06 August 2012

Vài kỷ niệm với đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa từ trần


  Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 03.8.2012

                                  Vài kỷ niệm với đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa từ trần
Ông Lê Hoàng Hoa, đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa tạ thế tại Sài Gòn đêm 30-7-2012, nơi đã làm nên tên tuổi ông, chứng tỏ tài nghệ vượt trội của ông từ ngày mới bước chân vào làng Điện Ảnh miền Nam VN. Trước hết, xin chia buồn cùng gia đình cố đạo diễn, cầu chúc linh hồn nghệ sĩ sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Di ảnh Đạo diễn LÊ HOÀNG HOA

Trong tôi có nhiều luyến tiếc và đáng tiếc, cũng như có khá nhiều kỷ niệm với anh Lê Hoàng Hoa. Để bạn đọc hiều rõ hơn về sự ra đi gần như quá đột ngột này, tôi xin tóm tắt nguyên văn (xin nhắc lại đúng nguyên văn) những hàng tin gần giống hệt nhau trên các báo ở VN trong mấy ngày qua:


"Đạo diễn "Ván bài lật ngửa" qua đời .
Lê Hoàng Hoa, một trong những đạo diễn nổi tiếng của điện ảnh miền Nam trước năm 1975 qua đời khuya 30/7 tại TP HCM, thọ 79 tuổi.
Cách đây khoảng một tuần, ông bị ngã và được đưa vào cấp cứu tại một bệnh viện. Nhưng sau đó bệnh diễn tiến nặng hơn, đánh gục vị đạo diễn tài hoa. Trước khi qua đời, ông ủy thác cho vài người bạn thân lo phần hậu sự khi ông nằm xuống. Được biết, vợ của đạo diễn Lê Hoàng Hoa hiện đang nằm viện ở Malaysia. Tang lễ của đạo diễn Lê Hoàng Hoa dự kiến được tổ chức tại Nhà tang lễ TP HCM.
Lễ nhập quan đạo diễn Lê Hoàng Hoa sẽ được tổ chức tại nhà tang lễ Bệnh viện An Bình (397 Trần Phú, quận 5) vào lúc 14h chiều 31/7. Lễ truy điệu đạo diễn Lê Hoàng Hoa sẽ được tổ chức lúc 7 giờ ngày 3/8 tại Nhà tang lễ Lê Quý Đôn và sẽ hỏa táng tại Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân.

Đạo diễn Lê Hoàng Hoa tên thật Đoàn Lê Hoa (còn có nghệ danh Khôi Nguyên), sinh năm 1933 tại Nha Trang.
Sau một thời gian dài sống ở Ba Lan, năm 2004, ông về thăm quê và ấp ủ nhiều dự định với điện ảnh. Một số phim nổi tiếng của ông trước 1975 có: Gác chuông nhà thờ, Điệu ru nước mắt, Vết thù trên lưng ngựa hoang... Và sau 1975 là: Ván bài lật ngửa, Đằng sau một số phận, Vĩnh biệt mùa hè, Tình nhỏ làm sao quên, Vĩnh biệt Cali, Lệnh truy nã, Tây Sơn hiệp khách...
Trong đó, Ván bài lật ngửa được xem là một trong những tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam."

Lê Hoàng Hoa cùng con gái duy nhất Michelle Quỳnh Anh (giữa) và vợ Trúc Quỳnh.
Ảnh của đình Đạo diễn Lê Hoàng Hoa
Phim Chân Trời Tím… không có trong sự nghiệp của đạo diễn Lê Hoàng Hoa?
Như bạn đọc đã thấy, khi nhắc tới giai đoạn làm phim của ông trước năm 1975, hầu hết các báo lại dè dặt, không nhắc tới phim Chân Trời Tím. Không phải là người làm tin không biết đến phim này, nhưng vì một lý do nào đó, họ "không thể" nhắc đến. Có lẽ người làm tin cũng cảm thấy có một chút băn khoăn, nhưng… đành vậy thôi.
Tôi hiểu sự "tế nhị" đó và như thế tôi càng hiểu được vị trí của tác giả truyện dài Chân Trời Tím đã chuyển thể thành phim, hiện nay đứng ở cái thế chênh vênh nào. Tôi hoàn toàn không buồn , không lo ngại vì điều đó và thật ra còn thấy… hơi buồn cười và "thú vị" nữa là khác. Chắc bạn đọc ở nước ngoài dễ thông cảm điều đó với tôi. Cái gì người ta cố tình muốn mọi người quên thì người ta lại dễ nhớ. Cái gì muốn "khai tử" hay đúng hơn là "bức tử", thì nó lại dễ trở thành bất tử. Cũng như có một thời người ta "cố tình khai tử" cái gọi là "nhạc vàng", vậy mà nhạc vàng vẫn sống mãi trong lòng mọi người. Nói như thế tôi cố tình ví von phim CTT cũng có giá trị như những bản nhạc bất hủ, chỉ là cùng một trường hợp. Giá trị của tác phẩm chỉ ở trong lòng công chúng, không ai ép nó được.

Vì vậy tôi có bổn phận phải nhắc tới Chận Trời Tím, không phải vì tôi muốn tranh giành hay tự đánh bóng mình vì điều đó hoàn toàn không cần thiết. Hầu hết các nghệ sĩ và người dân, ai đã từng sống ở miền Nam VN trước năm 1975, ai đã từng xem phim, chắc chưa ai quên cái tên phim Chân Trời Tím gắn liền với tên đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Tôi chỉ muốn nhắc đến một sự "chính danh", nhất là cần một thông tin chân thật, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Bởi thế tôi nêu ngay từ đầu tiêu đề bài này là "đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa từ trần".
Một điều khác cần nói, ngay cả cuốn phim "Ván bài lật ngửa", cũng mang tên đạo diễn là Khôi Nguyên, chứ không phải Lê Hoàng Hoa. Vậy "chính danh" ở đây là gì? Lý do nào anh thay tên là chuyện khác, chỉ có anh mới biết.
Tuy nhiên vẫn có một vài bài lẻ tẻ nhắc tới một dòng về Chân Trời Tím khi viết theo nhật  ký của anh Lê Hoàng Hoa. Gần đây trên báo Thanh Niên, trong mục "Điện ảnh Sài Gòn một thuở" lại viết một loạt bài về Đạo Diễn Lê Hoàng Hoa, khi ông còn khỏe mạnh. Chỉ chưa đầy một tuần sau, ông tạ thế. Có một "điềm gở báo trước" gì chăng? Bài này rất dài, hiện còn đang đăng tiếp theo.

Bài đầu tiên, theo nhật ký của người quá cố là những kỷ niệm về khi làm phim Chân Trời Tím. Xin trích nguyên văn một đoạn trong bài này:

- Trích bài "Chân trời tím và cuộc tình bất ngờ" của tác giả Giao HưởngNgày  25/07/2012 trên nhật báo Thanh Niên:
"Chúng tôi đến thăm, được ông đưa mượn cuốn bút ký Những tháng ngày làm phim do ông viết chưa xuất bản, chỉ mới đăng một phần trên tạp chí Kịch Ảnh ấn hành bên Mỹ. Dựa vào nội dung bút ký trên, cũng như một số hồi ức do ông trực tiếp kể lại, chúng tôi trích lược dưới đây những nội dung liên quan đến hoạt động của điện ảnh Sài Gòn năm xưa. Mà trước nhất là chuyện làm phim Chân trời tím - bộ phim điển hình đánh dấu đỉnh cao trong hoạt động nghệ thuật của ông thời trước, cũng là bộ phim để lại kỷ niệm đậm đà về một cuộc tình bất ngờ đã đến với ông ngoài đời đúng vào ngày bấm máy...

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương vào phim với Nửa hồn thương đau
Đó là ngày 11.12.1969 - ngày thu hình phân đoạn (sequence) đầu tiên của phim Chân trời tím tại khách sạn Continental với cảnh nhân vật chính là ca sĩ Liên (Kim Vui đóng) đang buồn thương rã rời khi biết tin người yêu mình bị đẩy ra tiền đồn xa xôi, khó mong ngày gặp lại nên đưa nỗi niềm vào tiếng hát. Để tìm bài hát thích hợp với tâm thái của Liên trong phân đoạn ấy, Lê Hoàng Hoa và Tổng giám đốc Liên Ảnh Công ty (đơn vị đầu tư sản xuất phim) là ông Quốc Phong (chủ nhiệm tạp chí Kịch Ảnh) cùng "đến phòng trà Đêm Màu Hồng gặp nhạc sĩ Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc để nhờ sáng tác một bản nhạc riêng cho phim Chân trời tím. Đó là nhạc phẩm Nửa hồn thương đau" (Bút ký Những tháng ngày làm phim của Lê Hoàng Hoa). Như vậy, nhạc phẩm nổi tiếng ấy được Phạm Đình Chương viết cho phim Chân trời tím năm 40 tuổi (sau thời phải xót xa chia tay với vợ là ca sĩ Khánh Ngọc) và được phổ biến qua tiếng hát của em gái ruột Phạm Đình Chương là ca sĩ Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh). Nơi quay phân đoạn trên là phòng ăn của khách sạn Continental do nhân viên phụ trách dàn dựng của đoàn phim khéo sửa thành một "phòng trà ca nhạc" để nhân vật Liên sẽ lên hát. Theo ý đạo diễn, để gây ấn tượng mạnh về nỗi cô đơn của Liên, không nên có mặt toàn ban nhạc đệm ở phía sau Liên mà chỉ có "một nhạc sĩ kéo violon đứng cạnh ca sĩ và thật dễ thương khi nhạc sĩ Phạm Đình Chương đồng ý với tôi là anh sẽ đảm nhận vai người kéo violon đó". Ấn định sẽ bấm máy lúc 7 giờ tối hôm ấy…"  - Ngưng trích

Tại sao tôi phải đi theo đoàn làm phim
Sau đó tác giả kể đến những chuyện "hậu trường" cùng với những chuyện tình của nhà đạo diễn đào hoa ấy. Theo nhận định riêng của tôi, dù phải loại bỏ bớt một số câu chữ, nhưng đoạn viết theo bút ký này có nhiều điều đứng đắn, chân thật. Tôi có thể xác nhận điều này vì tôi là người cũng có mặt trong suốt thời gian quay phim Chân trời tím ngay từ ngày đầu quay phim ở khách sạn Continental và cũng có mặt ở Đêm Màu Hồng khi thương thảo với anh Phạm Đình Chương soạn nhạc chính cho phim CTT.

Tôi đi theo đoàn làm phim vì hai lý do.
Thứ nhất anh Mai Thảo và tôi được anh Quốc Phong, Tổng giám đốc hãng phim Liên Ảnh nhờ chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết dày hơn 500 trang để quay phim. Chúng tôi viết "kịch bản đối thoại", còn phần "kịch bản kỹ thuật", tất nhiên do đạo diễn làm, nên cần thiết phải có sự phối hợp ăn ý.
Thứ hai, tôi được Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đề nghị với Bộ Tổng Tham Mưu làm đại diện yểm trợ các phương tiện của quân đội cho đoàn làm phim đồng thời góp ý kiến về những cảnh quay có liên quan tới đời sống trong quân ngũ và chiến trường. Do đó ngoài nhiệm vụ làm ở phòng Báo Chí Quân Đội, tôi luôn đi theo đoàn làm phim này từ Saigon đến Nha Trang, Cam Ranh (xin nói rõ ở đoạn sau). Cho nên tôi muốn bổ sung ở đây vài chi tiết cùng vài kỷ niệm xưa với nhà đạo diễn quá cố Lê Hoàng Hoa.

Kỷ niệm thứ nhất: bê giường ca sĩ Minh Hiếu chạy mưa
Anh sinh năm 1933, cũng vừa đúng bằng tuổi tôi. Sau 6 năm du học ở Mỹ về điện ảnh tại thành phố Clarkesville bang Georgia (1952 - 1958), Lê Hoàng Hoa về nước năm 25 tuổi. Tôi quen anh như một chuyện tất nhiên như quen với nhiều anh em khác, không thể nhớ rõ vì sao và ở đâu. Có một kỷ niệm ban đầu giũa chúng tôi khá ngộ nghĩnh. Thời kỳ anh mới học ở Mỹ về, Mai Thảo, Hoài Bắc, Thanh Nam thường gọi đùa anh là Tony Hoa.

Một lần, khi tôi xuất bản truyện dài "Những lá thư màu xanh", nhà xuất bản nhờ tôi đi tìm một tấm hình màu làm bìa sách. Gặp Nguyễn Mộng Hùng, (tức Hùng Sùi, cái nick name tôi đặt cho ông trong nhiều bài phóng sự, hiện nay ông ở San Jose), hồi đó ông Hùng mới là trung úy thuộc binh chủng nhảy dù. Ông Hùng nói biết nhà nữ ca sĩ Minh Hiếu. Năm đó Minh Hiếu mới ra hát, còn trẻ, mũm mĩm dễ… ghét lắm. Hùng Sùi nói "tao là fan số 1 của Minh Hiếu" và ông móc trong bóp ra một sợi tóc nói là tóc của nữ ca sĩ này, ông xin được, luôn để trong bóp. Thế là tôi và Lê Hoàng Hoa cùng Hùng Sùi hẹn đến nhà Minh Hiếu chụp ảnh in bìa sách. Hồi đó cô còn ở căn nhà bên đường xe lửa, dường như là đường xe lửa số 6, ở Phú Nhuận, cô ở trên lầu. Minh Hiếu trang điểm khá công phu, mặc bộ đồ ngủ rất đẹp, chuẩn bị sẵn một sấp thư. Tư thế chụp hình do Lê Hoàng Hoa sắp đặt:
MH nằm sấp trên giường đọc những lá thư rải rác quanh cô. Bất ngờ khi vừa chuẩn bị xong, trời đổ cơn mưa lớn. Nhà bị dột, giường Minh Hiếu nằm cũng tí tách những giọt mưa rớt xuống. Hùng sùi và Lê Hoàng Hoa cấp tốc bê chiếc giường sang gian bên cạnh, tiếp tục chụp ảnh. Hơn 10 tấm ảnh màu của Lê Hoàng Hoa ra đời từ đấy. Bìa sách "Những lá thư màu xanh", chọn một tấm và cho xuất bản vào năm 1963. Tiếc rằng tôi không còn cuốn sách để gửi tác phẩm ảnh này của nhà đạo diễn đến bạn đọc. Kỷ niệm này, sau 40 năm, mỗi lần gặp nhau chúng tôi còn nhắc lại.

Phim Chân trời tím ra đời như thế nào
Trước hết, anh Quốc Phong thương lượng với tôi để làm thành một cuốn phim "đặc biệt",  thời đó kỹ thuật mới nhất của điện ảnh là cinemascope, màu technicolor… Chúng tôi nghĩ đến đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, người ôm ấp rất nhiều ý tưởng "làm mới" theo điện ảnh nước ngoài. Gặp Hoàng Vĩnh Lộc, người cũng rất hào hứng sau khi đọc Chân Trời Tím, anh loay hoay viết tạm kịch bản và tìm diễn viên. Anh muốn có một khuôn mặt mới cho điện ảnh VN nên tìm được một anh sinh viên cao ráo, bảnh trai, hoạt bát, đóng vai Phi, vai chính trong phim, rồi đến một dàn nữ diễn viên như Kiều Chinh, Thanh Lan… Nhưng 7 ông chủ của hãng phim Liên Ảnh lại có nhiều bất đồng. Sau đó anh Quốc Phong đề nghị đạo diễn Lê Hoàng Hoa và 2 diễn viên nam nữ chính là Hùng Cường và Kim Vui. Chẳng biết ông Quốc Phong thuyết phục ra sao, tất cả 7 ông chủ hãng phim đều gật đầu.
Nhưng quả thật về Hùng Cường và Kim Vui, khiến tôi lo ngại.

Nữ tài tử Kim Vui rất hấp dẫn trong phim

Tin đó được tung ra, có nhiều dư luận bất lợi vì đố kỵ, ghen ghét, Hùng Cường đã bị một đám phá rối. Một ký giả hồi đó, tường thuật lại chuyện tai nghe mắt thấy, xin trích một đoạn ngắn:

Hùng Cường và Kim Vui bị phá rối
"…Một buổi nọ tại sàn quay của Liên Ảnh công ty, đạo diễn đang hướng dẫn Hùng Cường và Kim Vui về diễn xuất trước ống kính của máy quay phim, thì tại quán cà phê gần trước cửa phim trường, có mấy tay tài tử chuyên nghiệp thuộc dạng thường, chuyên đóng vai phụ, nếu nói theo cải lương thì kép nhì, kép ba. Mấy tay này dựng Honda, một tên đi vào phim trường coi tập dượt, còn mấy tên kia thì ngồi lại kêu cà phê uống ngồi chờ. Ðộ nửa giờ đồng hồ thì tên kia đi trở ra, mấy tên ngồi chờ chưa kịp hỏi thì anh ta phát tay lia lịa, miệng thì thốt lên: "Hôi mùi cải lương quá"! Ði ra lẹ lẹ không dám coi thêm... Thế là mấy tên cười rần lên như đang coi một màn hài hước.

Lúc đó cách một chiếc bàn, nghệ sĩ Năm Châu cũng đang ngồi uống cà phê, ông được Liên Ảnh mời đến xem Hùng Cường đóng phim, lại gặp người mà trước đây từng quen biết trong lúc chuyển âm phim, nên ngồi trò chuyện. Khi nghe mấy tên này nói như vậy, ông lên tiếng :"Mùi hôi cải lương như thế nào vậy? Mấy chú nói rõ lên đi".

Gặp phải một nghệ sĩ kỳ cựu của cải lương có máu mặt, mấy tên du đãng lên Honda dông mất. Và sau việc Hùng Cường bị châm chích thì người ta tự hỏi, phải chăng nghệ thuật điện ảnh chỉ dành riêng cho một số người mà thôi, những ai đang làm nghề nghiệp khác nếu bước vào thì cũng bị "tai họa" như Hùng Cường!"

Bất ngờ lớn nhất của tôi
Thật ra tôi cũng bị ám ảnh bởi cái tên Hùng Cường trên các sân khấu cải lương và Kim Vui gần như chưa tạo được tên tuổi gì trong làng ca nhạc chứ chưa nói tới điện ảnh. Nhưng tôi đã lầm. Khi xem Kim Vui diễn xuất lần đầu tiên với Hùng Cường dưới bàn tay "phù thủy" Lê Hoàng Hoa, tôi thầm thán phục tài năng của bộ ba này. Họ đóng phim rất tự nhiên, thuần thục. Nói như anh Mai Thảo dặn dò Hùng Cường: "Đóng phim là không đóng gì cả".

Hùng Cường bảnh trai không kém tài tử ciné vào thập niên 60-70.

Hùng Cường lột bỏ ngay được bộ mặt thường có trên sân khấu, anh vào vai diễn bình thường, giản dị như một anh hạ sĩ quan thật ngoài đời. Kim Vui vào vai cô vũ nữ đang yêu tận tình, dịu dàng, chung thủy nhưng khi cần tàn nhẫn lại rất "kinh khủng". Cả hai như có tài năng thiên phú hay "gien" di truyền. Anh Quốc Phong quá hài lòng vì sự lựa chọn của mình, tuyệt đối tin tưởng vào bộ ba này. Một tờ báo đã viết:
"Trường hợp Liên Ảnh công ty đã dẹp bỏ mọi dư luận, mọi thành kiến và cả sự công kích của một số người. Ông giám đốc Quốc Phong được coi như là người làm thương mại, ông đã nhắm vào con số đông đảo khán giả cải lương, nên đã mời Hùng Cường cộng tác và phim đã thành công như nhiều người biết.

Quả đúng như vậy khi phim Chân Trời Tím được trình chiếu chẳng những thành công về tài chánh, mà còn đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1971. Chưa dừng lại ở đó, Chân Trời Tím lại còn được chiếu tại Lào và Pháp. Đó là lần đầu tiên một cuốn phim Việt Nam phụ đề Pháp ngữ mang tên Lhorizon Pourpre được gởi đi trình chiếu tại Ðại Hội Ðiện Ảnh tổ chức ở Dianard, Anh Quốc."

Hùng Cường đi mua "lon hạ sĩ"
Cũng trong ngày đầu quay phim, Hùng Cường chạy đến ghé tai tôi hỏi nhỏ: "Anh ơi cái lon hạ sĩ thế nào, em chưa có". Chết thật, Hùng Cường đóng vai chính là hạ Sĩ tên Phi trong phim, vậy mà không ai ngờ anh chưa biết cái lon hạ sĩ ra sao, đeo ở đâu. Tôi bèn lôi ngay Hùng Cường ra xe, chở đến tiệm An Thành trước cửa chợ Bến Thành, mua một cặp "lon hạ sĩ" và đeo giùm lên tay áo. Trẻ con, người lớn, nhất là phụ nữ kéo đến xem nghệ sĩ Hùng Cường, cứ nháo nhác hỏi nhau "anh ấy vào lính khi nào vậy" rồi chỉ trỏ lung tung, chả ai thèm nhìn tôi cả. Cái "lon" ấy Hùng Cường đeo gần hết cuốn phim.

Năm 1996 Hùng Cường mất tại Mỹ, nhưng vẫn còn mãi mãi một giọng ca vàng sân khấu cải lương, một tiếng hát nồng ấm mạnh mẽ trên sân khấu ca nhạc cùng Mai Lệ Huyền và một diễn viên điện ảnh xuất chúng. Hùng Cường đã ra đi vĩnh viễn để lại đàng sau người con nam ca sĩ cũng nổi tiếng trong nhiều năm qua là Quang Bình và một đạo diễn nổi tiếng không kém đó là Quang Đại.

Kim Vui có thân hình tuyệt đẹp
Nhà văn và cũng là nhà phê bình Hồ Trường An đã diễn tả vẻ đẹp của Kim Vui trong bài "Theo Chân Những Tiếng Hát" trên báo Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ xb 1998:
"Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thích giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản của chị. 

Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim như Chân Trời Tím, Thương Hận, và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn của chị trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh.
Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn biết vẽ tranh sơn dầu"… 

Những diễn viên đã có mặt trong CTT
Thật ra phim Chân trời tím còn có một số tài tử, danh ca khác cùng tham gia diễn xuất, tôi không nhớ hết, xin tạm kể: Diễn viên trong phim gồm: Hùng Cường vai Phi, Kim Vui vai Liên, Thanh Lan và Mộng Tuyền trong vai hai cô con gái của trung tá Lạc, Ánh Nga vai Loan, Bảo Ân vai Điền, Ngọc Đức vai Paul, Ngọc Phu vai đại úy Minh, Hà Huyền Chi, Khả Năng dù đóng phim lần đầu song cũng rất "ngầu" trong vai quân nhân bảo vệ tiền đồn… Và hơn 200 diễn viên quân đội. Bộ phim này đoạt ba giải vàng về Văn học nghệ thuật trước năm 1975…"

Nữ danh ca Mộng Tuyền cũng đảm nhận một vai trong phim CTT

Những đơn vị đã yểm trợ và đóng phim
Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham Mưu, một buổi họp tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích tại Nha Trang được tổ chức. Tham dự gồm có cái vị đại diện có thẩm quyền tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích, Bộ TL KQ tại Nha Trang, Trường Biệt Kích - Động Bà Thìn (Cam Ranh), Trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế, Bộ TL Hải Quân, Tiểu Khu Nha Trang… Ông Quốc Phong đại diện hãng phim và tôi là đại diện của Bộ TTM thuyết trình về cuốn phim và nhu cầu yểm trợ. Buổi họp được các vị tư lệnh các binh chủng có mặt thảo luận sôi nổi và rất tích cực giúp mọi phương tiện cho cuốn phim.
Trường BK có một tiểu đoàn đóng vai "địch tấn công đồn". Một tiểu đoàn của Trường HSQ Đồng Đế làm đơn vị đồn trú bị tấn công được không quân yểm trợ, sau đó là pháo binh, thiết giáp. Vũ khí địch được điều động từ Phòng 4 Bộ TTM ra.

Tiền đồn Suối Dầu (gần Nha Trang) đã hư hỏng nên được lệnh xây dựng một đồn khác. Chúng tôi đã xin cho dời lại ngày phá đồn để quay phim. Cảnh không quân giải vây, dội bom, bắn đạn xối xả xuống khu quanh đồn và phá hủy tiền đồn là cảnh quay thật.  Thiết giáp cũng tha hồ nhả đạn. Cảnh này được một sĩ quan không quân và đại tá tư lệnh BCH Biệt Kích chỉ huy. Lê Hoàng Hoa ở bên cạnh làm công việc chuyên môn rất thành công, không một sơ sót nào xảy ra nên không có tai nạn như chúng tôi lo ngại.

Kỷ niệm và những điều về thực hiện phim Chân trời tím với Lê Hoàng Hoa còn rất nhiều. Tiếc rằng tôi không thể viết hết và trí nhớ ở cái tuổi tôi có lẽ cũng không còn được minh mẫn nữa.

Lê Hoàng Hoa, Ng Quốc Thái, Họa sĩ Đinh Cường và Văn Quang lần gặp nhau vào năm 2001 tại Sài Gòn.

Sau này, có thể kể là những năm sau 2.000, Lê Hoàng Hoa từ Ba Lan về gặp lại chúng tôi vài lần. Vẫn thắm đượm tình anh em. Tuy nhiên tôi cũng thấy được Lê Hoàng Hoa có một chút "mặc cảm" với chúng tôi, có lẽ vì anh đã làm phim CTT rồi sau đó lại làm những phim khác hẳn với CTT… Tôi cũng xác nhận sau năm 1975, Lê Hoàng Hoa làm nhiều phim, trong đó phim Ván Bài Lật Ngửa (với tên đạo diễn Khôi Nguyên) là nổi tiếng hơn cả. Nhưng đó là chuyện của những năm sau 1975.  Tuy nhiên chúng tôi đều cố tránh nhắc đến chuyện đó, đôi khi con người có những nghịch cảnh oái oăm, khó nói thành lời.

Xin mượn bài viết này vĩnh biệt Lê Hoàng Hoa, nhà đạo diễn tài ba và cũng đào hoa hạng nhất VN qua nhiều thời kỳ. Hôm nay cũng là ngày đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Văn Quang 

xuôi ngược trên CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC - Bài số 4

xuôi ngược trên
CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Bài số 4
HỒ TẤN VINH
 
 
3. - LỰC LƯỢNG VIỆT NAM
Một lực lượng chánh trị là một tổ chức để huy động quần chúng để xử dụng áp lực của quần chúng như một vũ khí. Một lực lượng phải có đầy đủ ba yếu tố.
Ban Lãnh đạo
Nhiều đồng sự nồng cốt mà ta có thể gọi dưới nhiều tên như: cán bộ, đồng chí, chiến hữu
Và quần chúng ủng hộ.
Dựa trên ba điều kiện trên, ta có thể thấy ngay rằng các người Đối Kháng không phải là một lực lượng. Mỗi cá nhân là một lãnh đạo đơn độc, họ không có nhiều đồng sự để truyền đạt mệnh lệnh. Họ phải tùy thuộc vào sự giúp đở của các cơ quan truyền thông để đến với quần chúng. Vì vậy mà tầm ảnh hưởng bị giới hạn. Nhưng tầm ảnh hưởng của họ không nhỏ. Họ là người dọn đường và dẫn đường cho mọi sự thay đổi.
Cũng dựa trên ba điều kiện trên, ta cũng có thể thấy rằng Người Việt Hải Ngoại - mặc dầu có khả năng rất lớn - cũng không phải là một lực lượng. Họ không có ban lãnh đạo, họ không có cán bộ để tổ chức. Họ chỉ có quần chúng chống cộng ủng hộ, nhưng quần chúng này bơ vơ, không biết nghe lời ai? Nhiều khi vì quá yêu nước, họ dễ bị lừa đão.
37 năm đã vậy rồi, đâu có hy vọng gì ngày mai sẽ khá hơn.
Cho nên, để xử dụng khả năng to lớn mà mình có, Người Việt Hải Ngoại muốn giúp nước phải tự mình thoát ra cái 'vòng Kim Cô' thì mới có thể hành động độc lập như một con người hay một tổ chức nhỏ biệt lập.
Ngày 1 tháng 7 năm 2012, nước Úc đang giữa mùa đông. Thủ Đô Canberra là nơi lạnh nhứt. Tại Úc có cả trăm hội đoàn chống cộng, cả trăm cái chùa cũng mang danh 'Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt' nhưng ngày đó, mọi người ngủ yên.
Chỉ có Anh Lê Văn Danh cư ngụ tại Canberra (và vài bạn hữu?) đã đơn độc cấm cờ vàng và trương biểu ngữ trước tòa Đại Sứ Trung Cộng. Không có ai hổ trợ. Trên trời thì tuyết rớt xuống. Gió thổi ngang. Đâu có bút mực nào tả hết cái dũng khí đứng giữa trời đất này. Biết đâu nhờ vậy mà hành động đơn thương này có thể nêu gương cho tất cả Người Việt Hải Ngoại, nếu họ thật sự muốn làm một cái gì cụ thể cho Tổ Quốc.
 
Trong nước Việt Nam, chỉ có một thế lực chống cộng có đủ điều kiện để được tự coi là một lực lượng đó là Lực Lượng Tôn Giáo.
Từ năm 1980, CS Ba Lan từ từ chấp nhận Đa đảng và bầu cử tự do là nhờ có sự nhập cuộc của đạo Thiên Chúa. Lực Lượng Tôn Giáo ở Ba Lan là do Vatican lãnh đạo, cán bộ là các Linh Mục và quần chúng Ba Lan theo đạoThiên Chúa.
Tại Việt Nam, hoàn cảnh không được thuận tiện như ở Ba Lan năm xưa hay ở Miến Điện bây giờ. Muốn gìn giữ sự đoàn kết tôn giáo, ta phải tính có năm tôn giáo. Mọi tôn giáo đều có cơ hội đồng đều để trở thành một lực lượng của dân tộc. Trong lúc Tổ Quốc và Dân Tộc đang gặp nguy khốn, các Tôn Giáo có chịu nắm lấy cơ hội chứng tỏ rằng mình có sống chung với Dân Tộc và chìm nổi với Dân Tộc? Trên thực tế, việc hội họp giữa các tôn giáo rất khó tổ chức. Nhưng ta không thể dừng lại vì cái khó khăn này.
Ngày 1 tháng 7 năm 2012, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt đã xuất sắc chứng tỏ rằng mình là một Lực Lượng Việt Nam dẫn đầu.
Từ lời Kêu Gọi của Tăng Thống Thích Quảng Độ đến sự triển khai của các Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Văn Phòng I và II đến sự chấp hành nghiêm chỉnh của các chùa và Tăng Ni và sự hưởng ứng nhiệt tình của quần chúng trong đó có đủ các tín đồ của tất cả các tôn giáo – toàn bộ biến cố nói lên ước vọng của người dân và uy tín của người Lãnh Đạo. Con 'chốt' đã qua sông.
Tuy nhiên, còn rất nhiều chuyện phải làm để Lực Lượng Việt Nam có đủ cân lượng để có thể lay chuyển tình thế để đáp lại ước vọng của người dân.
Thường thường người ta nóng ruột, muốn có những kết quả liền, cho nên biến chuyển bao nhiêu cũng không đủ lẹ với họ. Nhưng thật ra sau ba lần 'tập trận', kết quả mà ngày hôm nay ta có được là một kết quả nhanh chóng phi thường.
Ngày 1 tháng 7 vừa rồi, tại trong nước, các cuộc biểu tình ở Saigon, Huế và Hà Nội đã diễn ra tốt đẹp hơn những gì ta có thể mơ.
Tại hải ngoại, tại Mỹ có hai cuộc biểu tình lớn ở Cali và Texas. Tại Úc có Anh Lê Văn Danh.
Không biết ngày nào tới đây và vì lý do gì, nếu Lời Kêu Gọi của Lực Lượng Việt Nam được Người Việt Hải Ngoại hưởng ứng nhiều hơn, thí dụ như ở Mỹ có thêm một Tiểu Bang nữa, còn ở Canada, ở Pháp, ở Đức, ở Úc có thêm vài cá nhân hay hội đoàn chịu nhập cuộc thì ta có thể nói là có tiến bộ khích lệ.
Nếu có nhiều hơn nữa thì kể như ván cờ đã đánh xong.
Vận hội này đang tùy thuộc chúng ta.
Ta phải tự tin rằng ta đang đi trên con đường tất định của lịch sử. Mặc dầu có rất nhiều cơn gió thổi ngược làm chậm bước đi.
Nhưng không có ai cản nổi bước ta đi.
 
HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 6 tháng 8 năm 2012
 
(Còn tiếp)
 
TB: Có một số bạn đọc yêu cầu gởi vài bài quí vị còn thiếu.
1.    Mê hồn trận Quốc Cộng
2.    Liên Sô sụp đổ
3.    Viết về HỒ VĂN NGÀ
4.    Từ đỉnh cao tự do dân chủ
5.    Viết về TRUY PHONG
6.    Việt Nam đi về đâu?
7.    Tương quan lực lượng CSVN và NVHN
8.    Lực lượng Việt Nam – 7 bài
9.    Những con đường cứu nước – 4 bài
10.                  Mấy vần thơ cũ
11.                  Nước xuôi dòng
12.                  Xuôi ngược trên CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC – 4 bài – còn nữa

Danh từ “Công Giáo”: Chữ và Nghĩa


Nguyễn Hy Thần

Trong đời sống hàng ngày, Chữ nghĩa và Từ ngữ được dùng để chuyên chở ý tưởng, nhưng có bao giờ chúng ta bất chợt nghĩ đến "nghĩa thật" hoặc xuất xứ của những từ ngữ thường dùng trtên đầu môi chót lưỡi không ?

Đôi khi, chính từ những ý thắc mắc bâng quơ đó mà bạn sẽ ngạc nhiên khi tìm thấy thật nhiều suy nghĩ về cuộc đời, về thế thái nhân tình, về con người và đôi khi những bài học kỳ thú về lịch sử nữa …

Ví dụ như để gọi một giáo phái thờ Chúa có trụ sở ở La Mã, người ngoại quốc chỉ đơn giả gọi "Catholics", mà tiếng Việt mình thì thật nhiêu khê: đạo Thiên Chúa, đạo Chúa, đạo Cơ Đốc, đạo Gia Tô, Ki-tô giáo, và gần đây là … Công giáo.

Trong những danh từ riêng đó, hai chữ "công giáo" đứng trơ trọi một mình về mặt ý nghĩa bởi vì những danh từ Thiên Chúa, Cơ Đốc, Gia Tô, Ki-tô đều từ tên vị giáo chủ là Chúa mà ra, nhưng còn "công giáo" là gì? Danh từ công giáo đã có trong từ ngữ Việt Nam từ bao thế kỹ. Như những danh từ Hán-Việt khác, từ "công giáo" có lẽ đã du nhập vào tiếng Việt từ những ngày đầu tiên khi văn minh Trung Hoa theo bước đoàn quân viễn chinh Tàu sang đô hộ quận Giao Chỉ vào thế kỷ thứ nhất, thứ nhì.

Chữ "Công" trong Việt ngữ có hai nghĩa khác biệt:

1-  "Công" nghĩa là sự làm việc, sức làm việc, những gì động đến tay chân. Đây là nghĩa mà những tiếng ghép như "công lao", "công sức", "công kênh", "công binh", "công cuộc", "công nhân", …

2-  "Công" còn có nghĩa thứ nhì là chung đều cho tất cả mọi người, chung cho mọi người do nhà nước ban hành và điều khiển [1] như trong "công quyền", "công cọng", "công bình", "công cụ", …

Chữ "Công" trong danh từ Công giáo mang nghĩa thứ nhì ở trên và "công giáo" được định nghĩa là "tôn giáo được thừa nhận là đạo chính thức" (theo Tự Điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn, 1960). "Chính thức" đây có nghĩa được chính quyền thừa nhận. Việt Nam Tự Điển của Lê Ngọc Trụ và Lê Văn Đức thì định nghĩa một cách rõ ràng hơn:

Công giáo: (a) Tôn giáo được nhà nước nhìn nhận là tôn giáo chính thức của nước ấy, (b) Đạo Gia-Tô ở Việt Nam. [2] [3]

Như vậy, "công giáo" có hai nghĩa: (i) Đạo chính thức của cả nước, và (ii) Đạo Chúa hay đạo Gia-tô.
Nghĩa trước (i) đã có trong từ ngữ Việt Nam từ bao thế kỹ qua, còn nghĩa sau (ii) thì được du nhập từ thời nào ? [4]

Từ ngữ đến và đi trong đời sống khác với con người hay cát bụi. Con người có khai sinh để biết lúc nào chào đời, đất đá có thể dùng phóng xạ đồng vị C14 để đo được số tuổi chính xác, nhưng còn từ ngữ thì sao ? Với ngôn ngữ thì không thể định được ngày nào thì một danh từ ra đời, tuy nhiên để biết một danh từ ra đời hoặc trở nên thông dụng trong thời đại nào thì không phải là chuyện khó !

Nhiều từ ngữ được sáng tạo nhưng không bao giờ "ra đời" hay "thành hình", nghĩa là đi vào ngôn ngữ của quần chúng, mà ngược lại chỉ quanh đi quẩn lại trong một nhóm người, rồi chết đi theo thời gian !

Một từ ngữ chỉ được "thành hình" khi từ ngữ đó được dùng trong báo chí, trên tin tức hàng ngày, được nhắc nhở đi đi lại lại nhiều lần để dần dần thấm vào tiềm thức của người nghe và một ngày nào đó bước vào ngôn ngữ thường nhật mà chính người nói cũng không hay biết. Những danh từ như nhà "ga" (xe lữa), "xà phòng", mái tóc "phi dê" (tóc uốn), phi đạo, hỏa xa, … không thể nào có trước thời Pháp thuộc được, bởi vì những vật đó không thể nào có mặt trước khi Pháp xâm chiếm Việt Nam. Và dĩ nhiên là đọc trong cổ văn Việt Nam trước thế kỹ 18 sẽ không bao giờ tìm thấy tăm hơi những chử đó cả..

Vì vậy, một trong những cách để các nhà ngôn ngữ học khi tra cứu nguồn gốc một chữ nào đó là tra cứu trong văn chương, trong tự điển, sách báo, tài liệu lịch sử và cả trong nền văn học truyền khẩu dân gian … để khẳng định được sự ra đời của một từ ngữ.

Chữ "công giáo" cũng không đi ngoài thông lệ đó !

Sách báo Việt Nam trước thập niên 60 khi đề cập đến Catholics thì dùng chữ Thiên Chúa giáo, đạo Gia-Tô, đạo Ki-Tô hay đạo Cơ Đốc. Viết về đạo Catholics, cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh (1938), ghi rằng: "Từ thế kỷ 16, 17, Cơ Đốc giáo do các giáo sĩ Bồ-Đào-Nha và Pháp Lan Tây truyền sang thì ở nước ta lại có thêm một thứ tôn giáo mới theo nghi thức La-Mã giáo hội …" [5]

Toàn bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim (viết khoảng 1950) không hề dùng chử "công giáo". Những danh từ công giáo cũng vắng bóng trong những tác phẩm văn học viết trước thập niên 50[6]

Như vậy, qua sự tìm hiểu đặt trên căn bản thời gian sử dụng ngôn ngữ nói trên, ta có thể kết luận rằng hai chữ "công giáo" được bắt đầu dùng để chỉ đạo Catholics (Cơ Đốc, Gia Tô, Thiên Chúa, …) vào cuối thập niên 50 hoặc đầu thập niên 60.

Tại sao lại "Công giáo" mà không là Cơ Đốc giáo hay Thiên Chúa giáo …? Trong hơn bốn ngàn năm lịch sử, có hàng chục đạo truyền vào và luân lưu ở Việt Nam, nhưng không hề có hai chữ "Lương" hay "Giáo", phải đợi đến thế kỷ 16, 17, khi đạo Cơ Đốc truyền vào thì hai từ ngữ đó mới được phát sinh ra để phân biệt người trong đạo (Cơ Đốc) và kẻ … ngoại đạo !

Khác với lịch sử truyền đạo của Cơ Đốc giáo, lịch sử truyền đạo của một giáo phái khác cũng tôn thờ cùng một ông Chúa là đạo Tin Lành lại chẳng mang tai tiếng hay tạo ngộ nhận gì trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam. Đạo Tin Lành được truyền vào Việt Nam khoảng năm 1911 do những giáo sĩ Mỹ.[7]Nhưng quần chúng Việt Nam lại không thấy bóng hình Thực dân Pháp lấp ló đàng sau hình ảnh của những giáo sĩ ngoại quốc (cũng da trắng) nầy. Mà cũng chẳng ai, kể cả vua quan, đàn áp hay ngại ngùng với việc truyền đạo Tin Lành cả. Tín đồ Tin Lành cũng chẳng bao giờ phân biệt mình là Lương hay Giáo, bởi vì "Giáo" là chỉ những người theo đạo Gia Tô, còn Lương thì chỉ hết tất cả những người còn lại. Vậy thì nếu có phân biệt Lương và Giáo thì tín đồ Tin Lành cũng thuộc vào loại … "Lương" rồi..

Sau gần 100 năm truyền đạo Tin Lành mà chẳng thấy con chiên hay Mục sư nào "tử vì đạo" Tin Lành cả. Chỉ vì một lý do đơn giản là các Mục sư Tin Lành không bao giờ dính dáng đến chính trị, hoặc mượn tay nhà cầm quyền để rao giảng lời Chúa dạy cả.

Cùng đi rao giảng lời Chúa dạy mà một bên đến với nhiều "ngộ nhận" (hay "chính" nhận ?), còn một bên đến thật êm đềm và được đồng bào Việt Nam đón nhận vào đại thể văn hóa của dân tộc !

Ý tưởng bién Thiên Chúa giáo thành "tôn giáo của chính quyền" đã manh nha từ thời Pháp thuộc trong chính phủ và giới tăng lữ của nhà nước bảo hộ Pháp và trong cả những linh mục bản xứ đã quên mình là người Việt Nam. Vào những năm thánh cuối cùng của chế độ Thực dân, chữ "công giáo" được vài cha phổ biến một cách hạn hẹp trong giáo đồ. Nhà văn Nguyễn Vỹ, trong cuốn bút ký chính trị "Tuấn, Chàng Trai Nước Việt" (trang 132) đã nhận xét rằng: "…Nhưng uy quyền của Pháp đang mạnh, thế lực Thiên Chúa giáo mà thực dân Pháp coi như công giáo và che chở, kính nể, đang bành trướng khắp nơi …" [Xin lưu ý hai chữ "Thiên Chúa giáo" và "công giáo" được dùng chung trong một mệnh đề với 2 nghĩa khác nhau. Điều nầy có nghĩa là cho đến khi ông Nguyễn Vỹ viết tác phẩm nầy, "Công giáo" chưa phải là tên của đạo Catholic] .

Lòng các cha thì ao ước "bành trướng khắp nơi" như vậy, nhưng tình hình chính trị lúc đó đã không cho những người linh mục nầy biến Thiên Chúa giáo thành một thứ quốc giáo hay "công" giáo. Giác mộng nầy phải đợi đến mấy mươi năm sau, khi người em ruột của vị Giám mục nhiều tham vọng Ngô Đình Thục là ông Ngô Đình Diệm lên nắm quyền ở miền Nam !

Ai cũng biết dùng chữ "Công giáo" trong ngôn ngữ Việt Nam thì có ít nhất ba điều không ỗn:

      ■ Để gọi một tôn giáo, người Việt (hay đa số mọi quốc gia trên thế giới) dùngtên người sáng lập ra tôn giáo hay triết lý của tôn giáo đó mà gọi như Phật giáo (Buddha, Buddhism), Khổng giáo (Confucius, Confucianism), Lão giáo (Lao Tsu, Taoism); hoặc lấy tên của dân tộc, sắc dân đã khai sinh ra tôn giáo đó để đặt tên như Ấn giáo (India, Hinduism), Hồi giáo (Muslim, Islam), Do Thái giáo (Jews, Judaism), Anh giáo (English, Anglican), v.v…Và cũng theo nguyên tắc đó mà người Việt (hay đa số mọi quốc gia trên thế giới) đã gọi đạo Catholics là đạo Gia-Tô (Giêsu, Jesus), hay Cơ Đốc (Christ), hoạc đạo Chúa..

Trước thập niên 50, người Việt đã không gọi Catholics là "Công" giáo vì không có một vị giáo chủ sáng lập nào tên là … "Công" hay một dân tộc nào tên là "Công" cả. Chữ "Công giáo" chỉ xuất hiện, như đã chứng minh bằng một số văn bản ở trên, từ khi có chế độ Ngô Đình Diệm.

     ■ Ngày nay, thế hệ trẻ Việt Nam sẽ liên tưởng rằng công giáo là công bình, công minh, bác ái. Điều nầy thật là buồn cười vì những người có căn bản Hán Việt đều hiểu rằng trong danh từ kép công bình thì chử Bình là chính nghĩa, chữ Công chỉ là bổ nghĩa (liên hệ đến chính quyền). Cũng vậy, trong danh từ képcông minh thì từ Minh (sáng suốt) là chính, cũng như bác ái đến từ chữ Ái (là yêu). Do đó, nếu chữ công giáo là công bình, công minh thì tại sao lại không dùng nghĩa chính (bình, minh), gọi đạo nầy là Bình giáo hay Minh giáo, mà lại dùng chữ bổ nghĩa (công) để gọi là Công giáo ?

     ■ Ngoài ra, hai chữ Giáo và Đạo trong tiếng Việt được dùng để gọi một tôn giáo như ta vẫn gọi Khổng giáo là đạo Khổng, Hồi giáo là đạo Hồi, Phật giáo là đạo Phật, v.v… Như vậy, từ nay, gọi Công giáo là … đạo Công chắc cũng không sai !

Những người đề xướng ra danh từ "Công giáo" chắc có thừa thông minh để hiểu những nghịch lýsai lầm và bất cập nầy nhưng vẫn miễn cưỡng hoặc ngoan cố làm vì quyết định đổi từ "Cơ-Đốc giáo" sang được chữ "Công giáo" là bước đầu trong tham vọng biến lời Chúa dạy thành lời của Cesarbiến tổng thống Ngô Đình Diệm thành vua Constantin (vị hoàng đế đã quốc giáo hóa đạo Giê-su cho đế quốc La Mã).

Song song với việc đổi tên đạo, đảng Cần Lao của Công giáo cũng được khai sinh để hổ trợ cho chính quyền. Cơ sở đảng Cần Lao từ trung ương đến địa phương đều nằm dưới quyền lãnh đạo hoặc cố vấn của các Giám mục, các Linh mụcĐảng Cần Lao độc quyền chống Cọng và độc quyền trị nước nên các đảng quốc gia khác như Việt Nam Quốc Dân đảng, Duy Dân, Đại Việt, Dân Xã, … đều bị đán áp vì việc "chống Cọng" đã có Cần Lao lo rồi.

[Từ cuối thập niên 50']. đãng viên Cần Lao hầu hết phải là người có đạo Công giáo. Những chức vụ quan trọng trong bộ máy công quyền phải do đảng viên Cần Lao nắm giữ. Ở nhiều địa phương, nhất là ở miền Trung, tân đảng viên Cần Lao khi gia nhập đảng phải đọc lời thề có câu: "…Thề tiêu diệt Phật giáo Ma quỷ và các đảng phái Quốc gia…" (theo tạp chí Thức Tỉnh của ký giả lão thành Tô Văn số 115, 116, Los Angeles). Sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, đảng Cần Lao mà một thời hét ra lữa với những đoàn mật vụ hung hiễm, đã hoàn toàn tan rã vì quyền lợi của những người gia nhập đảng không còn nữa. Sau năm 1975, tại hãi ngoại, một nhóm tàn dư đãng viên cũ cố làm sống lại đảng nầy bằng cách bóp méo lịch sử, nhưng nỗ lực nầy chỉ tạo thêm phản ứng bất lợi cho họ mà thôi.

Ngày hôm nay, nếu có ai hỏi về hai chữ "công giáo", các cha sẽ giãng nghĩa khác đi[8] vì các cha không còn thế lực chính quyền nữa. Nhưng ở thời Ngô Đình Diệm, dùng chữ Công giáo thay cho Cơ-Đốc giáo, các cha muốn cho quần chúng Việt Nam biết rằng tôn giáo nầy được chính quyền hổ trợ như một quốc giáo. Đó là các thông điệp vừa ngầm vừa tỏ gửi đến cho giới trí thức Việt Nam thời đó. Cái lợi thứ hai về truyền đạo là đói với người dân ít học, thấp cổ bé miệng, thì hai tiếng "công giáo" kèm với hình ảnh của đảng Cần Lao đã tạo cho người đi giảng lời Chúa một thứ quyền lực đe dọa của nhà nướcLời Linh mục phán là lời của "công" quyền, lệnh của các Cha là chính sách của quốc gia.

Việc đổi tên của một Giáo hội đã được hợp thức hóa và quy mô hóa với sự hậu thuẫn của chính quyền thời đó. Hệ thống tuyên truyền và hệ thống hành chánh của nền Đệ Nhất Cọng hòa được vận dụng tối đa để chính thức hóa danh xưng mới nầy. Hai chữ "Công giáo" xuất hiện trên công văn của chính phủ, trên sách báo, nhắc đi nhắc lại nhiều lần trên các đài phát thanh với mục đích thấm dần vào đầu trí thức và quần chúng Nam Việt Nam.

Dư luận lúc bấy giờ, nhất là trong tầng lớp trí thức, phản ứng mạnh mẽ. Lịch sử Việt Nam dưới nhiều triều đại, dù có khi đạo Phật đạo Khổng được cả nước, từ vua quan đến sĩ phu đến dân chúng, sùng bái, nhưng các tôn giáo nầy vẫn chưa bao giờ được gọi là quốc giáo hay đạo của chính quyền. Nay đề cao một tôn giáo (đã thiểu số lại từng làm tay sai cho ngoại bang) lên làm quốc giáo là đi trái với truyền thống dân tộc một cách trắng trợn, nên hai chữ "Công giáo" đã trở thành đề tài phê bình và phiếm luận, công khai có mà âm thầm cũng nhiều, trên mặt báo trong nhiều tháng. Người dân đòi hỏi chính phủ phải tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị để tránh sự lũng đoạn chính quyền về sau.

Nhưng một khi mà ông chính phủ cổ thì đeo thánh giá, còn tay thì cầm cán cân CÔNG lý, giữ CÔNG quyền, nắm CÔNG cụ bạo lực (mật vụ, công an, cảnh sát, đảng Cần Lao, Lực lượng Đặc biệt, Đoàn Công tác Miền Trung, Chín Hầm, P42) trong tay, bảo rằng tôn giáo này là "CÔNG giáo" thì cả nước dù có bất đồng ý kiến cũng phải chịu cảnh "con kiến mà kiện củ khoai" !

Bất chấp dư luận báo chí và nguyện vọng của quần chúng, chế độ Ngô Đình Diệm và Đảng Cần Lao Công giáo đã cấu kết với Giáo hội Catholic Việt Nam "cả vú lấp miệng em" để áp đặt hai chử "Công giáo" quái đản và ngược ngạo vào ngôn ngữ Việt Nam.

Để phản đối điều nầy, những người có ý thức được vấn đề chính danh vẫn dùng danh từ riêng "Thiên Chúa giáo" hay "Cơ Đốc giáo" thay vì "Công giáo" khi nói hoặc viết. Điều nầy thể hiện rõ rang nhất ngay trong những sách giáo khoa xuất bản sau ngày chế độ Diệm bị lật đổ. Đến ngày hôm nay, nhiều người vẫn không quen dùng hai chử "Công giáo" khi nói hoặc viết, mà vẫn dùng chữ đạo Gia Tô, Cơ Đốc, Ki-Tô, hoạc đạo Thiên Chúa. [9]

Ngày nay, hai chữ Công giáo đã mất đi ý nghĩa nguyên thủy mà những người Thiên Chúa giáo Việt Nam với trái tim La Mã đã áp đặt lên dân tộc Việt Nam.Chữ Công giáo trở thành một danh từ riêng như bao danh từ riêng khác. Nhưng những danh từ riêng trong tiếng Việt đều có nghĩa riêng đặc thù của nó, còn hai chữ "công giáo" nữa riêng nữa chung, mập mờ vừa công vừa tư, thì có ý nghĩa gì ? Có thể gượng gạo mà giải thích cho các thế hệ trẻ mãi chăng ?

Trình độ dân trí của người Việt Nam cũng được nâng cao, khó có thể mà tròng tréo che mắt họ bằng danh từ hoa mỹ nữa. Trào lưu Dân chủ và Nhân bản đang lên cao trên thế giới, liệu những người đầy mặc cảm mang "tội tổ tông" có thể thực hiện được giấc mộng dâng đất nước nầy cho Chúa Trời (và Đức mẹ) qua bàn tay của Giáo hoàng La Mã không ?

Mục đích ban đầu đã mất ! Hai chữ "công giáo" còn lại gì ngoài việc làm chứng tích cho một thời kỳ đau buồn trong lịch sử ? Còn lại gì ngoài việc nhắc nhở người nghe chính sách tàn bạo của một chế độ Ngô Đình Diệm đã bị dân tộc vất vào sọt rác lịch sử ? Còn lại gì ngoài việc gợi cho những nạn nhân nhớ lại những ngày thánh hãi hùng mà họ đang cố quên đi ? Và còn lại gì ngoài việc làm hoen ố lời Chúa dạy –   vốn đã bị con người làm hoen ố nhiều rối – thêm nữa ?

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ

Ngày nào danh từ "Công giáo" vẫn còn thế chổ cho danh từ "Thiên Chúa giáo" (hay đạo "Catô La Mã") thì ngày đó Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Công, và các thế hệ tín đồ sau nầy còn phải gánh chịu bia miệng của cuộc đời do các Cha, trong một phút ngông cuống và  xuẩn động dưới thời Ngô Đình Diệm, đã gây ra !

Nguyễn Hy Thần



[1] Việt Nam Tự Điển do Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Khai Trí phát hành, 1970

[2] Ibid, trang 217

[3] Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh định nghĩa "công giáo là một tôn giáo được quốc gia chứng nhận"

[4] Few young Vietnamese grew up in the US think that the word "công giáo" originated from the English word "catholic" which means "general" or "universal". This is of course a single simple-minded ! The word "catholic" and "Catholic" tatally differ in their English meanings. Not just because the two words have the same pronunciation, they can be translated interchangeably.

Besides, if the word "công giáo" is a translation of a foreign word as claimed, shouldn't it be from Dutch, Spanish, Portugese or especially French ? Weren't those countries where all missionaries coming to Vietnam originated from ? Why English, a language virtually unpopular in Vietnam until the late 50's ?

[5] Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh, xuất bản năm 1838, trang 122

[6] Một vài ví dụ như trong "Bảy ngày Trong Đồng Thap Mười" (Nguyễn Hiến Lê, 1954) dùng danh từ "đạo Gia Tô" để chỉ Catholics. Sách báo thời tiền chiến (Tự Lực Văn Đoàn …) cũng chỉ dùng Thiên Chúa giáo, đạo Cơ Đốc hoặc đạo Gia Tô. Những cuốn sử khác như Việt Nam Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn hoặcViệt Nam Chiến Sử (do Phòng Quân Sử VNCH xuấy bản), ngoài chữ Cơ Đốc giáo hoặc Gia Tô giáo thì thỉnh thoảng có dùng chữ công giáo. Tuy nhiên, hai cuốn sử nầy được phát hành vào đầu thập niên 1970, là lúc hai chữ "công giáo" đã ra đời hơn 15 năm rồi.

[7] Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh, 1938, trang 125.

[8] Bây giờ, chữ "công" được giải thích là công cọng trong cái nghĩa "hoàn vũ" (universal). Nhưng điều nầy cũng không ỗn vì hoàn vũ chỉ là một trong ba thuộc tính của Giáo hội Công giáo (hai thuộc tính kia là Thánh thiện và Duy nhất), tại sao lại chọn thuộc tính "công/hoàn vũ" mà không chọn hai thuộc tính kia vốn cũng có ý nghĩa giá trị hơn nhiều ? Vì vậy, giãi thích nầy chỉ là một lời ngụy biện để lạc dẫn người nghe hầu che dấu một ý đồ tồi tệ trong quá khứ mà thôi.

[9] Sau 1975, tại hải ngoại, một số người Việt lại dùng nhóm chử "Catô La Mã" để dịch chữ "Roman Catholic" là danh xưng tiếng Anh được hầu như cả thế giới dùng phổ quát trong mọi lãnh vực để chỉ tôn giáo do Vatican lãnh đạo. Có lẽ danh xưng "Catô La Mã" nầy, về mặt ngữ nghĩa cũng như thực tiễn, là đúng nhất.

Cao ủy Nhân quyền LHQ phê phán việc hoãn xử 3 nhà bloggers ...


THÔNG CÁO BÁO CHÍ NGÀY 4.8.2012

Cao ủy Nhân quyền LHQ phê phán việc hoãn xử 3 nhà bloggers Điếu Cày, Phán Thanh Hải, Tạ Phong Tần và thúc giục Việt Nam thi hành nghĩa vụ nhân quyền – Ông Võ Văn Ái yêu cầu Tổng thống Pháp François Hollande lên tiếng cho Điếu Cày


2012-08-04 | | QUE ME-UBBVQLNVN

PARIS, ngày 4.8.2012 (QUÊ MẸ) - Vào ngày 3.8.2012, Cao ủy Nhân quyền LHQ tại Genève đã lên tiếng phê phán Việt Nam hoãn xử vô hạn định phiên tòa dành cho Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần dự trù vào sáng 7.8 tại Tòa án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh. Đây là lần thứ ba, nhà cầm quyền trì hoãn. Sự trì hoãn cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội sợ hãi và tiến thoái lưỡng nan trước sức tiến công của công luận quốc tế không ngừng bênh vực cho các nhà bloggers hoạt động cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Mặt khác, cũng có thể nhà cầm quyền đã thất bại chiêu dụ Điếu Cày nhận tội, xin khoan hồng để thực hiện một phiên xử không làm mất thể diện chế độ độc tài?

Hình trích từ Dân Làm Báo
Hình trích từ Dân Làm Báo

Hôm 2.8, đài RFI quốc tế của Pháp đã phỏng vấn ông Võ Văn Ái, Chủ tịchỦy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, về vụ xử ngày 7.8. Đặc biệt nêu câu hỏi áp lực của Hoa Kỳ có làm cho vụ xử ba nhà bloggers được nhẹ đi chăng. Ông Ái đã trả lời rằng:

«Hoa Kỳ đã lên tiếng đòi trả tự do cho Điếu Cày. Tổng thống Obama rồi bà Ngoại trưởng Hillary Clinton đã hai lần lên tiếng trong vụ này. Đây là điều quý, nhất là Hoa Kỳ có thừa phương tiện giao thương và ngoại giao để gây áp lực. Việt Nam cũng như các nước thuộc ASEAN luôn mong cầu sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, đặc biệt trong vấn đề Biển Đông.

«Nhưng chớ quên rằng trong vấn đề Việt Nam, thế giới cần hợp thành một mặt trận thống nhất, để Hà Nội không thể lợi dụng đánh lá bài dùng Châu Âu chống Mỹ, hay ngược lại.

«Điều mà chúng tôi chờ mong ở nước Pháp, «tổ quốc của Nhân quyền», công khai lên tiếng trong vụ xét xử sắp tới, hậu thuẫn cho những tù nhân vì lương thức bị bắt vì tự do ngôn luận.

«Cho đến nay, nước Pháp luôn im lặng. Tôi nghĩ rằng nếu Tổng Thống François Hollande góp tiếng với những lời kêu gọi trả tự do cho Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần, chắc chắn sẽ mang lại nhiều hy vọng cho họ».

Sau đây là bản dịch Việt văn Bản Lên Tiếng của Cao ủy Nhân quyền LHQ:


«Chúng tôi quan tâm tới những gì cho thấy không gian tự do ngày càng giới hạn tại Việt Nam. Những thông tin chúng tôi nhận được cho thấy sự đàn áp các bloggers và những ai sử dụng Internet cùng các phương tiện khác để biểu tỏ ý kiến họ.

«Đặc biệt chúng tôi quan ngại cho vụ xử sắp tới ông Nguyễn Văn Hải (còn biết dưới tên Điếu Cày), ông Phan Thanh Hải và bà Tạ Phong Tần vì tội «tuyên truyền» chống Nhà nước vốn chỉ liên quan trực tiếp tới mọi hành xử chính đáng quyền tự do ngôn luận, kể cả những bài đăng tải trực tuyến của họ trên vấn đề xã hội và nhân quyền.

«Ba người nói trên bị xử theo điều 88 của Bộ luật Hình sự, mà án có thể lĩnh từ 7 đến 16 năm tù giam. Cuộc xử dự tính vào ngày 7.8 nhưng lại bị trì hoãn vô hạn định, dự tính sẽ không có nhân chứng và không công khai, làm quan ngại rằng phiên xử không được công bằng theo luật pháp được bảo đảm. Hai ông Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải bị giam giữ từ năm 2010, trong khi bà Tạ Phong Tần bị giam từ tháng 9 năm 2011.

«Trong những năm gần đây nhiều người bị bắt và bị kết án nặng nề cho thấy xu hướng kiềm chế tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và tự do lập hội của những bloggers, nhà báo và nhà hoạt động nhân quyền chỉ muốn chất vấn nhà cầm quyền một cách ôn hòa. Ví dụ như hôm 16 tháng bảy, ba dân oan mở cuộc vận động ôn hòa chống tham nhũng và lạm quyền của nhà cầm quyền địa phương đối với nông dân, đã bị kết án bốn đến năm năm tù.

«Chúng tôi thúc giục Chính quyền Việt Nam làm tròn các nghĩa vụ trong sự tôn trọng để bảo đảm công bằng cho các phiên tòa xử và xem xét nhanh chóng trả tự do cho bị can hành xử các quyền tự do ngôn luận, tư tưởng và lập hội».

04 August 2012

Phái đoàn Viện Hóa Đạo xuống Bạc Liêu lo tang lễ Phật giáo cho bà Đặng Thị Kim Liêng

THÔNG CÁO BÁO CHÍ NGÀY 3.8.2012

Phái đoàn Viện Hóa Đạo xuống Bạc Liêu lo tang lễ Phật giáo cho bà Đặng Thị Kim Liêng, mẫu thân chị Tạ Phong Tần


2012-08-03 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 3.8.2012 (PTTPGQT) - Ngày 30.7 vừa qua khi hay tin bà Đặng Thị Kim Liêng, mẫu thân chị Tạ Phong Tần, tự thiêu trước trụ sở Tỉnh ủy Bạc Liêu, Hòa thượng Thích Viên Định, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), liền có thư Phân ưu.

Hòa thượng viết: «Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng tự thiêu tại khu hành chánh Thành phố Bạc Liêu để phản đối Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bắt giữ, giam cầm oan ức con gái Bà là cô Tạ Phong Tần và gần đây còn liên tục bị công an khủng bố, đe doạ gia đình bà một cách nghiêm trọng. Đây là nỗi đau thương, mất mát rất lớn đối với gia đình cô Tạ Phong Tần.


 Hòa thượng Không Tánh hướng dẫn linh cữu về Nghĩa địa – Hình PTTPGQT
Hòa thượng Không Tánh hướng dẫn linh cữu về Nghĩa địa – Hình PTTPGQT


Hạ huyệt – Hình PTTPGQT
Hạ huyệt – Hình PTTPGQT

«Tuy nhiên, việc tự thiêu của Cụ Bà có thể làm ngọn đuốc thức tỉnh nhân tâm đồng thời đánh động thế giới về ách nạn độc tài, độc đảng đã thống trị trên đất nước Việt Nam suốt hơn 60 năm qua. 

«Viện Hoá Đạo GHPGVNTN cùng chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử thành kính chia buồn cùng tang quyến cô Tạ Phong Tần, và sẽ gửi phái đoàn chư Tăng đến phúng điếu, cầu siêu cho hương linh Cụ Bà. Cầu nguyện chư Phật tiếp dẫn hương linh Cụ Bà Đặng Thị Kim Liêng vãng sanh về cảnh giới An lành».
 

Chư Tăng Viện Hóa Đạo tiến hành nghi thức lễ tang tại huyệt mộ bà Đặng Thị Kim Liêng -  Hình PTTPGQT
Chư Tăng Viện Hóa Đạo tiến hành nghi thức lễ tang tại huyệt mộ bà Đặng Thị Kim Liêng - Hình PTTPGQT

Do bà Đặng Thị Kim Liêng là Phật tử, nên sáng hôm qua, 2.8, Viện Hóa Đạo đã đề cử Hòa Thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Từ Thiện, cùng với hai Đại đức Thích Đồng Minh, Thích Nhật Thành và Phật tử đến tại tư gia cụ bà Đặng Thị Kim Liêng ở 38/9, đường Hậu Hòa Bình, Khóm 6, Phường 1, Thành phố Bạc Liêu, để chia buồn cùng tang quyến và làm lễ cầu siêu tiễn đưa hương linh cụ bà đến nơi mộ huyệt.

Được biết từ ngày 31.7 đã có hàng trăm công an phong tỏa quanh nhà bà Liêng cho đến khuya, phòng những biến động do các phái đoàn thân hữu với chị Tạ Phong Tần đến phúng điếu. Cuộc an táng ngày 2.8, đã có trên 200 công an địa phương và nhiều công an từ Saigon gửi xuống theo dõi lễ tang.

Phái đoàn Viện Hóa Đạo do Hòa thượng Thích Không Tánh hướng dẫn đã vượt bao khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ tôn giáo đối với hương linh người quá vãng.

bản dịch Phật Quang Đại Từ điển của Hòa thượng Thích Quảng Độ




LỜI GIỚI THIỆU
bản dịch Phật Quang Đại Từ điển
của Hòa thượng Thích Quảng Độ 



2012-08-03 | Võ Văn Ái | Quê Mẹ 

Vừa thoát ách Pháp thuộc, liền bị rơi ngay vào chiến tranh rồi tranh chấp đến nay, dồn dập suốt 67 năm ròng. Nước ta chưa hình thành Hàn lâm viện để định chế ngữ văn trên bước tiến hóa của nhân loại, và sự đổi thay chuyển biến mỗi ngày trong cộng đồng dân tộc. Long đong theo những loạn động của thời thế, văn hóa và ngữ học mắc phải hệ lụy chưa biết ngày nào thoát thân.

Riêng trên phương diện làm từ điển hay tự điển thôi, đủ thấy học thuật Việt Nam giẫm chân tại chỗ hàng thế kỷ. Làm sao người Việt nắm bắt học thuật, văn hóa, tư tưởng, khoa học… nước ngoài tiến bộ vùn vụt qua các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hán, Phạn, v.v… nếu không có các bộ từ điển ngoại ngữ trong tay ? Cho tới nay, hầu như làm từ điển còn là nỗ lực cá nhân, những cá nhân thao thức, tự phát và trí tuệ. Từ thập niên 30, thế kỷ trước, người lập công đầu làm Tự điển Pháp Việt và Hán Việt là cụ Đào Duy Anh. Ông chỉ một mình trước tác, dịch thuật với sự giúp đỡ làm phích của cụ bà hiền nội. Tuy dịch các từ Pháp, Hán, nhưng với óc sáng tạo của cụ, ngôn ngữ Việt bỗng phong phú lên bội phần trên mọi lĩnh vực. Nhờ những từ ngữ đối chiếu mới mẻ ấy, mà học thuật Việt Nam chuyển mình bước lên đường tân học, bước chân vào thế giới văn minh. Giúp người Việt diễn tả các hoạt động tiến hóa của loài người. Từ đó trở về sau, có thêm không quá mươi cuốn tự điển Pháp Việt khác của những tác giả khác, nhưng đa phần chỉ là chiếu sao, rút từ hay ảnh hưởng lời chữ của Đào Duy Anh. Ít thấy chất sáng tạo ngôn ngữ hay bổ sung các từ mới khi cuộc sống và thời đại nẩy sinh không ngừng. Về từ điển Phật học ở nước ta chỉ sơ sài mấy cuốn. Khởi từ thập niên 60 có cuốn Phật học Tự điển dày 1530 trang của Cư sĩ Đoàn Trung Còn. Hai mươi năm qua có thêm cuốn Tự điển Phật học Việt Nam của Hòa thượng Thích Minh Châu và Minh Chi dày 818 trang do Nhà xuất bản Khoa học xã hội in năm 1991, Từ điển Phật học Hán Việt, hai tập, dày 2127 trang, dựa theo bộ Thực dụng Phật học Từ điển của Lô Quán Cao và Hà Tử Bồi xuất bản tại Thượng Hải, Trung quốc. Bộ này do Hòa thượng Kim Cương Tử chủ biên với 11 soạn giả của Hội Phật giáo Nhà nước thực hiện ở Hà Nội từ năm 1992 đến 1994. Sự thật chỉ có 10 soạn giả, vì họ ghi bừa thêm tên Hòa thượng Thích Quảng Độ, dù chẳng bao giờ ngài liên hệ, cộng tác. Bộ này dịch thuật sai sót, nhầm lẫn rất nhiều.

Không như cách làm việc ở các nước Tây phương. Lấy hai cuốn Từ điển tiếng Anh và tiếng Pháp làm ví dụ. Cuốn Từ điển Oxford tiếng Anh chiếu theo ấn bản thứ 3 đã có sự hợp lực của 300 nhà bác học, nghiên cứu, phụ giảng ngoại ngữ, tham vấn, với ngân qũy 35 triệu đồng bảng Anh (tương đương 55 triệu Mỹ kim) để thực hiện. Cuốn Từ điển Robert của Pháp, vượt cuốn Larousse một bực, xuất hiện đầu thập niên 50 thế kỷ XX, với một bộ biên tập 50 chuyên gia ngôn ngữ. Tái bản hằng năm, bổ sung chữ mới, chữ lạ.

Phật Quang Đại Từ điển bản chữ Hán do hơn 50 học giả Phật giáo thuộc Phật Quang Đại Tạng kinh Biên tu Ủy viên hội ở Đài Loan biên soạn trong mười năm 1978 – 1988.

Thập niên 30 ở thế kỷ trước, ông Đào Duy Anh cặm cụi làm việc một mình cho bộ Từ điển Pháp Việt dày 1958 trang, và Hán Việt tự điển 610 trang. Nhưng thời ấy là thời hòa bình dù còn thuộc Pháp. Sách vở nghiên cứu dễ mua, dễ kiếm. Ngày nay, Hòa thượng Thích Quảng Độ một mình dịch gần 8000 trang từ điển trong chốn lao tù, bức bách. Hầu như lịch sử mới có một trường hợp này. Chỉ phong thanh tin cụ Huỳnh Thúc Kháng học thuộc lòng cuốn tự điển Larousse nhỏ, thời gian Pháp giam cụ ở Côn đảo.

Phật Quang Đại Từ điển mà Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch thuật gồm 6 cuốn, với 7 triệu chữ giải thích các từ đề mục. Hòa thượng bắt đầu vào việc tháng giêng năm 1990, hoàn thành cuối năm 1997. Cần lưu ý 1990 là năm Hòa thượng còn bị nhà nước Cộng sản Việt Nam lưu đày ở xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình miền Bắc. Lệnh trục xuất khỏi thành phố Saigon đưa về nguyên quán quản chế do Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh đọc ngày 25.2.1982, với tội danh "làm tôn giáo là làm chính trị". Qua năm 1992, không thấy nhà nước xác định thời hạn quản chế hay đưa ra xét xử, Hòa thượng viết thư thông báo nhà đương quyền ; kỳ hạn trong vòng một tháng Hòa thượng sẽ tự sắp xếp trở về nơi trú xứ ở Saigon. Đúng kỳ hạn, Hòa thượng lấy tàu lửa trở về Nam, tá túc nơi Thanh Minh Thiền viện, và tiếp tục công trình dịch thuật Phật Quang Đại Từ điển. Cuối năm 1994, nạn lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long khiến cho nửa triệu người sống cảnh màn trời chiếu đất. Nhân danh Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng dẫn đầu phái đoàn cứu trợ đem thực phẩm, thuốc men, áo quần phân phát cho đồng bào nạn dân. Đến chuyến đi thứ ba, thì đoàn xe cứu trợ tám chiếc bị công an chận tại Saigon, bắt giam ngay một số chư Tăng và Cư sĩ trong phái đoàn. Sang ngày 4.1.1995 đến bắt Hòa thượng. Tòa án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh đưa ra xét xử hôm 15.8.1995, kết án Hòa thượng 5 năm tù và 5 năm quản chế, đưa ra giam ở Trại tù Ba Sao, Nam Hà, sau chuyển qua Trại tù B14, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì gần Hà Nội.

Đáp ứng yêu cầu của Hòa thượng, nhà đương quyền cho phép tiếp tục việc dịch thuật trong tù. Hòa thượng Thích Thanh Minh đi thăm nuôi, mang ra cho Hòa thượng bộ Phật Quang chữ Hán, 100 tập vở học trò và 100 cây bút Bic. Dịch xong tập vở nào, quản giáo đến tịch thu, viết biên nhận tập vở mới. Bút Bic nào hết mực, quản giáo đến lấy đi, viết biên nhận lãnh cây bút mới.

Do công luận quốc tế và LHQ lên tiếng, cùng sự vận động của Phật tử trong và ngoài nước, Hòa thượng được ân xá tháng 10 năm 1998. Trước ngày rời nhà tù, Hòa thượng yêu sách trả lại các tập vở dịch thuật bộ Phật Quang Đại Từ điển. Quản giáo nói phải viết đơn xin mới được. Hòa thượng đáp, đây là công trình của tôi, không ai làm đơn xin lại tài sản mình bao giờ. Thế là Trại B14 ở Thanh liệt tiếp tục nhốt tù tất cả các tập vở thủ bút dịch thuật kia.

Về Saigon, Hòa thượng bỏ ra hai năm để làm lại việc đã xong trong thời gian lao lý.

Phải đọc công trình dịch thuật Phật Quang Đại Từ điển mới thấy học thuật Hòa thượng thâm viễn, ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, và thù ứng với các từ Hán, Phạn tương đương. Tinh thông, nhuần nhuyễn, thanh thoát qua từng câu văn. Không còn là một tác phẩm dịch thuật, mà là tác phẩm văn chương trong lĩnh vực triết học và tư tưởng Phật giáo qua ngôn ngữ Việt. Vừa tường giải, vừa đối chiếu, mỗi từ mục là một bài thâm nhập giáo lý siêu thoát nhưng thực chứng của đạo Phật.

Mỗi từ hay mục từ đều kèm theo chữ Hán và chữ Phạn để người đọc nào quen thuật ngữ Hán hay Phạn dễ thâm nhập khi đối chiếu tiếng Việt. Thử lấy một nhóm từ mà ta thường tụng đọc, hay nghe nói, tuy có khi chưa hiểu tận nghĩa :Bát Nhã Ba La Mật. 

Không chỉ là chữ đối chữ, vào Phật Quang Đại Từ điển tập I, trang 464, sẽ được giải thích như sau :

Bát nhã ba la mật

Thật rốt ráo cho những ai am hiểu Phật giáo, lại được thâm nhập, khám phá thêm các bộ kinh khác tường giải mục từ. Với những ai Phật học còn sơ cơ, sẽ thấy hiện ra một số từ rối rắm như Thanh văn, Bích chi Phật, Ba la mật, pháp, nhất thiết chủng trí, Bồ tát, tự tính, nhân quả, nghiệp, v.v…, thì hẳn tiếp tục tra cứu các từ ấy trong toàn bộ 7 triệu chữ Phật Quang Đại Từ điển, tất sẽ được thấu đạt, hiểu ra các điều tưởng như kỳ bí, tối tăm.

Ngoài những từ ngữ, đề mục thuộc phạm vi Phật pháp, các bộ kinh qua các trường phái Bắc tông, Nam tông, Mật tông, v.v…, các tranh tượng Phật giáo ; Từ điển còn bao hàm các danh hiệu chư Phật, chư Bồ tát, hành trạng các vị cao tăng, thiền sư trong lịch sử Phật giáo châu Á, cùng những công trình xây cất danh lam, chùa viện thâm nghiêm, hùng vĩ, những vết tích lịch sử từ thời đức Phật trải qua các thời đại. Chỉ lấy một ví dụ ngôi chùa lộ thiên kỳ vĩ Borobudur ở đảo Java bên Nam dương, làm tốn biết bao mực nghiên cứu của các học giả phương Tây, được Phật Quang Đại Từ điển giải thích :

Bà La Phù Đồ / Borobudur, dịch ý là Tinh xá trên núi. Cũng gọi là Ba la phù đồ, Xà ba la phù đồ. Là thánh địa Phật giáo cực kỳ tráng lệ, ở thôn Bà la phù đồ thuộc Mã cát lãng, trung bộ đảo Java của Ấn ni (Indonesia), có thể sánh ngang với Vạn lý trường thành ở Trung quốc, Kim tự tháp của Ai cập, Đế thiên đế thích ở Cao miên, lăng Thái cơ ma cáp (Taj Mahal) ở Ấn độ, là một trong những kiến trúc vĩ đại của thế giới. Công trình này được xây dựng vào thế kỷ thứ IX Tây lịch, dưới triều vua Tái lãng độ lạp tư, trải 80 năm mới hoàn thành. Bản thân kiến trúc là một bậc thềm giống như Kim tự tháp. Bề dài bề ngang đều 123 mét, cao 42 mét, sau vì ngọn tháp nhọn Đại Phật khám bị sét đánh đổ, nên nay độ cao chỉ còn 31 mét, chia thành mười tầng. Hình thức kiến trúc biểu lộ sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa và Mật giáo, toàn bộ khu kiến trúc cũng như một Mạn đồ la vĩ đại, dưới rộng trên nhọn, không có cửa ra vào, đàn tế và chỗ ngồi cố định.

Là chùa lộ thiên, phân biệt tầng trên, tầng giữa, tầng dưới, tượng trưng cho Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới : tầng nền bằng với mặt đất, do 160 khối đá bản, điêu khắc nổi, miêu tả Dục giới cấu thành, dùng thủ pháp có tính hí kịch để biểu hiện sự làm ác ở hạ tầng, đậm đà ý vị quả báo thiện ác khuyên răn người đời. Thuận theo phương hướng… v.v… và v.v… giải thích còn dài nữa (xin xem tiếp ở tập I, tr 235).

Tưởng các sách hướng dẫn du lịch không thể viết rõ hơn về một danh lam thắng cảnh kỳ vĩ như Borobudur, nhất là không thể hiểu sâu các biểu tượng Phật giáo cùng những nhánh giáo lý đạo Phật thể hiện trên mặt đá phù điêu, chạm khắc như một Tạng kinh sống của nghệ thuật thứ bảy, nhưng đã thực hiện từ mười hai thế kỷ trước.

Người ở xa nước, không được gần gũi chư Tăng Ni, Thiện tri thức thông hiểu giáo lý, có bộ Phật Quang Đại Từ điển trong tay sẽ như được sống bên vị Thầy cao cả về đường Phật lý. Và điều chắc chắn, sẽ không bao giờ bị xa lìa với chân ngữ của đạo Phật, hay bị suy diễn đạo Giác ngộ thành loạn tưởng của tà giáo vào thời Mạt pháp hôm nay.

Tiền đồ Phật học Việt Nam có phát huy, tiến bộ chăng, phần lớn sẽ nhờ vào bộ Phật Quang Đại Từ điển bản dịch Việt văn của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Và cũng sẽ là tiền đề cho sự rộ nở của triết học, của tư tưởng Việt Nam còn sơ khai hôm nay. Nhớ lại hồi thế kỷ VII Tây lịch, thánh tăng Huyền Trang bỏ 15 năm trường, xuyên sa mạc Gobi hoang vắng, hiểm nghèo, sang Ấn độ thỉnh Kinh Phật. Về nước ngài phiên dịch ra Hán văn dưới thời Đường. Tiếp sau những dịch phẩm của ngài Kumârajîva (Cưu ma la thập) đời Đông Tấn thế kỷ V, các bản dịch của ngài Huyền Trang với óc sáng tạo dồi dào, chữ nghĩa độc đáo, thâm huyền, làm rộ nở, phong phú, đổi mới văn học, ngôn ngữ và tư tưởng Trung quốc.

Sẽ lợi ích biết bao cho hàng chục nghìn Tăng, Ni, hàng triệu người học Phật trong nước, nếu Phật Quang Đại Từ điển được xuất bản tại Việt Nam. Thế nhưng nhà đương quyền đặt điều kiện muốn in phải xóa bỏ tên dịch giả, Thích Quảng Độ. Vì vậy, năm 2000, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh thuộc Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc cho xuất bản lần đầu tại Đài Loan. Nay đã tuyệt bản. Do nhu cầu học hỏi của Phật tử Việt Nam trên năm châu đòi hỏi, và được Hòa thượng Thích Quảng Độ ủy quyền, tôi hân hoan thúc đẩy Nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris ấn hành Phật Quang Đại Từ điển vào mùa thu năm nay, 2012, gồm 6 tập, dày 7374 trang.

Nhân Hòa thượng dặn tôi viết lời giới thiệu khi tái bản, nên có đôi lời thảo vội trên đây trong những ngày nằm bệnh, thêm nữa nhà in thúc hối để lên khuôn ấn loát.

Phật lịch 2556, dương lịch ngày 7.6.2012
Paris, Bệnh viện Saint Joseph
Võ Văn Ái

http://bit.ly/OOGFMZ