yêu. Yêu là sự hy sinh mà chẳng mong cầu đền đáp.

2) Trong khi yêu, người ta lãng quên được cả không gian lẫn thời gian. Con người lúc đó trở về nơi đương xứ - tức cội nguồn xa thẳm. Khi yêu trái tim người ta bất tử.

3) Yêu là bình đẳng: Bởi vì chỉ có tình yêu mới xóa tan đi mọi phân biệt về chủng tộc, ngôn ngữ, giai cấp, tuổi tác cùng tất cả những ngăn trở do thói đời bày đặt ra để làm khổ con người.

4) Yêu là hòa hợp của lý viên dung: Hai ta tuy hai mà một. Nguồn vui của em cũng là nguồn hạnh phúc của tôi. Nỗi khổ đau của em cũng là nỗi khổ đau của tôi. Khi em vui tôi cũng thấy vui. Khi em buồn thì lòng tôi ảm đạm. Chỗ nào có em nơi đó là thiên đường. Mất có mình em mà tôi cảm thấy như tôi mất cả cuộc đời.

5) Yêu là tuyệt đỉnh của niềm hoan lạc mà người ta không biết nó phát xuất từ đâu mà chỉ có thể nói nó phát xuất từ trái tim con người.

6) Yêu là sự tha thứ. Có tình yêu người ta dễ tha thứ, bỏ qua cho nhau.

Vậy có thể nói trong tình yêu có thiện tánh.

7) Yêu là tột đỉnh của lòng Tham: Yêu là chiếm đoạt toàn diện những gì mà mình thích. Cho nên không thể chia xẻ tình yêu như nhường cơm xẻ áo.

8) Yêu là tột đỉnh của lòng ghen tị (Sân): Yêu là ti tiểu.

9) Yêu là tột đỉnh của lòng kiêu mạn (Mạn): Khi được yêu Cái Tôi ( cái Ngã) được thỏa mãn đầy đủ nhất.

10) Yêu là mặt trái của lòng hận thù (Ác) cho nên từ tình mà đổi thành thù là thế ấy!

11) Yêu là mặt trái của lòng nghi kỵ ẩn tàng (Nghi): Không có sự nghi kỵ nào được khuếch trương lớn cho bằng khi đã nghi kỵ người mình yêu.

12) Yêu là si mê (Si): Bởi nếu không có sự si mê thì tình yêu nhạt nhẽo và có khi chỉ là sự toan tính, trao đổi hay lừa gạt.

Vậy có thể nói trong tình yêu không có thiện tánh.

Tuy nhiên sự phân tích này chỉ mô tả hoặc trình bày cái quả hay hệ quả của tình yêu chứ không nói được tình yêu là gì. Nói một cách khoa học nhất, chúng ta phải định nghĩa tình yêu như thế này: "Tình yêu là lòng ham muốn rồi khát khao chiếm đọat một người đàn ông hay đàn bà - mà người đó ở một thời điểm nào đó - thỏa mãn những khát vọng hoặc về tình dục, hoặc về vật chất hoặc về tinh thần của ta nhất." Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa này thì chúng ta rớt ngay vào Lý Duyên Sinh hay Thập Nhị Nhân Duyên mà Đức Phật dạy cách đây hơn 2500 năm. Thập Nhị Nhân Duyên là mối liên hệ nhân quả, khắng khít giải thích chuỗi Sinh, Tử, Luân Hồi, dĩ nhiên gây khổ đau cho chúng sinh. Mười Hai Mối Liên Hệ ấy như sau:

1. Vô Minh: Chúng sinh không nhìn thấy cái Ngã (cái Tôi) không thật mà cho rằng mình có thật, cho rằng mình thật sự hiện hữu. Vì không nhìn thấy Tánh Không của vạn pháp (của muôn vật) cho nên gọi đó là Vô Minh.

2. Hành : Từ Vô Minh mà có hành vi tạo tác, tức tạo nghiệp.

3. Thức: Vì có hành vi tạo tác cho nên có Thức (ý thức, biết). Do đó nếu ta nằm đó như một khúc gỗ, một cục đá thì không có Thức (ý thức).

4. Danh Sắc: Thức sinh Hình Danh, Sắc Tướng.

5. Lục Căn: Hình Danh, Sắc Tướng sinh Lục Căn. (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân Xác và Ý Thức).

6. Xúc: Lục Căn tiếp xúc với thế giới bên ngòai gọi là Xúc.

7. Thụ: Thụ là cảm nhận của con người khi Tiếp Xúc với thế giới bên ngoài.

8. Ái: Vì cảm thụ cho nên sinh Ái (yêu mến)

9. Thủ: Ái sinh Thủ tức là muốn chiếm đọat, nắm giữ cho mình sau khi Ái.

10. Hữu: Thủ dẫn đến Hữu. Vì sở hữu cho nên thấy vạn pháp, muôn vật đều Có.

11. Sinh: Từ Hữu (Có) dẫn đến Sinh, tức là thấy muôn vật sinh ra.

12. Lão Tử: Vì có Sinh cho nên phải dẫn đến Già, Chết tức Diệt.

Vậy thì theo Lý Duyên Sinh của nhà Phật, tình yêu khởi đầu từ Thụ. Vì nhìn thấy, ngửi thấy, nghe thấy, sờ thấy, nếm thấy hoặc tưởng tượng tới một người nào đó - dĩ nhiên tòan hương vị ngọt ngào, tòan những êm ái, tốt lành, mộng mơ, quyến rũ, đáng yêu, quý giá - mà sinh Ái (ham muốn). Từ Ái mà mong muốn chiếm đọat làm của riêng mình. Tha thiết mong cầu (yêu) mà không được thì buồn khổ đã đành, nhưng cho dù có tình yêu, nhưng vì bản tính của nó vốn Vô Thường cho nên sớm muộn gì cũng phải họai diệt (mất). Mà họai diệt thì sinh khổ đau, phiền não. Lúc 16 tuổi, khi Thái Tử Tất Đạt Đa trao chiếc vòng quý giá lưu niệm cho Công Chúa Gia Du Đà La – hoa hậu của các công chúa thì Thái Tử Tất Đạt Đa đã Yêu. Vì yêu thích cho nên sau đó thái tử đã trổ hết tài năng trong một cuộc thi để đọat (Chấp Thủ) cho được công chúa. Sau khi cưới đựơc công chúa rồi thì thái tử đã Hữu, tức làm chủ người đẹp, tức đã Có. Thế nhưng vượt lên hàng chúng sinh, Thái Tử Tất Đạt Đa nhìn thấy cái gọi là Tình Yêu đó (cái Hữu đó) không bền vững, có ngày nó sẽ họai diệt. Cộng thêm với lòng khát khao cứu độ muôn lòai Thái Tử đã từ bỏ Công Chúa Gia Du Đà La lẫn cung vàng điện ngọc để đi tìm Chân Lý.

Nhìn vào cuộc đời của Đức Phật, là người học Phật, tôi không bao giờ khuyên các bạn chớ yêu, nhưng xin các bạn nhớ cho:

1) Tình yêu bị chi phối bởi Luật Vô Thường như lời Phật dạy. Từng giây, từng phút, từng sát na, từng hơi thở, tình yêu biến đổi không ngừng. Sự biến đổi, thay đổi đó là bình thừơng. Tình yêu là chiếc bình pha-lê lung linh với muôn ngàn màu sắc nhưng mỏng manh và dễ vỡ. Ngày người ta yêu bạn là lúc bạn nhiều tiền lắm của. Khi bạn mất hết của cải, không còn bao bọc nổi người ta nữa, liệu tình yêu còn nguyên vẹn không? Ngày bạn yêu người ta, người ta trẻ đẹp, nay nhan sắc tàn phai, liệu bạn có thay lòng đổi dạ không? Yêu nhau thì dễ, nhưng sống chung với nhau mới khó. Bao nhiêu tính xấu lúc này mới lộ ra, liệu chúng ta có thể tha thứ, bỏ qua, chịu đựng với nhau được không? Và chịu đựng tới bao giờ? Rồi thì sự quản trị, nắm giữ tiền bạc, sự tiêu xài, mối quan hệ giữa gia đình chồng, gia đình vợ, anh chị em cũng là nguyên do đổ vỡ. Có vợ, có chồng rồi nhưng vẫn còn trai lơ, mèo mỡ cũng khiến gia đình tan nát. Những sở thích cá nhân kỳ quái cũng là nguyên do cãi cọ, cơm không lành, canh chẳng ngọt. Người chồng cần kiệm còn người vợ thích ăn xài, mua sắm hoang phí cũng khiến gia đình xào xáo. Người chồng thích trầm tư, đọc sách để mở mang kiến thức còn người vợ lại thích Karaokê, nhảy múa, đi vũ trường, xem hát cũng dễ gây xung đột. Người vợ chí thú làm ăn, còn ông chồng thì tụm năm túm ba, nhậu nhẹt, cờ bạc tối ngày, nói mãi không nghe rồi đưa tới bạo hành. Tiền bạc là của chung nhưng lấy để giúp đỡ cha mẹ, anh chị em mình thì không sao, còn giúp đỡ gia đình chồng thì so đo, ngăn cấm cũng dễ gây bất mãn. Lời ăn tiếng nói, cách dạy dỗ con cái cũng là những bất hòa, nếu không khéo lại đưa nhau ra tòa. Bạn già 70 tuổi, về Việt Nam cưới một cô gái 30 qua đây, liệu đó có phải là tình yêu chân chính không? Hay đó chỉ là sự lừa lọc, trao đổi bán buôn? Và còn hằng trăm, hằng ngàn những thứ đau đầu khác nữa.

2) Tình yêu là sự trói buộc, vướng bận vô cùng phiền tóai. Mối liên hệ vợ chồng tưởng chừng như đơn sơ nhưng vô cùng rắc rối do hai cái Tôi (Ngã) đụng nhau. Xã hội càng văn minh, cái Ngã, cái Tôi lại càng to. Tình yêu như chiếc lồng son đầy gạo thóc và nước uống, nhưng khi con chim vào đó rồi mới thấy đây là ngục tù.

3) Xin bạn đừng vui quá khi được yêu và đừng buồn quá khi không được yêu. Xin bạn nhớ cho rằng tình yêu là để thỏa mãn cái Tôi (cái Ngã). Mà cái Tôi có thể được thỏa mãn bằng nhiều cách chứ không phải chỉ có tình yêu. Ngòai ra, không phải chỉ một một mình người đó mới thỏa mãn bạn, mà biết đâu còn nhiều người khác có thể thỏa mãn cái Tôi của bạn. Vậy thì khi bị phụ rẫy, xin bạn hãy bình tĩnh, đừng căm thù, đừng giết hại người mà bạn đã có lần yêu. Hãy theo tinh thần của Đạt Ma Tổ Sư "Tự Lai Tự Khứ": Còn Duyên Thì Ở Hết Duyên Đi.

Vậy thì:

Hỡi các bạn trẻ đang yêu đương say đắm. Các bạn đừng bao giờ coi tình yêu là thứ trò chơi của tuổi trẻ. Bởi vì trò chơi chỉ là thú giải trí, chán rồi lại bỏ. Đừng bao giờ đánh giá thấp tình yêu như thế các bạn ạ.

Tình yêu là sự giao thoa giữa hai luồng tình cảm và trí tuệ tinh khôi nhất chứ không phải là một thứ nghệ thuật cao để thỏa mãn xác thân. Yêu là gì?

Yêu là yêu mình và yêu người.

Nếu yêu mình ít hơn yêu người - thì tình yêu nguyên vẹn.

Nếu yêu mình lớn hơn yêu người - thì tình yêu gãy đổ.

Nếu cùng lúc hai người đều yêu mình ít hơn yêu người thì tình yêu vuột chạy làm sao được? Bởi thế người ta thường nói tình yêu là sự hy sinh lẫn cho nhau là như thế đó.

Hãy giáo dục nhau qua những chiếc hôn nồng thắm. Các bạn đừng bao giờ để phải rơi vào cái cảnh nhìn người yêu cũ của mình qua đi như một người xa lạ. Bảo là định mệnh trái ngang ư? Không? Đó là sự phản bội, lừa lọc. Bởi một khi lòng người đã quyết thì cái chết chẳng còn sợ hưống chi là những ngăn trở của cuộc đời?

Đừng bao giờ tự biến mình thành một con quỷ tinh khôn. Càng lăn lộn trong tình trường bao nhiêu tâm hồn của bạn càng chai đá bấy nhiêu. Đến một lúc nào đó các bạn sẽ nhìn đời bằng con mắt rã rượi, chán chường. Đừng đánh giá thấp tình yêu như thế. Đừng bao giờ coi tình yêu là thứ trò chơi của tuổi trẻ. Hãy đến với nhau bằng những bước chân của nàng Tiên nhẹ lướt trên mây. Hãy đến với nhau bằng những bước chân mềm như nhung của chú thỏ non ngơ ngác mà tinh khôn. Đừng toan tính. Tuyệt đối đừng toan tính bạn nhé.

Để cuộc đời này đáng sống và sống cho tươi đẹp, xin các bạn cứ Yêu. Nhưng thử tưởng tượng bạn đang ngồi trên một chiếc du thuyền vượt đại dương mà không có phao cấp cứu thì bạn nghĩ thế nào? Giả sử con đường tình ái mà bạn đang đi hòan tòan tốt đẹp cho đến ngày nhắm mắt lìa đời - giống như con tàu cặp bến an toàn thì chẳng cần đến phao cấp cứu làm gì. Nhưng nếu con tàu gặp bão tố và có thể bị chìm đắm thì xin bạn ôm lấy chiếc phao. Chiếc phao cấp cứu ở đây là những lời Phật dạy: Tình yêu giống như vạn vật vốn Vô Thường. Tình yêu chính là cuội nguồn của khổ đau. Ái Dục chính là cội nguồn của Luân Hồi, Sinh Tử tương tục. Khi đó bạn sẽ có lối hành xử nhẹ nhàng, lợi lạc cho mình và không tổn hại cho người. Mất tình yêu lứa đôi chưa phải là mất tất cả. Khi đó bạn có thể dồn hết năng lực, trí tuệ của bạn vào một thứ tình yêu cao cả hơn: Đó là tình yêu cha mẹ, anh chị em, đồng bào, Tổ Quốc và cao hơn nữa là tình yêu đồng lọai./.

Đào Văn Bình

Cầu nguyện cho hương linh Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng


PTTPGQT PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com


THÔNG CÁO BÁO CHÍ NGÀY 31.7.2012

Hòa thượng Thích Viên Định, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, ngỏ lời cầu nguyện cho hương linh Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng và phân ưu Tang quyến chị Tạ Phong Tần


2012-07-31 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 31.7.2012 (PTTPGQT) - Bà Đặng Thị Kim Liêng, thân mẫu chị Tạ Phong Tần, tự thiêu tại khu hành chánh thành phố Bạc Liêu sáng hôm qua, 30.7.2012. Nhưng trên đường xe cứu thương chở về Bệnh viện Chợ Rẫy ở Saigon, bà đã trút hơi thở cuối cùng lúc 15 giờ 30 cùng ngày.

Công an đã yêu cầu hai người con bà Liêng là chị Tạ Khởi Phụng và anh Tạ Hòa Phú phải ký giấy cam kết "không khiếu nại" thì mới cho mang thi thể nạn nhân về với gia đình. Vì thương mẹ hai người phải ký cam kết để đưa mẹ về nhà lúc 21 giờ tối ngày 30.7. Lễ an táng dự trù sẽ cử hành vào ngày Rằm âm lịch, tức 2.8.2012.

Từ khi chị Tạ Phong Tần bị bắt ngày 5.9.2011, bà Liêng cho biết gia đình bà thường trực bị công an áp lực và đe dọa, ép buộc bà viết đơn tố cáo con gái mình theo bài bản công an viết sẵn. Gần đây, lại nghe tin con gái mình sắp bị đưa ra xét xử, với án tù nặng nề và bất công. Nên bà đã lặng lẽ, không cho ai biết, ra khu vực hành chánh Ủy ban Nhân dân tỉnh bạc liêu tự thiêu. Mong đánh thức lương tri nhân loại về thảm trạng của con gái bà mà cũng là ách nạn chung của đất nước Việt Nam.

Sau đây là lời phân ưu của Hòa thượng Thích Viên Định, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) :


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
Chùa Giác Hoa
15/7 Nơ Trang Long, Phường 7, Q. Bình Thạnh, TP Sài Gòn
Phật lịch 2556
Số : 07/VHD/TB/VT


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
TANG QUYẾN CỤ BÀ ĐẶNG THỊ KIM LIÊNG

Viện Hoá Đạo
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất


Được tin :

Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng tự thiêu tại khu hành chánh Thành phố Bạc Liêu để phản đối Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bắt giữ, giam cầm oan ức con gái Bà là cô Tạ Phong Tần và gần đây còn liên tục bị công an khủng bố, đe doạ gia đình bà một cách nghiêm trọng.

Đây là nỗi đau thương, mất mát rất lớn đối với gia đình cô Tạ Phong Tần. Tuy nhiên, việc tự thiêu của Cụ Bà có thể làm ngọn đuốc thức tỉnh nhân tâm đồng thời đánh động thế giới về ách nạn độc tài, độc đảng đã thống trị trên đất nước Việt Nam suốt hơn 60 năm qua.

Viện Hoá Đạo GHPGVNTN cùng chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử thành kính chia buồn cùng tang quyến cô Tạ Phong Tần, và sẽ gửi phái đoàn chư Tăng đến phúng điếu, cầu siêu cho hương linh Cụ Bà.

Cầu nguyện chư Phật tiếp dẫn hương linh Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng vãng sanh về cảnh giới An lành.

Chùa Giác Hoa, Saigon ngày 31.7.2012
Viện trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN
(ấn ký)
Hoà thượng Thích Viên Định