26 September 2013

NGÔ ĐÌNH NHU THỎA HIỆP VỚI HÀ NỘI

· Dịch theo sách: Death of a Generation - How the Assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War
· Tác giả: Howard Jones, Giáo sư Danh dự, khoa Sử học, University of Alabama
· Nhà Xuất Bản: Oxford University Press, New York 2003

[LỜI NGƯỜI DỊCH: Bài này sẽ tập trung dịch những cuộc móc nối, thương thuyết mật giữa Hà Nội và ông Ngô Đình Nhu, qua trung gian của Đại diện Ba LanMieczylaw Maneli, Khâm sứ Vatican Salvatore d'Asta, Đại sứ Pháp Roger Lalouette và Chủ tịch Ủy hội Quốc tế Kiểm Soát Đình Chiến ICC Ramchundur Goburdhun. Phần được dịch sẽ là 11 trang: 310-314, 344-345, 362-364, và 406.

Tác phẩm này được viết rất mực công phu trong 15 năm, bởi Howard Jones, Giáo sư Đại học University of Alabama. Sách nầy khác tất cả những sách trước đó, vì sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu, trong đó có những cuộc điều trần chưa được in trên sách, báo nào.
 
Bản thảo được Jones đưa cho 4 vị giáo sư bạn – David Beito, Ron Robel, Tony Freyer, Forrest McDonald -- cùng trong đại học này, đọc, kiểm soát và góp ý.

Jones cũng đưa cho nhiều giáo sư và học giả khác -- James K. Galbraith, ở University of Texas; Paul Hendrickson, ở báo Washington Post và là tác giả một tác phẩm viết về Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara; Ken Hughes, ở University of Virginia; Don Rakestraw, ở Georgia Southern University; Pete Maslowski, University of Nebraska -- đọc bản thảo và góp ý.

Đặc biệt, Jones đã phỏng vấn nhiều người liên hệ tới thời kỳ 1963 tại Việt Nam, trong đó có Daniel Ellsberg, John Kenneth Galbraith, Roger Hilsman, Jack Langguth, Robert McNamara, Walt Rostow, và Dean Rusk.

Jones cũng được trợ giúp về tài liệu từ hàng chục học giả khác tại các Thư Viện Tổng Thống John F. Kennedy Library, Gerald R. Ford Library, Lyndon B. Johnson Library, Trung Tâm Văn Khố Quốc Gia. Trong đó có những cuộc điều trần chưa từng phổ biến.

Có thể kể, một điển hình cho sự nghiên cứu công phu và cẩn trọng của tác phẩm này như chú thích số 47 của trang 314, trong đó dẫn tới 7 nguồn khác nhau. Những chú thích khác đã dẫn 4 nguồn, hay 5 nguồn là bình thường. Tất cả các chú thích nơi đây đều sẽ không dịch ra Việt ngữ, để người nghiên cứu có thể dựa vào chú thích đó mà tự mình dễ dàng tìm ra tài liệu gốc Anh ngữ.

Có thể ghi nhận một số diễn biến nơi đây:
- Ngày 25-8-1963, Tướng Nguyễn Khánh nói với một viên chức Mỹ rằng ông Ngô Đình Nhu đang liên lạc với Hà Nội, và bày tỏ quan ngại, nói rằng các tướng sẽ chống tới cùng các giải pháp thương lượng Nam-Bắc và trung lập hóa Miền Nam, vì các tướng sợ sẽ bị trả thù.

- Chính phủ Kennedy xem việc Nhu tìm hiệp ước với Hà Nội là phản bội lòng tin của Mỹ.
- Đại sứ Nolting nói là có biết các đại diện Việt Cộng tới thẳng Dinh Tổng Thống, vào họp và đi ra bình an.
- Có nhiều tin trong mùa hè 1963 rằng Nhu liên lạc với Hà Nội qua trung gian Khâm sứ Vatican, Đại diện Ba Lan ở ICC (Maneli), Đại sứ Pháp, Đại sứ Ấn, Đại sứ Ý.
- Pháp muốn trung lập hóa Nam VN và tranh dành ảnh hưởng với Mỹ tại Đông Dương cũ..
- Đầu năm 1963, Nhu đã gặp một đại diện Việt Cộng ở Huế.
- Đại diện Ba Lan ở ICC là Maneli, vào tháng 8-1963, đã báo cáo về chính phủ Ba Lan rằng trong khi anh em Diệm-Nhu đàn áp Phật Giáo dữ dội, thì Hà Nội và Việt Cộng, qua những cuộc thương thuyết, đã hy vọng sẽ hỗ trợ Diệm-Nhu để yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam.
- Nhu nói trong một buổi họp 15 tướng lãnh rằng Nhu đang thương thuyết với Hà Nội, và không sợ chuyện Mỹ cắt viện trợ, vì cuộc chiến sẽ ngưng.
- Nhu viết bài trên báo Times of Vietnam ấn bản đầu tháng 9-1963 nói rằng Mỹ đang âm mưu đảo chánh anh em Diệm-Nhu.
- Nhu hút nha phiến, và mang bệnh ảo tưởng về "sự vĩ đại của Nhu." Ngôn ngữ Nhu nói trong một buổi gặp Maneli có dấu hiệu Nhu bị bệnh tâm thần. Điều nầy được xác nhận bởi Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn phòng Võ Văn Hải
- Trong tháng 9-1963, Nhu cũng khoe với Alsop, một nhà bình luận Hoa Kỳ, rằng Nhu đang nói chuyện với Hà Nội.
- Tình báo Mỹ nhận ra trong tháng 10-1963, tại Sài Gòn có 10 âm mưu đảo chánh, muốn lật đổ anh em nhà Ngô, nhưng chỉ nhóm các tướng lãnh là có kế hoạch khả thi.
- Đại sứ Lodge nói rằng Mỹ không có cách nào ngăn cuộc đảo chánh được, vì các tướng lãnh tự thấy sẽ bị trả thù, mất hết đường sống khi Nhu bắt tay Hà Nội.
- Tướng Tôn Thất Đính nói rằng Nhu đã họp với Tướng VC Văn Tiến Dũng qua Ủy hội ICC.
- Xem chú thích 38: Giới ngoại giao tại Sài Gòn chuyển cho nhau một tấm hình và nghi là có dan díu tình cảm bất chính giữa Maneli và Bà Nhu, nhưng Maneli bác bỏ.
 
Kèm bản Việt ngữ nầy là các bản Anh ngữ chụp lại từ bản chính để độc giả nào quan tâm có thể đối chiếu, đọc bản gốc Anh văn. Toàn văn dịch bởi Cư sĩ Nguyên Giác.]


HNG - Như vậy, việc ông Nhu, với sự "đồng ý" của ông Diệm và lời "xúi dại" của Đại sứ Pháp, đã quyết định liên hệ với Hà Nội để tìm cách đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam hầu tìm một giải pháp cho cuộc chiến tranh Quốc-Cọng là sự thật không thể chối cải. Sự thật đó, qua các tiết lộ của nhân vật trong cuộc, đã cho thấy nguyên ủy sâu thẳm của quyết định nầy là cơn bệnh hoang tưởng của một đầu óc mang bệnh cuồng vĩ của ông Nhu. Còn phía Hà Nội, trong quá trình thiết lập mối liên hệ, theo dõi kỹ những tuyên bố và động thái của các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Xuân Thủy ta thấy rõ ràng rằng những toan tính chính trị của họ chỉ là "Mỹ phải ra đi" để cán cân thắng lợi trên chính trường cũng như ngoài chiến trường nghiêng về phía họ … Đó là chiến lược nhất quán của Hà Nội. Sau nầy, từ hòa đàm Ba Lê (1968-1973) đến chính sách "Việt Nam hóa" chiến tranh của Mỹ (1969-1972), từ khi tấn chiếm Ban Mê Thuột đến khi dàn 9 sư đoàn ở cửa ngõ Sài Gòn vào cuối tháng 4/1975, lãnh đạo Hà Nội cũng chỉ đòi hỏi 3 chính phủ Thiệu, rồi Hương, rồi Minh của miền Nam một điều kiện chính trị là "Mỹ phải ra đi".


Hai vấn đề còn lại để thẩm định giá trị của "bước sẩy chân" chính trị (political faux-pas) nầy của ông Nhu là (1) Quá trình lấy quyết định thỏa hiệp với Hà Nội và cáchthiết lập mối liên hệ với Bắc Việt của hai anh em ông Diệm Nhu có phù hợp với Hiến pháp, Luật pháp, Hiện thực Chính trị và An ninh, Lòng dân và Thế nước của chế độ Việt Nam Cọng Hòa tại miền Nam từ năm 1954 qua phân cho đến lúc bấy giờ không ? Và (2), giải pháp "đuổi Mỹ và thỏa hiệp với Cọng" của hai anh em ông Diệm Nhu, nếu không có ngày 1-11-1963, thì có đạt được kết quả dự kiến là hai ông Nhu Diệm sẽ cùng với đảng Lao Động và ông Hồ Chí Minh, với cơ cấu chính trị nào và trong sách lược quốc gia nào, sẽ mang lại thống nhất độc lập bền vững, dân chủ tự do thật sự, và hòa bình thịnh vượng cho Việt Nam trong bối cảnh tuyến đầu của cuộc thư hùng Tư bản-Cọng sản vào đầu thập niên 1960' ? (Nhấn mạnh trong bản dịch là của HNG)

BẮT ĐẦU BẢN DỊCH
■ Trang 310:
Gần như tất cả các nguồn tin đều nhận định ông Nhu là nan đề chính, và Đại sứ Lodge vẫn dè dặt, cảnh giác Bạch Ốc vào ngày 24-8-1963 rằng chưa tới lúc để đứng về phía các tướng lãnh VNCH. Lodge không đồng ý với CIA, cơ quan tình báo này gọi ông Nhu là "nhân vật nắm quyền, có lẽ với ưng thuận của Tổng Thống Diệm."

Dựa vào những cuộc nói chuyện riêng rẽ với Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống Võ Văn Hải, Tướng Trần Văn Đôn và Tướng Lê Văn Kim, Đại sứ Lodge khẳng định rằng ông Nhu ("nếu ông này không hoàn toàn vẽ ra kế hoạch mọi thứ") có lẽ đã có ủng hộ từ ông Diệm trong việc soạn kế hoạch tổng tấn công các chùa (đêm 20-8 rạng ngày 21-8-1963). Nhiều phần có lẽ rằng quân đội VNCH không tham dự tấn công chùa, và phía gây tội là cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung.

Đại sứ Lodge nhấn mạnh rằng điều quan trọng nhất là, cả 3 sĩ quan chỉ huy quân sự quyền lực nhất tại Sài Gòn -- Tướng Trần Văn Đôn, Tướng Tôn Thất Đính, và Đại Tá Lê Quang Tung -- vẫn giữ lòng trung thành với hoặc ông Diệm hoặc ông Nhu. Bất kỳ nỗ lực nào từ phía Mỹ muốn vận dụng các tướng sẽ là "phát đạn trong bóng đêm." (35)

Vào thời điểm quan trọng này, Tướng Nguyễn Khánh thông báo cho John Richardson (Trưởng Phòng CIA tại Sài Gòn) vào ngày Chủ Nhật 25-8-1963 về một diễn biến bất tường: Nhu đang xem xét một hiệp ước với Hà Nội để sẽ kết thúc chiến tranh. Bên cạnh việc làm mất mặt các tướng lãnh trong trận tổng tấn công các chùa, có phải Nhu cũng muốn tìm một thương lượng giữa Bắc VN và Nam VN để buộc người Mỹ ra khỏi VN?

Chính phủ Kennedy chỉ trích hành vi phản bội lòng tin này, mặc dù một năm trước đó Mỹ đã lặng lẽ đưa Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Chính Trị Vụ William Averell Harriman thăm dò về một khả năng tương tự với các đại diện nhà nước Hà Nội tại Geneva. Nhiều năm sau, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Viễn Đông Vụ Roger Hilsman nói rằng Bạch Ốc đã xem các cuộc nói chuyện như thế như là nỗ lực của chế độ Diệm muốn làm áp lực Hoa Kỳ.

Nhưng các lời khẳng định của Tướng Khánh thu hút sự chú ý tức khắc tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, nơi xem Tướng Khánh là "một trong các tướng lãnh xuất sắc, vừa can đảm, vừa phức tạp."

Điều quan trọng nhất là, các tướng lãnh VNCH tin vào chuyện đó. Tướng Khánh nói với một viên chức CIA tại Sài Gòn rằng họ lo sợ cho sinh mạng của họ, và "sẽ tất yếu nổi dậy" nếu Nhu tìm một hiệp ước với hoặc Hà Nội, hoặc với Cộng Sản Trung Quốc để trung lập hóa Nam VN. Các tướng lãnh nghĩ rằng, sau đó, Nhu sẽ chĩa mũi dùi sang họ. Họ "sẽ kháng cự dữ dội nếu các chính khách hiện nắm quyền lực lại đi sai lối." Bởi vì giờ khác biệt (giữa Mỹ và VN), bức điện văn kể về buổi họp của Tướng Khánh với Richardson (Trưởng Phòng CIA tại Sài Gòn) tới Washington vào Thứ Bảy 24-8-1963, lúc 9:30 giờ sáng. (36)

Chuyện Tướng Khánh nói không gây ngạc nhiên nhiều ở Washington. Cựu Đại sứ Mỹ tại VN Frederick Nolting trước đó đã tường trình về nhiều cuộc liên lạc ngõ sau do Nhu thực hiện với người CS mà ông Diệm "đều biết cả."

Tuy nhiên, Phó Đại Sứ Mỹ William Trueheart bác bỏ thông tin rằng Nhu đang bí mật thương thuyết với Bắc Việt và bác bỏ bản tin [Nhu] muốn Hoa Kỳ rút khỏi VN. "Tôi thực sự nghĩ đó phần nhiều là tin nhảm."

Nhưng rồi, nhiều năm sau, chính Nolting đã hồi tưởng lại rằng "Các lãnh tụ Việt Cộng tới thẳng văn phòng của Nhu trong Dinh Tổng Thống... với thỏa thuận rằng họ sẽ không bị bắt trong khi họ ở đó."

Nolting nói, "Tôi đã biết chuyện đó. Và tôi biết chắc rằng họ đã nói, 'Đừng để người Mỹ vào sâu ở đây.' Và [biết] Nhu đã nói, 'Đừng để người Tàu dính vào mấy chuyện này.'"

■ Trang 311:
Nolting ghi nhận rằng chính phủ Mỹ chỉ trích hành động của anh em Diệm-Nhu như là phản bội. "Tôi đã rơi vào cảnh khó khăn khi tìm cách nói, 'Chờ một chút. Có thể chuyện này không phảỉ là phản bội. Hãy cho họ [Diệm-Nhu] một cơ hội. Họ không quá ngu ngốc thế, và họ không đang phản bội chúng ta." Nhu đang tìm cách thuyết phục Việt Cộng hãy 'bán đứng, trên thực tế, cho chính phủ [VNCH]."

Bạch Ốc đã quyết định không can thiệp, để mọi chuyện diễn tiến khi nào mà chế độ Diệm chưa bán đứng Miền Nam cho CS. Nolting thì không biết chắc là ai đã trả lời các điện văn của ông, nhưng chữ ký của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Dean Rusk ghi tên tất cả các điện văn phúc đáp đó. (37)

Lời kể của Nolting phù hợp với nhiều tin nghe được trong mùa hè 1963, rằng Đại diện Ba Lan của Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế ICC, Mieczylaw Maneli, đóng vai trung gian hòa bình giữa Nhu và Hà Nội.

Maneli, người từng sống sót qua trại tập trung Auschwitz trong Thế Chiến 2, làm giáo sư luật ở đại học University of Warsaw và là đảng viên Cộng Sản, sau đó xác nhận rằng ông đã hai lần họp với ông Nhu. Lần đầu là ngày 25-8-1963, trong một buổi tiếp tân ở Sài Gòn có tham dự của nhiều đại diện ngoại giao, và lần thứ nhì là gặp bí mật tại Dinh Gia Long vào ngày 2-9-1963.

Đại sứ Pháp tại Sài Gòn, Roger Lalouette, đã thu xếp buổi họp đầu tiên với sự hỗ trợ từ Đại sứ Ấn Độ và là Chủ tịch ICC Ramchundur Goburdhun, Đại sứ Ý Giovanni Orlandi, và Khâm sứ Vatican là Đức Ông Salvatore d'Asta.

Theo lời Maneli, Lalouette đã tìm cách phát triển một cuộc trao đổi văn hóa và kinh tế giữa những người Việt thù nghịch nhau để sẽ đặt nền tảng cho sự thống nhất VN và do vậy sẽ "đưa chế độ Diệm về lại thân Pháp và tách khỏi phía người Mỹ vô tình."

Kết thúc cuộc chiến VN sẽ cho VN trung lập hóa theo đường hướng của Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle, người có ý định kết hợp Việt Nam với hai nước trung lập Lào và Cam Bốt để biến vùng này một lần nữa trở thành "viên ngọc trong hào quang vĩ đại của nước Pháp."

Thời điểm của buổi họp đầu tiên giữa Nhu và Maneli trùng hợp với lời báo động nêu lên từ Tướng Khánh và cho tính xác thực về nỗi lo sợ của Tướng này. (38)

Khi Maneli lần đầu đưa ra kế hoạch hòa bình này cho Hà Nội xem vào mùa xuân 1963, Thủ Tướng Bắc VN Phạm Văn Đồng lập lại lời khẳng định trước đó của ông Hồ Chí Minh rằng Bắc VN đã sẵn sàng thương thuyết vào bất kỳ lúc nào. Ngoại Trưởng Xuân Thủy đã có một danh sách các hàng hóa trong đó có cả than và các vật liệu kỹ nghệ khác, mà chính phủ Bắc VN sẽ trao đổi với Nam VN đổi lấy gạo và nhiều lương thực khác.

Cả 2 lãnh tụ Bắc VN này đều công khai chỉ trích chế độ Diệm nhưng nói vẫn sẵn sàng thương thuyết. Họ Hồ trước đó cũng đã nói với Goburdhun rằng Diệm là "một người yêu nước kiểu của ông ấy" và rằng giao thương là có thể. Ông Hồ nói, "Khi ông gặp ông Diệm, hãy bắt tay ông Diệm giùm tôi với." (39)

Vào tháng 7-1963, Maneli thăm Hà Nội lần nữa, sau đó nói rằng quan tâm muốn thương thuyết của ông Hồ đã tác động quyết định của NLF (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) để không leo thang hành động trong khi chính phủ ông Diệm căng thẳng với Phật Giáo.

■ Trang 312:
Thực sự, Bắc VN đã cho thấy rằng ông Diệm có thể trở thành một nguyên thủ có thể chấp nhận được của chính phủ Sài Gòn. Lalouette đã nghĩ rằng Diệm sẽ sống sót nếu Diệm chấp nhận một cuộc dàn xếp chính trị. "Ông ta [Diệm] lẽ ra phải thay đổi hệ thống [cai trị] nếu ông ta vẫn giữ quyền lực, nhưng ông ta đã có chính phủ và bộ máy hành chánh, và ông ta có nhân sự tốt."

Mùa hè đó, ông Hồ công khai kêu gọi ngưng bắn, mà lần này, [lời kêu gọi] dường như chân thực vì Bắc VN quan tâm về việc Mỹ mở rộng tham dự quân sự. Maneli cũng thấy hy vọng cho việc Diệm vẫn nắm quyền được – ít nhất là một thời gian nữa. "Nếu chính phủ Hà Nội không nỗ lực tấn công nhằm lật đổ Diệm và Nhu khỏi Sài Gòn, điều này chắc chắn vì Hà Nội muốn Diệm-Nhu nắm quyền thêm một thời gian nữa -- đủ lâu để đạt một thỏa ước với họ sau lưng người Mỹ."

Nhận được thông tin từ Hà Nội, Nhu có lẽ đã nói chuyện với ông Hồ "xuyên qua các đặc sứ trực tiếp từ Hà Nội, với giúp đỡ từ người Pháp." Maneli đã chính xác. Vài năm sau đó, theo báo Hòa Bình có tòa soạn ở Sài Gòn thì ông Nhu đã gặp các đại diện Việt Cộng tại Huế, thành phố quê nhà của ông, vào đầu năm 1963.

Nhu lúc đó nói chuyện với người anh/em của một đại sứ Bắc Việt, và thương thuyết đã khởi sự vào tháng 7-1963, như Maneli nghi ngờ. Và, đúng như sự suy nghĩ của Lalouette, những cuộc thương thuyết bí mật này giúp giải thích tại sao Việt Cộng không lợi dụng thời cơ trong khi ông Diệm căng thẳng với Mỹ để tung ra một trận tấn công lớn vào cuối tháng 8-1963. (40)

Khi Maneli hỏi Phạm Văn Đồng (Thủ Tướng Bắc Việt) và Xuân Thủy (Bộ Trưởng Ngoại Giao Bắc Việt) rằng điều gì ông nên nói nếu ông Nhu mời thương thuyết, họ đã trả lời: "Bất cứ những gì ngài biết về lập trường chúng tôi về hợp tác và trao đổi kinh tế và văn hóa, về hòa bình và thống nhất đất nước. Một điều chắc chắn rằng: người Mỹ phaỉ ra đi. Trên căn bản chính trị này, chúng ta có thể thương thuyết về mọi thứ."

Maneli đã hỏi Phạm Văn Đồng (với ông Hồ Chí Minh lúc đó đứng trong phòng, "lặng lẽ, như dường bị cưỡng ép") rằng Hà Nội sẽ có hay không cứu xét "một hình thức liên bang với Diệm-Nhu hay một thứ gì trong bản chất về một chính phủ liên hiệp."

Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố: "Mọi thứ đều có thể thương thuyết được dựa vào nền tảng độc lập và chủ quyền cho VN. Hiệp ước Geneva cung cấp nền tảng pháp lý và chính trị cho điều này: không lập doanh trại hay để lính nước ngoài trên lãnh thổ VN. Chúng tôi có thể đạt tới một hiệp ước với bất kỳ người VN nào."

Maneli cảnh báo rằng các cường quốc Tây phương sẽ chống một chính phủ liên hiệp và [sẽ] đòi an toàn cho anh em Diệm-Nhu. Phạm Văn Đồng lập lại: "Mọi thứ đều có thể là đề tài thương thuyết. Chúng tôi có ước muốn chân thực chấm dứt tranh chấp, để thiết lập hòa bình và thống nhất trên căn bản thực tế hoàn toàn. Chúng tôi là những người thực tế." (41)

Maneli kết thúc bản phúc trình gửi cấp chỉ huy của ông tại Warsaw ngày 10-7-1963 rằng cả 2 chính phủ VN muốn đạt thỏa ước theo kiểu riêng của họ. Họ muốn làm như thế mà "không có tham dự của các Siêu Cường Quốc, không có Moscow, không có Washington, và chắc chắn là không có Bắc Kinh; cả 2 chính phủ ước muốn có những cuộc nói chuyện tối mật và phải giữ một mặt ngoài chính thức nào đó." Hà Nội đã đón nhận sáng kiến này, mà lần đầu tiên không có sự chấp thuận trước của Bắc Kinh.

Đại diện Phái đoàn Ba Lan tại ICC, Mieczyslaw Maneli, và tác phẩm War Of The Vanquished
(xuất bản năm 1971) kể lại toàn bộ vai trò trung gian của ông trong thỏa hiệp Hà Nội - Sài Gòn

■ Trang 313:
Maneli liên tục báo cáo về chính phủ của ông [Ba Lan] trong đầu tháng 8-1963 rằng nếu Diệm và Nhu muốn sống còn, họ hoặc phải rời khỏi Việt Nam hoặc đàn áp Phật Tử. Hà Nội và Việt Cộng đã chọn lập trường "chờ cho một cuộc 'nội chiến' mới và trong cơ hội đầu tiên này, họ sẽ hỗ trợ Diệm để chống lại người Mỹ."

Cả Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh đã nêu lập trường rõ ràng: "Mục tiêu và việc làm tối quan trọng của chúng tôi là dẹp bỏ người Mỹ. Và rồi chúng ta sẽ thấy." Maneli không ngờ vực rằng "một đồng thuận tối mật" đã có giữa "Diệm-Nhu và Hà Nội" -- rằng "khi nào Diệm-Nhu còn tham dự chống lại phía người Mỹ và đồng minh [của Mỹ], Hà Nội sẽ để cho Diệm-Nhu sống." (42)

Maneli nhận định, việc bổ nhiệm Lodge làm tân Đại sứ Mỹ đã khởi động ra các sự kiện dẫn tới việc ông gặp ông Nhu lần đầu hôm 25-8-1963. Thực sự, hành động của Bạch Ốc "đã khởi sự kết thúc chế độ ông Diệm" và buộc họ [Diệm Nhu] tấn công những người Phật Tử "thân Mỹ" trước khi Lodge tới VN. Anh em Diệm-Nhu đã tung ra trận tổng tấn công nhà chùa, theo Maneli lý luận, là để "tự cứu họ khỏi bị đảo chánh do Mỹ thúc đẩy," nhưng hành vi tấn công chùa hóa ra lại làm mất uy tín chế độ trước người dân Việt và thế giới.

Bây giờ, trong tuyệt vọng, Nhu sắp xếp để tân Ngoại Trưởng Trương Công Cừu mời Maneli vào dự bữa tiệc chỉ mới 4 ngày sau trận tổng tấn công các chùa, trong đó có Đại sứ Lodge trong danh sách khách mời của các viên chức ngoại giao. Đó là một quyết định mấu chốt. Sự hiện diện của Maneli ghi dấu lần đầu một nhà ngoại giao Cộng Sản tham dự một buổi họp mặt cấp cao như thế ở Sài Gòn. Nơi đó, trong một cử chỉ dàn dựng sẵn, Lalouette (Đại sứ Pháp), Orlandi (Đại sứ Ý), d'Asta (Khâm sứ Vatican), và Goburdhun (Chủ tịch ICC) đã tạo cho Maneili và Nhu gặp nhau. (43)

Nhu nói với Maneli trong khi nhóm nhà ngoại giao này quan sát hai người, "Tôi đã nghe nhiều về ngài từ các bạn chung của chúng ta. Dân tộc Việt vốn nhạy cảm về vấn đề chủ quyền và sự bất tín, không chỉ đối với người Trung Quốc mà còn đối với tất cả những kẻ chiếm đóng và thực dân, tất cả." (44)

Maneli và, tất nhiên là, cả những người khác đang trong cuộc nói chuyện, nghĩ trong đầu rằng có phải Nhu bao gồm cả người Mỹ [trong câu nói đó] không?

Nhu khẳng định, "Bây giờ chúng ta muốn hòa bình, và chỉ muốn hòa bình thôi... Tôi tin rằng Ủy Hội Quốc Tế có thể và nên đóng một vai quan trọng trọng việc tái lập hòa bình tại Việt Nam."
Maneli cẩn trọng bảo đảm với Nhu rằng tất cả những thành viên Ủy Hội đã nghĩ rằng Ủy Hội "có thể giữ vai trò xây dựng nếu cả hai phía mong muốn."

Nhu nhấn mạnh, "Chính phủ Việt Nam ước muốn hành động theo tinh thần của Hiệp Định Geneva."

Maneli trả lời rằng, đó là cách duy nhất để đạt hòa bình và thống nhất. (45)

Lodge đã gặp Maneli trong bữa tiệc, nhưng bị lôi đi giữa cuộc đối thoại, tình hình này cho thấy đánh giá ban đầu của Maneli về tính kiêu hãnh của Đại sứ Lodge. Nếu Lodge ở lại thêm một chút, thay vì về sớm, Lodge có thể đã nhận ra cuộc thảo luận của Maneli với Nhu.

■ Trang 314
Kết hợp với những gì Bạch Ốc đã biết về liên lạc của Nhu với Việt Cộng và với Bắc Việt, những trao đổi công khai giữa Maneli và Nhu có thể đã khuyến khích chính phủ Mỹ xem xét về các tác động chính trị. Có phải buổi gặp gỡ này củng cố cho nỗi nghi ngờ đã lan rộng rằng Maneli đã trở thành trung gian giữa hai miền Việt Nam? Ảnh hưởng nào đã có từ các cuộc liên lạc Nam-Bắc đối với quan điểm các tướng lãnh VNCH về một cuộc đảo chánh? (46)

III
Nỗ lực của Đại sứ Lodge để trì hoãn bất kỳ hành động nào đã không có ảnh hưởng: Điện văn ngày 24-8-1963 của ông đã tới Washington vào lúc 2:05 giờ chiều Thứ Bảy, khi đó, như định mệnh đã sắp xếp, chỉ có vài cố vấn làm việc và họ là những người công khai chỉ trích chế độ ông Diệm. Forrestal (Phụ tá Cố vấn An ninh), Hilsman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Viễn Đông Vụ), và Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Chính Trị Vụ) đọc bản điện văn của Lodge một cách quan ngại, ghi nhận rằng điện văn đã xác minh nỗi nghi ngờ của họ về những thủ đoạn bất lương của Nhu trong cuộc tổng tấn công các chùa.

Có phải tin này củng cố cho bản điện văn sáng hôm đó từ Sài Gòn có ghi lời Tướng Khánh cáo buộc rằng Nhu đang bí mật thương thuyết với Hà Nội? Có lẽ ngay cả phóng viên Halberstam đã chính xác trong ấn bản ngày hôm đó của tờ New York Times, khi ông tường trình rằng nhiều quan sát viên tại Sài Gòn đã gọi cuộc tổng tấn công nhà chùa là 'cú đánh của Nhu.'

Không kiểm chứng trước với Phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc gia McGoerge Bundy, Forrestal kèm một lá thư "chỉ để đọc thôi" vào một điện văn gửi Tổng Thống vào lúc 4:50 giờ chiều, thông báo về thư của Lodge và kèm một đề nghị đáp ứng với Sài Gòn, mà ba cố vấn – Forrestal, Harriman và Hilsman – đã soạn thảo với sự chấp thuận của Ball (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và Đô Đốc Felt (Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở Thái Bình Dương) và muốn gửi ngay đêm hôm đó.

Lodge khuyến cáo là "hãy chờ xem" cho tới khi ông có thể quyết định xem quân đội VNCH có hành động nào chống Nhu hay không.

Harriman, Hilsman, và Forrestal thì muốn hành động tức khắc vì tình hình tại Sài Gòn có thể không "linh hoạt lâu nữa." Hilsman gọi bức điện văn của Lodge là "có lẽ phán đoán thuyết phục nhất trước giờ" cho thấy các tướng lãnh VNCH không hài lòng với việc ông bà Nhu hung bạo với Phật Tử.

Nếu Nhu còn nắm quyền, "chế độ sẽ tiếp tục đi theo chính sách tự sát mà không chỉ kéo Việt Nam xuống chỗ xấu hổ và thảm họa nhưng cũng kéo cả Mỹ như thế." Harriman và Hilsman muốn rằng Mỹ phải "hành động trước khi tình hình tại Sài Gòn đóng băng." (47)

Sự thật đã trở thành không thể chối bỏ: Nhu là người trách nhiệm cuộc tổng tấn công các chùa. Điện văn 243, soạn bởi Harriman, Hilsman, và Forrestal (với giúp đỡ từ Mendenhall), kêu gọi Lodge phải công khai tố cáo Nhu về vụ tấn công chùa, trong khi Washington và đài VOA cùng làm như thế khi nào Đại sứ Lodge cho thấy thời điểm thích nghi lên tiếng.

Nhu đã sắp xếp để công chúng có ấn tượng rằng quân đội VNCH trách nhiệm trận tắm máu đó và như thế tự đưa Nhu vào vị trí lãnh đạo... (Sẽ nhảy tới trang 344 để nói tiếp phần Nhu liên lạc với Hà Nội).

■ Trang 344:
Ngoại Trưởng Rusk đồng ý với khuyến cáo của Đại sứ Lodge để tiếp tục áp lực ông Diệm phải tiến hành thay đổi nội các. Vẫn còn giữ lý luận rằng khuyến khích một cuộc đảo chánh không có nghĩa là đồng lõa, Ngoại Trưởng khẳng định rằng Bạch Ốc sẽ hỗ trợ cho một nỗ lực đảo chánh của người Việt, nhưng Bạch Ốc "không nên và sẽ không khởi dậy và điều hành một cuộc đảo chánh."

Trong một cố gắng giải thích cũng dao động như thế để phân biệt giữa động cơ Hoa Kỳ và hành động Hoa Kỳ, Rusk tuyên bố rằng Diệm phải hiểu rằng Mỹ tìm cách "cải thiện chính phủ [của Diệm] chứ không phải lật đổ."

Hạ Viện Mỹ mới đây đã cắt chương trình viện trợ, "phần lớn vì thất vọng trong toàn bộ các nỗ lực tại Việt Nam." Nếu không có thay đổi chính phủ, Mỹ có thể sẽ ngưng tất cả viện trợ.

Diệm phải chứng minh cho Quốc Hội Mỹ và cho dư luận thấy rằng "chúng tôi không yêu cầu người Mỹ tới để bị hy sinh nhằm hỗ trợ cho khát vọng của Bà Nhu muốn nướng thịt các vị sư."

Các biện pháp cứng rắn bây giờ có cơ may sẽ thành công, vì đã thấy ông Diệm "có thể cũng đã biết sợ trong những ngày gần đây." (55)

Tính bất khả tiên đoán của tình hình Việt Nam tiếp tục làm rối trí Bạch Ốc khi, vào ngày 1 tháng 9-1963, Đại sứ Lodge có buổi họp lâu 2 giờ với Nhu, trong đó cho thấy chuyện ngạc nhiên là Nhu đồng ý từ chức ra khỏi chính phủnhư một dấu hiện của sự thành công trong cuộc chiến. Trước mặt Đại sứ Ý và Khâm sứ Vatican, Nhu tuyên bố rằng ông không còn được cần tới nữa và sẽ về hưu ở Đà Lạt sau khi chính phủ Sài Gòn gỡ thiết quân luật.

Những vị khách lắng nghe kinh ngạc trong khi Nhu khẳng định một cách bi hài rằng Nhu ưa thích chờ đợi cho tới khi "các điệp viên Mỹ nào đó" những người vẫn còn đang ám trợ một cuộc đảo chánh chống lại gia đình ông đã rời khỏi Việt Nam. "Mọi người đều biết họ là ai."

Bà Nhu sẽ rời Việt Nam ngày 17-9-1963 để dự Hội Nghị Liên Quốc Hội (Interparliamentary Union) tại Nam Tư, sau đó sẽ đi tới Ý Đại Lợi và có thể tới Mỹ, nơi bà có một lời mời để nói chuyện trước Câu Lạc Bộ Báo Chí Hải Ngoại (Overseas Press Club) tại New York.

Khâm sứ Vatican sẽ sắp xếp để Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục ra khỏi Việt Nam.
Tuy nhiên, Nhu từ chối rời Việt Nam vì các liên lạc của Nhu với các cán bộ Việt Cộng, vốn bị mất tinh thần vì sự tiếp trợ không đủ từ Bắc Việt và đã sẵn sàng rời bỏ cuộc chiến vũ trang. (56)

Đại sứ Lodge chắc chắn đã nhận ra rằng Nhu không thật thà về chuyện rút khỏi chính phủ và rằng Nhu đã giấu các động cơ. Có chứng cớ nào về thành công [trên chiến trường] của quân lực VNCH? Những liên lạc nào Nhu đã thực hiện với Việt Cộng? Còn về những tin đồn về Nhu nói chuyện với Hà Nội? CIA đã gọi đó là "bí mật hiển lộ" trong giới ngoại giao ở Sài Gòn rằng Nhu đã liên lạc với Hà Nội và rằng ngườì Pháp đang tìm kiếm hòa giải giữa Nam và Bắc VN.

■ Trang 345:
Nhu mới đây đã nói với 15 tướng lãnh tại bộ tổng tham mưu Quân lực VNCH là đừng lo ngại về chuyện người Mỹ hăm dọa cắt viện trợ; Nhu "đã liên lạc với các anh em Miền Bắc và có thể có dịp nghỉ ngơi bằng cách yêu cầu Bắc Việt chỉ thị cho các du kích Miền Nam tạm ngưng hoạt động trong khi thương thuyết cho một thương lượng lâu dài." Nhu đã tố cáo rằng CIA muốn Nhu "bước sang một bên," và [CIA] đang làm việc với các "phần tử bí mật" trong chính phủ Mỹ để lật đổ chế độ Diệm. Chỉ có Đại sứ Lodge đưa tới hy vọng, theo Nhu khẳng định trong một lời tuyên bố và lời này hiển lộ ảo vọng cuả Nhu. "Chúng ta có thể vận dụng sai sử Lodge – Lodge sẽ đồng ý hoàn toàn với những suy nghĩ và những hành động của chúng ta." (57)

Thái độ sai lầm của Nhu cứ tiếp diễn mãi khi Maneli gặp Nhu hôm 2-9-1963 (mà điều này nhiều năm sau mới được biết) trong khi đang có sự phẫn nộ về một bài viết nơi trang nhất của tờ Times of Vietnam trong đó cho thấy rạn vỡ giữa chế độ Diệm và Hoa Kỳ. Dòng tưạ đề nêu rõ, "CIA tài trợ một âm mưu đảo chánh."

Bài này do Nhu viết, bản gốc của bài đã kể ra tên nhiều viên chức CIA đứng sau âm mưu, trong đó có Trưởng phòng CIA tại Sài Gòn là Richardson. Có một vài người sau đó kể lại rằng, Bà Nhu đã xóa tên ông Nhu trên bài viết đó.

Maneli tới Dinh, vào ngồi với Nhu ở một chiếc bàn nhỏ trong một căn phòng rải rác đồ đạc để lăn lóc "trông như một khối rác." Nhu nhanh chóng khởi sự độc thoại trong đó có những ngôn ngữ và ý tưởng Mác-xít, điều này làm cho Maneli sửng sờ. (58)

"Tôi đang thực hiện một cuộc chiến để kết thúc chiến tranh vĩnh viễn tại Việt Nam; Tôi đang thực sự chiến đấu chống chủ nghĩa Cộng Sản để kết thúc chủ nghĩa tư bản vật chất. Tôi đang tạm thời xiết chặt tự do để sẽ cho lạitự do trong một hình thức vô hạn. Tôi đang củng cố kỹ luật để khai tử những trói buộc ngoại tại. Tôi đang trung ương tập quyền đất nước để sẽ dân chủ hóa và sẽ phân tán quyền lực ... Các ấp chiến lược là định chế căn bản của nền dân chủ trực tiếp. Khi các ấp nầy phát triển và thịnh vượng, chúng sẽ trở thành hạt nhân chính của một tổ chức quốc gia, và rồi chính bản thân nhà nước – như Karl Marx đã nói -- sẽ biến mất." (59)
Hàng rào tre của một Ấp Chiến lược.
Theo ông Nhu, Ấp sẽ trở thành "định chế căn bản của nền dân chủ trực tiếp" và là
"hạt nhân chính của tổ chức quốc gia, và nhờ vậy, nhà nước sẽ biến mất"

Nhu thấy cái nhìn kinh ngạc của Maneli, và lập lại tuyên bố đó. "Đúng vậy. Tôi đồng ý với kết luận cuối cùng của Marx: nhà nước phải biến mất – đó là một điều kiện cho chiến thắng cuối cùng của dân chủ. Ý nghĩa của đời tôi là làm việc để cho tôi có thể trở thành không cần thiết. Tôi không chống lại những cuộc thương thuyết và hợp tác với Miền Bắc... Nơi đây, Ủy hội Quốc tế -- và bản thân ngài—có thể đóng một vai trò tích cực." (60)

Maneli lập lại lời bảo đảm trước đó của ông đối với Nhu rằng Ủy hội Kiềm soát Quốc tế ICC sẽ làm mọi việc có thể để kết thúc chiến tranh, ghi nhận rằng Sài Gòn đang râm ran những tin đồn về những cuộc thương thuyết bí mật. Maneli tin rằng Diệm và Nhu đã nghĩ rằng nếu họ tách lìa người Mỹ, họ có thể trong vị trí để sắp xếp cuộc thương lượng với Hà Nội. Do đó họ sử dụng nỗi sợ lan rộng này "để gây kinh hoảng và để bắt chẹt các đồng minh chống Cộng của họ." (61)

Sau đó trong ngày, Maneli nói chuyện với Lalouette, được Lalouette nhấn mạnh lần nữa rằng cách duy nhất để có hòa bình tại VN là xuyên qua chế độ Diệm. Maneli chưa bao giờ chấp nhận lời khẳng định như thế. (Nhảy tới trang 362)

■ Trang 362, từ giữa trang:
Các nguồn tin tình báo củng cố niềm tin của Đại sứ Lodge rằng đã tới lúc phải hành động quyết liệt, đặc biệt bởi vì các bản tin liên tiếp cho thấy Nhu đang thương thuyết với Hà Nội, "có hay không có sự xúi dại của người Pháp."

De Gaulle mới trước đó đã lập lại lời khẳng định rằng chỉ có trung lập hóa Nam Việt Nam mới có thể ngăn cản làn sóng Cộng Sản xâm chiếm. Ông nói thế cũng có lợi ích riêng: phương cách đó sẽ trao một cơ hội để tái lập vị trí của Pháp trong khu vực. Thực sự, tham vọng của De Gaulle vượt xa hơn Việt Nam. Ông đã thu hút sự ủng hộ rộng rãi từ dân Pháp vì đã thiết lập Pháp Quốc như cường quốc trung gian chính trong việc làm giảm căng thẳng Chiến Tranh Lạnh.

Một chính phủ trung lập tại VN sẽ làm tăng ảnh hưởng de Gaulle như một lãnh tụ thế giới, và kết hợp với việc de Gaulle ủng hộ cho Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc, sẽ làm khựng lại những bước lớn của chính sách Mỹ tại Châu Á và Châu Âu.

De Gaulle biết rằng chỉ cần có những cuộc thương thuyết giữa Nhu và Hà Nội là sẽ hợp thức hóa được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (NLF) và sẽ tăng áp lực cho một hội nghị quốc tế về Việt Nam mà người Pháp có thể đóng vai chủ tọa. Liên Xô sẽ hỗ trợ, Trung Quốc cũng sẽ hỗ trợ nếu các nước tham dự kêu gọi Hoa Kỳ rời bỏ Nam Việt Nam.
Đại sứ Lodge nhận định rằng cơ hội duy nhất của Nhu để sống còn nằm trong việc sắp xếp với Bắc Việt để buộc Mỹ ra đi.

■ Trang 363-364:
Cả McCone (Giám Đốc CIA) và Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Chính Trị Vụ) đều biết lời cảnh báo của Robert Thompson (Chuyên gia về chống du kích, đã xóa sổ cuộc chiến của Cộng Sản Mã Lai, và là Trưởng Phái Đoàn Cố Vấn Anh Quốc để giúp Hoa Kỳ ở VN) rằng "Nhu có lá bài độc duy nhất là việc Mỹ rút quân. Đưa lá bài đó ra," Thompson nhận định, "Bắc Việt sẽ trả gần như với mọi giá." (33)

CIA cũng nhận thấy rằng nhiều phần là chế độ Diệm, Hà Nội và người Pháp đang thúc giục để dẫn tới hòa giải hai miền Nam-Bắc. Phải thú nhận rằng, sự thống nhất Việt Nam không phải là giải pháp thay thế khả thi trong tình hình có những căm thù cay đắng hiện nay. Nhưng một cuộc ngưng bắn có thể củng cố đòi hỏi của Hà Nội rằng Mỹ phaỉ rút hoàn toàn khỏi Việt Nam, sau đó là sự thiết lập một chính phủ liên hiệp ở Miền Nam VN trong đó đón nhận tất cả các nhóm chính trị, kể cả Việt Cộng.

Người Pháp đã tìm cách hành động như vai trò liên lạc của Hà Nội với Tây Phương. Mặc dù Nhu sẽ đối diện sự chống đối gay gắt từ các tướng lãnh VNCH đối với bất kỳ thỏa hiệp nào với Miền Bắc, Nhu có thể nghĩ chuyện này khả thi nhờ ủng hộ từ người Pháp.

Nhà bình luận Joseph Alsop trong bài viết ngày 18-9-1963 trên tờ Washington Post đã làm cho Bạch Ốc thêm quan ngại. Trong bài viết tựa đề "Very Ugly Stuff" (Chuyện Cực Kỳ Xấu Xa), Alsop cáo buộc rằng, lần đầu tiên Nhu thú nhận đã liên lạc với Hà Nội. (34)

Nếu như thế, hành vị của Nhu hứa hẹn hậu quả nghiêm trọng đối với chính sách Mỹ. Nhu nhận định rằng thương lượng Nam-Bắc là rủi ro, nhưng đáng chấp nhận nếu có rủi ro. Làm sao Nhu có thể biết chắc rằng Nhu (và ông anh) sẽ sống sót với sắp xếp mới chứ?

CIA nhận định rằng thống nhất tức khắc là khó có thể được, vì Hà Nội trước đó đã công khai tuyên bố ý định sát nhập Nam VN. Nhưng Bắc VN tất phảỉ kiên nhẫn, và sẽ muốn làm dịu cuộc chiến trước khi Hoa Kỳ tăng sự tham dự.

Sài Gòn có lẽ sẽ có thể chấp nhận ngưng bắn và một vài hình thức trung lập để tự bảo tồn. Nhu đã nói rõ lập trường rồi. Cả công khai và cả nơi riêng tư, Nhu tố cáo Mỹ đã đưa Nam VN vào vị trí thuộc địa. Tuy nhiên, ở một mặt khác, việc Nhu nói rằng có sự ủng hộ của Mỹ đã làm suy yếu những người đối lập với chế độ Diệm tại Nam VN trong khi làm tăng uy tín Nhu.

Bệnh hoang tưởng quyền lực của Nhu đã lộ hẳn ra trong lời khoe khoang rằng duy chỉ có Nhu là có thể cứu Nam VN. Tôi là "cột xương sống duy nhất" của cuộc chiến chống Cộng, Nhu khoe với Alsop. "Ngay cả nếu người Mỹ quý vị có rút đi, tôi sẽ vẫn thắng cuộc chiến với cương vị lãnh tụ của phong trào du kích vĩ đại của tôi."

Cả Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn Phòng Võ Văn Hải (thư ký riêng cuả Diệm) đều nói rằng Nhu đã hút nha phiến trong hai năm qua, điều nầy giải thích cho bệnh hoang tưởng cuồng vĩ của Nhu. (35)

Cơn lốc những sự kiện đã làm cho mùa thu năm 1963 trở thành thời kỳ nghiêm trọng tại VN. Chế độ Diệm đã gỡ thiết quân luật vào ngày 16-9-1963, nhưng chính sách đàn áp Phật Tử vẫn không ngừng. Trong một bản tin phát thanh cùng ngày, NLF (Mặt trận Giải phóng) lên án chế độ Diệm vì đã đàn áp Phật Tử và "tập đoàn Mỹ hiếu chiến" đang tiến "vào một đường hầm không lối ra." Rằng tất cả những đồng bào Nam VN hãy nổi dậy chống "bọn xâm lược Mỹ và các con chó săn của chúng – gia đình Ngô Đình Diệm."

Cả những nguồn tin tình báo Mỹ và the Country Team in South Vietnam (cụm từ này có nghĩa: các viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ) kết luận rằng những người chống Nhu có mặt ở mọi cấp trong chính phủ, cũng như trong quân đội VNCH và trong giới trí thức thành thị. MACV nhận định rằng các sĩ quan cao cấp nhất cuả quân lực VNCH bác bỏ vai trò lãnh đạo của Nhu "trong bất kỳ điều kiện nào."

Nếu những nhận định này là chính xác, hễ Nhu càng hành động, là càng bảo đảm sẽ rơi khỏi quyền lực.

■ Trang 406:
Đại sứ Lodge đã chính xác khi khẳng định rằng không người Mỹ nào có thể ngăn cản các tướng VNCH phát động cuộc đảo chánh.

Những lực mạnh mẽ đã thúc giục họ hành động, đáng ghi nhận nhất là việc chính phủ Kennedy đã cắt giảm có chọn lọc viện trợ, vốn là sự ủng hộ thấy rõ của Lodge cho một cuộc đảo chánh, và hậu quả thảm tử chắc chắn xảy ra cho họ nếu có bất kỳ thương lượng nào đạt được giữa Nhu và Hà Nội.

Tướng Tôn Thất Đính, sau nầy, giải thích về cuộc đảo chánh trong nhiều cách, trực tiếp nhất là việc Nhu mới liên lạc với Tướng Việt Cộng Văn Tiến Dũng xuyên qua đại diện Ba Lan trong Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế ICC.

Nhu có vẻ như thu xếp gần xong việc kết thúc cuộc chiến, việc sẽ giữ gìn được chế độ Diệm, và việc sẽ tới cao điểm là các bản án tử hình cho những người âm mưu đảo chánh. Giây phút quyết định đã tới khi các tướng lãnh chống đối nhận ra nỗi nguy hiểm chết chóc lớn hơn khi trì hoãn đảo chánh thay vì cứ tiến hành luôn. (70)

Vào cuối tháng 10-1963, một cuộc đảo chánh lần nữa thấy như dường tất yếu. Đại sứ Lodge báo cáo rằng có ít nhất 10 nhóm nói về chuyện đảo chánh, nhưng nhóm chính yếu, dĩ nhiên, là các tướng lãnh cao cấp cuả quân lực VNCH.

Lần này khác một trời một vực với kinh nghiệm hồi tháng 8-1963. Chính phủ Kennedy đã ra dấu hiệu ủng hộ, Tướng Dương Văn Minh và các bạn tướng lãnh của ông có một kế hoạch, và việc Nhu thương thuyết với Hà Nội đã xóa bỏ mọi do dự của họ.

Bạch Ốc nêu chính sách hồi tháng 8-1963 là sẽ ủng hộ các tướng nếu họ thành công và sẽ không bao giờ biết tới nếu họ thất bại. Nhưng tình hình quốc nội và quốc ngoại VN đã suy sụp tệ hại trong 2 tháng qua, tới nổi một cuộc đảo chánh trở thành một lối khả thi duy nhất cho chính phủ Kennedy để gỡ rối cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Chỉ có sự thay đổi chính phủ Nam VN, mà nhờ vậy, Hoa Kỳ có thể tuyên bố đã có tiến bộ cần và đủ trong nỗ lực viện trợ để [rút bớt quân Mỹ và] trở về mức chỉ duy trì cố vấn Mỹ cấp thấp và mức độ viện trợ tương đương như hồi đầu năm 1961.

Một lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ, cả Hải quân và Không quân, đã tiến vào khơi sát bờ biển Nam VN để sẵn sàng di tản người Mỹ. Đại sứ Lodge được lệnh từ chối bất kỳ lời nài nỉ xin giúp nào từ bất kỳ phe nào trong cuộc đảo chánh. Nhu có vẻ như sẵn sàng thương thuyết để đạt thương lượng với Hà Nội. Đối với các tướng lãnh VNCH, bây giờ hoặc sẽ không bao giờ...(71)

NOTES


Chú thích cho các trang 310-314:

35. Lodge to Rusk, Aug. 24, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 620–21; President's Intelligence Checklist (sent to Hyannis Port, Mass.), Aug. 24, 1963, ibid., ed. note, 626; Current Intelligence Memorandum, CIA, Aug. 26, 1963, ibid., ed. note, 626.

36. Acting sec. of state to Lodge, Aug. 25, 1963, FRUS, 3: Vietnam January– August 1963, 635; CIA station in Saigon to CIA in Washington, Aug. 25, 1963, ibid., 633–34; author's interview with Hilsman, Sept. 17, 2001; Hammer,Death in November, 177; Winters, Year of the Hare, 61.

37. Nolting Oral History Interview, 80–81 (May 6, 1970), JFKL; Trueheart Oral History Interview, 1: 53–54, LBJL; Nolting Oral History Interview, 115–16, May 7, 1970, by Joseph E. O'Connor, for JFKL Oral History Program.

38. Mieczyslaw Maneli, War of the Vanquished (New York: Harper and Row, 1971), 115, 117–18, 121, 125. A photograph had circulated among the diplomatic corps that suggested an immoral liaison between Maneli and Madame Nhu. Maneli denied both charges, although wittily remarking that "a love affair with as interesting and unusual a woman as Madame Nhu . . . could only adorn a man's biography." Ibid., 112–13. See also Langguth, Our Vietnam, 232, and Logevall, Choosing War, 6–12. Later exiled from Poland, Maneli came to the United States and taught political science at Queens College in New York. Hammer also emphasizes France's wish to reestablish its control over Vietnam. See Death in November, 222. Dinh told the press that the Diem government "had entered negotiations with the Communists. . . by contacting the Polish representative on the ICC." Policy of the Military Revolutionary Council and the Provisional Government of the Republic of Vietnam (Saigon: Ministry of Information, 1963), 32. Wason Pamphlet, Department of State Vietnam 373+. Echols Collection: Selections on the Vietnam War.

39. Maneli, War of the Vanquished, 121–22; Ho quoted in Hammer, Death in November, 221–22.

40. Maneli, War of the Vanquished, 127; Hammer, Death in November, 223; Lalouette quoted in ibid.

41. Maneli, War of the Vanquished, 127–28; Hammer, Death in November, 223–24; Winters, Year of the Hare, 43–44; Duiker, Ho Chi Minh, 534. Ho Chi Minh expressed the same peace terms in an interview with Wilfred Burchett that appeared in Moscow's New Times on May 29, 1963. See FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 85 n. 3.

42. Maneli, War of the Vanquished, 128–29, 131, 134.

43. Ibid., 135–37; Hammer, Death in November, 220–21.

44. Nhu's first quote in Hammer, Death in November, 221; Nhu's second quote in Maneli, War of the Vanquished, 138.

45. Remainder of conversation in Maneli, War of the Vanquished, 138–39.

47. David Halberstam, "U.S. Problem in Saigon," New York Times, Aug. 24, 1963, p. 2; Forrestal to JFK, Aug. 24, 1963, encl.: Ball to Lodge, Aug. 24, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 625; Forrestal to JFK, Aug. 24, 1963, ibid., 627; Hilsman, To Move a Nation, 485, 485 n. 1; Newman, JFK and Vietnam, 346–51; Kaiser, American Tragedy, 231–34.



Chú thích cho trang 344-345:


55. Forrestal to JFK, Aug. 25, 1963, encl.: Lodge to Rusk and Hilsman, CAS (Controlled Action Source or CIA) station 292, Aug. 24, 1963, NSF, Countries— Vietnam, box 198A, JFKL; Ball to Lodge, Aug. 25, 1963, ibid.; Hilsman, "McNamara's War," 157.

56. William Colby, Lost Victory: A Firsthand Account of America's Sixteen-Year Involvement in Vietnam (Chicago: Contemporary Books, 1989), 138; Taylor, Swords and Plowshares, 292–94; Rust, Kennedy in Vietnam, 119; Hilsman, To Move a Nation, 487–88; memo for record by Krulak, Aug. 24, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 630–31; Gilpatric Oral History Interview, 1: 5–6, LBJL; Hilsman, "McNamara's War," 157; Halberstam, Best and the Brightest, 263–64.

57. First JFK quote in Reeves, President Kennedy, 567; second JFK quote in Rust, Kennedy in Vietnam, 119.

58. Ball's interview of 1988 quoted in Winters, Year of the Hare, 57; Rust, Kennedy in Vietnam, 119–20; Ball, Past Has Another Pattern, 370, 372; Hilsman Oral History Interview, 31, 34–35, JFKL; Colby, Lost Victory, 138.

59. Hilsman Oral History Interview, 35, JFKL; Hilsman, "McNamara's War," 158; Schlesinger, Thousand Days, 825; Schlesinger, Robert Kennedy and His Times, 745–46.

60. Memo for record of meeting at White House, Aug. 26, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 638–39, 639 n. 5; Hilsman memo of meeting, Aug. 26, 1963, Vietnam: White House Meetings, Hilsman Papers, box 4, JFKL. Those present included Rusk, McNamara, Taylor, Ball, Harriman, Gilpatric, CIA Deputy Director General Marshall Carter, Helms of the CIA, Hilsman, William Bundy, Forrestal, and Krulak.

61. Taylor quoted in Rust, Kennedy in Vietnam, 114; Memo for record of meeting at White House, Aug. 26, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 639; Hilsman memo of meeting, ibid., 639 n. 7; Joint Chiefs of Staff to Felt, Aug. 27, 1963, ibid., 639 n. 7; Hilsman Oral History Interview, 34, JFKL.

Chú thích cho trang 362-364:

33. Research memo from Hughes to Rusk, Sept. 11, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 200–201, JFKL; memo to Bundy from Robert Neumann, Sept. 15, 1963, ibid.; Lodge to Rusk, Sept. 13, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 203; memo of telephone conversation between Harriman and McCone, Sept. 13, 1963, ibid., 204; Saigon embassy to Rusk, Sept. 12, 1963, ibid., 204 n. 4.

34. Memo from Chester Cooper, chair of CIA's Working Group on Vietnam, to McCone, Sept. 19, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 200–201, JFKL; memo for McCone, Sept. 26, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963,295–96.

35. CIA memo from Ray Cline, deputy director of intelligence, for Bundy, Sept. 26, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 200–201, JFKL; Hughes to Rusk, Sept. 15, 1963, ibid.; Nhu quoted in "Victory in Defeat?" Newsweek, Sept. 30, 1963, p. 38.

Chú thích cho trang 406:

70. Lodge to Rusk, no. 973, Nov. 8, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 202–3, JFKL; McGeorge Bundy to Lodge, Oct. 30, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 500–501; Dinh's claim to secret negotiations between Nhu and Hanoi in Seth S. King, "Hanoi Problems Said to Increase," New York Times, Nov. 10, 1963, p. 4.

71. Gravel, ed., Pentagon Papers, 2: 260, 264; Bundy to Lodge, CAS 79109, Oct. 30, 1963, ibid., 783; Bundy to Lodge, Oct. 30, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 502.



HẾT BẢN DỊCH
Hình chụp 11 trang Anh ngữ từ sách Death of A Generation của Howard Jones

25 September 2013

Những canh bạc khác của Liên bang Nga

Nguyễn-Xuân Nghĩa

Trong mọi cuộc thương thuyết - ví dụ thời sự là đàm phán Mỹ-Nga về hồ sơ Syria - khi một phe đưa ra tuyên bố thì đấy là tin tức cho truyền thông loan tải, hoặc bình luận. Nhưng mọi lời tuyên bố đều khỏa lấp hoặc xuyên tạc sự thể nhằm xoay chuyển cục diện theo hướng có lợi cho mình. Ðấy cũng là một thế "đánh" trong cách "đàm", mà chuyện đánh ở đây không nhất thiết là quân sự, có khi là đánh cờ, đánh bạc...

Chúng ta có thể nghĩ đến trận đánh trong một lãnh vực khác: kinh tế cũng là chính trị... và đấu tranh.

***

Khi cả thế giới theo dõi canh phé Nga-Mỹ về chuyện Syria, vài tin nhỏ đã lọt khỏi sự quan tâm và loan tải của truyền thông Hoa Kỳ.

Thứ Năm mùng năm Tháng Chín, Quốc hội Cộng hòa Ukraina thông qua đạo luật cho phép xứ này xúc tiến việc đàm phán với Liên hiệp Âu châu về một dự án hội nhập kinh tế, gọi là Eastern Partnership. Trước đó, hôm mùng ba, Cộng hòa Armenia quyết định gia nhập chế độ quan thuế Âu-Á của Nga và vì vậy khó đạt thỏa ước tự do mậu dịch với Liên Âu. Ðấy là mặt khác của một trận đánh không tiếng nổ giữa Liên bang Nga và Liên Âu mà cũng ảnh hưởng tới quyền lợi của Hoa Kỳ.

Chúng ta cần nhìn lại bối cảnh rộng lớn hơn của vấn đề này trước khi nhìn vào nước Nga.

Sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã cuối năm 1991, Nga bị khủng hoảng mất chục năm và chỉ tạm ổn định dưới triều đại Vladimir Putin, người đã làm Thủ tướng, rồi Tổng thống, rồi Thủ tướng, rồi lại tái đắc cử Tổng thống từ năm ngoái. Trong 10 năm đó, các nước Ðông Âu thoát khỏi ách Xô Viết đều cải cách về kinh tế lẫn chính trị để gia nhập Liên Âu rồi Minh ước NATO.

Khi đã củng cố thế lực, và nhân khi hai khối Âu-Mỹ lâm khủng hoảng tài chánh năm 2008 thì Putin chinh phục lại ảnh hưởng đã mất của Liên Xô ở vòng ngoại vi của Nga, và đẩy lui phong trào dân chủ tại Trung Âu. Georgia bị tấn công vào Tháng Tám năm 2008, Ukraina bị bắt bí về khí đốt đầu năm 2009. Cuộc cách mạng màu da cam của Ukraina bị đẩy lui, phe thân Nga của Viktor Yanukovich lên lãnh đạo, một lãnh tụ phong trào dân chủ là Yulia Timoshenko vào tù.

Từng có kinh nghiệm đẫm máu với Nga Xô, bốn nước Ðông Âu theo dõi kỹ chuyện này trước sự thờ ơ của dư luận Mỹ. Ðó là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Cộng Hòa Tiệp và Cộng Hòa Slovakia (hai nước này là hậu thân của Cộng hòa Tiệp Khắc). Họ đã lập ra "Nhóm Visegrad" từ năm 1991 - Visegrad là một địa danh lịch sử cả ngàn năm của Ðông Âu - và vận động Liên Âu, NATO cùng Hoa Kỳ quan tâm hơn nữa về mối nguy từ phía Ðông, từ Liên Bang Nga.

Từ đấy, Liên Âu phát huy sáng kiến xây dựng thế đối tác với miền Ðông (Eastern Partnership) do Ba Lan và Thụy Ðiển đề nghị từ năm 2009. Chủ yếu là để lôi kéo sáu nước miền Ðông còn nằm trong quỹ đạo Nga, là Georgia, Ukraina, Armenia, Moldovia, Belarus và Azerbaijan, cùng hội nhập kinh tế rồi chính trị với Liên Âu.

Bên kia chiến hào kinh tế, Putin lập ra Liên Hiệp Quan Thuế với Belarus và Kazakhstan từ đầu năm 2010 với tham vọng mở ra một Liên Hiệp Âu Á về quan thuế (Eurasian Custom Union) - dưới sự lãnh đạo và thực thi của bộ máy an ninh Nga - vào năm 2015 để hội nhập các nước từ Tây sang Ðông, kể cả Trung Quốc và Việt Nam (hiện là quan sát viên).

Tóm lại cho gọn: Giữa cơn khủng hoảng của khối Euro với các nước lâm nạn tại Nam Âu, Liên Âu cố dùng đòn bẩy kinh tế - tự do ngoại thương - để tranh thủ các nước miền Ðông vào quỹ đạo của Âu Châu dân chủ. Ðó là kế hoạch Ðối Tác Miền Ðông Eastern Partnership. Nga cũng dùng đòn bẩy kinh tế, và võ khí năng lượng, để duy trì ảnh hưởng và còn bành trướng thế lực qua tận Viễn Ðông qua kế hoạch Thuế quan Âu-Á.

Khi vào cuộc, siêu cường của khối Euro là nước Ðức ủng hộ dự án Ðối Tác Miền Ðông vì có thể giảm ảnh hưởng của sáng kiến xuất phát từ Pháp là hội nhập các nước Ðịa trung hải ở miền Nam, trong chừng mực không gây mâu thuẫn nặng với Nga là một nguồn cung cấp năng lượng đáng kể. Nhìn như vậy, chúng ta có thể suy đoán ra khả năng tác động của một đại gia mới nổi về năng lượng là Hoa Kỳ. Một chuyện kinh tế cũng là chính trị!

Khi vào cuộc, Nga vi phạm quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO - mới vừa gia nhập năm ngoái sau 18 năm thương thuyết - để bắt bí Georgia và Ukraina. Ðã vậy, Nga còn gây khó cho nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, Cananda và Brazil về việc nhập cảng nông sản và lương thực với những tiêu chuẩn tùy tiện và đáng ngờ. Liên Âu đã lập hồ sơ truy tố và nếu thấy Hoa Kỳ cùng tham gia vụ kiện, ta có thể nhìn ra một trận đánh khác không gây tiếng nổ.

Theo quy ước Liên Âu, mỗi nước trong 28 thành viên (Croatia là thành viên vừa gia nhập Tháng Bảy vừa rồi) sẽ là chủ tịch luân phiên trong sáu tháng. Chủ tịch hiện nay là Lithuania, một trong ba nước Cộng hòa Baltic đã triệt để chống Liên Xô và bảo vệ quyền độc lập trong suốt thời Chiến Tranh Lạnh và thường xuyên bị Liên Bang Nga đe dọa.

Tháng 11 tới đây, Lithuania sẽ tổ chức thượng đỉnh Liên Âu về Ðối Tác Miền Ðông tại thủ đô Vilnius. Theo nghị trình, các nước sẽ thảo luận việc thương thuyết hiệp định tự do ngoại thương và hợp tác với Georgia, Ukraina, Loldovia và Armenia. Khi có tin Armenia gia nhập hệ thống quan thuế Âu-Á của Nga, và Quốc hội Ukraina đã mở đường cho việc thương thuyết với Liên Âu vào Tháng 11 này thì chúng ta hiểu rằng trận đánh Ðông-Tây về mậu dịch vẫn tiếp tục.

Bây giờ nói chuyện Nga thấy bù.

Tuần qua, khi Putin thừa thắng xông lên với bài quan điểm đăng trên tờ New York Times hôm Thứ Tư 11, với nội dung dạy dỗ Hoa Kỳ về cách hành xử trên diễn đàn Liên hiệp quốc, người ta không thể quên thái độ của Putin khi tấn công Georgia năm 2008 và những đòn phép kinh tế để khuynh đảo các nước khác. Và không nên quên chuyện ở nhà... của Putin.

Ông ta muốn khai thác chiến thắng ngoại giao trong vụ Syria cũng để trấn an dư luận ở nhà. Nga đang gặp khó khăn lớn về kinh tế, với đà tăng trưởng sẽ còn giảm sút nữa, và hệ thống kiểm soát xã hội và chính trị của Putin bắt đầu bị suy yếu từ sau cuộc bầu cử năm 2011.

Tuần qua, quá tập trung vào chuyện Syria, ít ai thấy Putin đã ráo riết họp hành với ban tham mưu kinh tế tài chánh để duyệt lại tình hình kinh tế khá bi đát của Nga. Sản lượng công nghiệp, ngạch số đầu tư hay tiêu thụ nội địa đều sa sút, trong khi công chi ngân sách vẫn tăng. Chúng ta chỉ nói chuyện chiến hòa tại Syria, hoặc thắng bại của Hoa Kỳ trong màn tháu cáy với Nga, chứ Putin đang phải đối diện với nhiều nan đề khác.

Năm tới, Nga lại bị bội chi ngân sách và sẽ phải giảm chi 5% trong ba năm liền. Nhưng Putin vẫn phải chiều lòng quần chúng bằng chế độ kiểm soát giá xăng dầu và tiện ích công cộng, phải bơm tiền kích thích kinh tế và du di nhiều khoản thu nhập của các tập đoàn năng lượng qua mục tiêu tài trợ ngân sách giáo dục và nhất là hưu bổng cho một dân số bị lão hóa.... Ðấy là lúc các đại gia về năng lượng và nhóm lợi ích về an ninh và kinh tế tính sổ chi thu và chia chác quyền lợi, để bắt bí ông trùm.

Khác với Hoa Kỳ là nơi mọi sự đều công khai và ai ai cũng tranh luận ồn ào, Nga là nơi mà tấm màn bí mật vẫn còn phủ lên nhiều chuyện. Khi tới khi bật mí thành cơn khủng hoảng...
     
Nguyễn-Xuân Nghĩa

21 September 2013

Chuyện Hai Người Quét Rác


Đào Văn Bình
 
Vào sáng Chủ  Nhật, có thể là do ngày nghỉ rảnh rỗi, một người đàn ông trung niên lúi húi quét dọn trước cửa nhà. Ông cầm chiếc chổi và đồ hốt rác quét sạch vỉa hè rồi quét dọc theo lề đường, cẩn thận gom tất cả đám cát, bao ny-lông, mẩu thuốc lá, ly giấy, lá khô và đủ thứ rác rưởi của xã hội văn minh vào thùng, đậy nắm cận thận, đặt ngay ngắn xuống lòng đường, để ngày mai xe rác của thành phố lấy đi. Hình như ông là người duy nhất ở khu phố này cầm chổi quét lòng đường và vỉa hè. Thói thường đều cho rằng chuyện đường phố sạch dơ để thành phố lo. Hơi đâu "bao đồng" chuyện nhà nước? Thế nhưng cứ mỗi lần qua khu Japan Town, ông lại cảm phục người Nhật về tinh thần tự trọng và yêu mến thành phố của họ. Lúc nào ông cũng thấy những ông, bà Nhật lúi húi quét dọn vỉa hè và lòng đường. Chính vì thế mà cả khu Japan Town lúc nào cũng sạch trơn. Chỉ cần bước qua ranh giới của Japan Town là một hình ảnh thật tương phản. Sự sạch sẽ, khang trang chỉ cách nhau một sợi chỉ. Có lần ông dừng xe lại hỏi thăm thì được các ông bà Nhật nói: 
 
"Chúng tôi quan niệm rằng đường phố thuộc về người dân, không hoàn toàn thuộc về chính phủ. Do đó giữ gìn đường phố sạch sẽ cũng là trách nhiệm của người dân. Đồng ý là chúng tôi có đóng thuế để thành phố lo chuyện vệ sinh nhưng giờ đây thành phố có quá nhiều việc phải lo hoặc lo không xuể. Chúng tôi không ngồi đó than trời trách đất. Nếu muốn sở rác phục vụ tốt hơn thì chúng tôi lại phải đóng thêm thuế. Thôi thì chúng tôi chia xẻ trách nhiệm với nhà nước mà cũng là để giữ gìn đường phố của chính mình. Chẳng mất mát gì cả. Tới một thành phố khang trang sạch sẽ người ta cảm phục cả đất nước lẫn con người ở đó. Chúng tôi yêu khu phố của chúng tôi và cũng muốn khách vãng lai yêu mến nó."
 
Chinh vì cảm phục người Nhật mà tuần nào ông cũng làm công việc này mà chẳng than phiền chi cả. Khi nhận thấy vỉa hè và lòng đường đã khá sạch, ông toan thu dọn để bước vào nhà thì một thanh niên từ xa bước tới, miệng phì phèo điếu thuốc. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc và đi đứng người ta có thể nhận ra đây là một chàng thanh niên ngang tàng. Khi tới chỗ ông đang đứng, người thanh niên rít hơi cuối cùng rồi coi như không có ai, thản nhiên quăng mẩu thuốc lá xuống đường. Nhìn mẩu thuốc là nằm tênh hênh trên mặt vỉa hè sạch trơn, dường như nó có vẻ "phá hoại" và trêu ngươi, cho nên người đàn ông tức giận, lớn tiếng gọi người thanh niên:
-Này, yêu cầu quay lại nhặt tàn thuốc lá lên nghe!
 
            Người thanh niên đã đi cách xa ông khoảng năm, sáu bước, nghe gọi thế quay đầu lại nhìn với vẻ hết sức ngạc nhiên. Anh ta ngạc nhiên vì có thể cả trăm lần quăng mẩu thuốc lá như thế này mà chẳng ai phản ứng gì, nay có một "gã điên" làm chuyện không giống ai. Anh ta quay lại, sẵng giọng hỏi:
 
-Ông nói gì?
-Yêu cầu cậu nhặt mẩu thuốc lá lên!
            Mặt chàng thanh niên đỏ gay:
-Bộ đường phố này của ông hả?
            Người đàn ông trả lời ngay:
-Không phải của tôi nhưng tôi tôi quét dọn sạch sẽ. Người tự trọng không bao giờ xả rác bừa bãi.  Cậu hiểu điều đó không? Tôi yêu cầu cậu nhặt lên!
            Tự ái bị tổn thương, người thanh niên không cần phân biệt đúng-sai, nói như gây sự:
-Không nhặt thì sao?
 
            Sự lớn tiếng qua lại giữa hai bên làm người trong nhà chạy ra, người qua lại trên hè phố tò mò đứng lại. Cuối cùng tất cả đều thấy đây không phải chuyện đại sự cho nên xúm vào can gián. Cuối cùng người thanh niên hậm hực bỏ đi còn người đàn ông đứng phân bua một hồi rồi bực bội bước vào nhà.
 
***
 
            Ba ngày sau, tại một khu phố khác cách đó khoảng năm, sáu con đường người ta thấy một vị sư đang quét rác tại cổng một ngôi chùa. Hôm nay là Thứ Hai chùa vắng, Phật tử đi làm hết, sau hai ngày cuối tuần bận rộn với sinh hoạt và lễ lạc, rác đã thấy lai rai trên sân. Ngoài ra, còn lá trên cây rụng xuống cho nên thầy trụ trì ra công quét dọn, vừa vận động vừa làm sạch trong ngoài. Đối với người xuất gia, quét rác cũng là "công phu". Sau khi cổng chùa đã sạch sẽ, sư toan đẩy thùng rác trở vào thì một chàng thanh niên tà tà bước tới. Đây chính là anh chàng đã gây sự với người đàn ông quét rác ba ngày trước. Khi đi tới cổng chùa, có thể do vô tình, do quán tính, cố tật, hoặc đãng trí, sau khi mở bao thuốc lá, chàng ta rút ra một điếu, châm lửa. Thấy bao thuốc đã hết, chàng ta quăng cả chiếc bao trống không dưới chân bức tường cạnh cổng chùa rồi thản nhiên bước đi. Thế nhưng khi bước đi khoảng năm, sáu thước, có thể do nhớ lại cuộc "đụng độ" với người đàn ông trước đây, chàng ta quay đầu lại xem sự thể như thế nào. Trái với phỏng đoán của mình, vị sư bình thản bước tới chân bức tường, cúi xuống nhặt bao thuốc lá lên, quay lại thùng rác, mở một bao rác nhỏ, bỏ bao thuốc lá trống vào bên trong, cột trở lại, bỏ vào thùng rác rồi lặng lẽ đẩy thùng rác vào bên trong sân chùa, không hề quay nhìn chàng thanh niên …đang ngạc nhiên đứng đó.
 
***
 
            Ngày hôm sau, chàng thanh niên tới thăm vị sư. Sau khi giới thiệu mình chính là người xả rác trước cổng chùa. Chàng ta kể lại chuyện "đụng độ" với người đàn ông rồi hỏi:
-Thưa thầy, tại sao cùng một chuyện mà thầy lại có lối cư xử nhẹ nhàng hơn người đàn ông kia?
 
Sư hiền từ đáp:
-Người đàn ông đó là một công dân tốt. Một công dân tốt do làm tròn bổn phận của mình cho nên thường thẳng thắn nói lên cái sai của người khác để cùng nhau sửa chữa trong tinh thần ôn hòa. Tuy nhiên cách hành xử giữa một người thường và một người xuất gia có khác nhau. Người xuất gia không nói về cái lỗi của kẻ khác mà kham nhẫn để kẻ phạm lỗi giác ngộ mà tu sửa. Hai lối hành xử đó không cái nào hơn cái nào, "vạn pháp đều bình đẳng", chỉ tùy duyên ứng xử mà thôi. Một căn nhà, một ngôi chùa, một khu phố hoặc nơi làm việc cần phải sạch sẽ. Sự sạch sẽ làm trang nghiêm cuộc sống và thế giới. Ngay đầu óc chúng ta cũng cần sạch sẽ. Muốn sạch sẽ thì phải quét rác. Một chiếc máy điện tử muốn tốt cũng phải "đổ rác". Đầu óc con người muốn thanh tịnh, sạch sẽ cũng phải "đổ rác"- đổ bớt rác rưởi của tâm hồn. Những ý nghĩ bất tịnh, tương tranh, thù hận, đố kỵ, tị hiềm, những tư tưởng loại trừ, kỳ thị, ghét bỏ đều là rác rưởi của tâm hồn. "Quét rác" và "đổ rác" là việc làm thường xuyên của người nào muốn tâm hồn thanh tịnh. Từ thanh tịnh mà có thanh thản. Vì thanh thản cho nên không động tâm. Vì tâm không động cho nên ít gây đổ vỡ. 
 
            ***
 
            Ba ngày sau, chàng thanh niên tìm tới nhà người đàn ông, nói lời xin lỗi. Chàng học được một bài học nơi sư, " Thay vì xả rác xuống đường hoặc nơi công cộng thì nên xả bớt rác trong tâm hồn mình." 
 
Lời người kể chuyện: 
 
            Ngoài đức tính kham nhẫn, có thể sư đã đạt tới mức "vô phân biệt". Sư cứ thấy rác thì quét mà không hề phân biệt rác từ cây đổ xuống, Phật tử xả ra, nam hay nữ, lạ hay quen cho nên rác của chàng thanh niên cũng thế thôi. Chính vì "vô phân biệt" cho nên sư không động tâm. Không động tâm cho nên sư đã quét rác trong trạng thái "vô tâm". Mà vô tâm thì an lành./.
 
Đào Văn Bình
(California 20 Tháng 9, 2013)

19 September 2013

Lời thương của hương hồn Đặng Ngọc Viết gửi hai con nhân dịp tết Trung Thu


Nguyễn Đặng Kiến Xương: Sáng nay đi qua nhà anh Đặng Ngọc Viết, thấy hai đứa con anh ấy đang chít khăn tang ngồi trước bàn thờ cha mà lòng tôi đau nhói! Anh ra đi để lại người cha già cựu chiến binh bị chất độc da cam 82 tuổi nằm liệt giường, một người anh trai tật nguyền sinh năm 1969 cũng bị nhiễm chất độc da cam từ người bố và hai đứa con anh còn nhỏ dại. Một đứa con gái 18 tuổi và đứa con trai út mới lên 10. Tết Trung Thu này, có lẽ hai cháu chưa kịp nhận quà Trung thu của cha thì đã phải vĩnh viễn xa cha!
Anh Đặng Ngọc Viết ơi! Hậu thế sẽ nói gì về anh thì tôi không biết, nhưng ngay bây giờ nhân dân Thái Bình quê hương ta đã coi anh là một người anh hùng thời đại, "đã quyết tử cho dân tộc quyết sinh" rồi anh ạ! Anh đã làm được điều mà hàng chục triệu người dân Việt Nam hằng mong mà chưa dám làm! Đó là: "Hãy nhằm thẳng đầu bè lũ tham nhũng độc tài mà bắn!"


Lời thương của hương hồn Đặng Ngọc Viết
gửi hai con nhân dịp tết Trung Thu
 
(Kính viếng hương hồn anh Đặng Ngọc Viết)



Tết Trung Thu đến rồi mà cha bỏ đi đâu?
Hay vẫn quỳ trước tượng  Quan Thế Âm Bồ Tát(*)
Nghe Phật Bà dặn dò khi Người đưa cha đi nơi khác
Để cứu dân oan khắp mọi miền trên đất nước thương đau!

Người nhà Phật chỉ sống vì non nước đồng bào
Việc gì cũng xuất phát từ tình thương yêu đồng loại
Bởi dân Việt mình đang bị đàn áp khắp nơi nên sợ hãi
Khiến cha phải lên đường đi khắp muôn nẻo cứu dân oan!

Cha còn phải về cắt cổ lũ quan tham Tiên Lãng
Đã cướp trắng máu xương tiền bạc của họ Đoàn
Mười mấy năm đổ mồ hôi trên đầm tôm Cống Rộc
Mà toà lại xử tội bác Vươn không xử bọn quan tham!

Cha còn phải lên tận Văn Giang Ecopark
Nhằm nã đạn vào đầu bọn tư bản đỏ bất nhân
Đã thuê ba ngàn lưu manh đè một ngàn dân đàn áp
Để cướp đất xây "Thiên Đường" cho bè lũ gian tham!

Cha còn phải vào mãi Cần Thơ che chở bà Lài, cô Thuỷ
Không còn một rẻo vải che thân đã bị đứa bóp, đứa sờ
Để cướp trắng thửa đất Cái Răng dành xây nhà để ở
Khiến cả nước bàng hoàng, làm thế giới ngẩn ngơ!

Cha còn phải đi Đà Nẵng, Cồn Dầu để giữ đất giúp xứ Đạo
Vào khai khẩn và sinh sống nơi đây con cháu đã mấy đời
Đám tang của Giáo dân, chúng kéo lưu manh đến cướp
Hỏi còn có nơi nào trên thế gian ác hơn thế, các con ơi!

Cha còn phải tới khắp mọi miền quê trên Tổ Quốc
Bởi ngày nay đất ruộng của dân là "sở hữu toàn quan"
Nên chúng cướp của dân giữa ban ngày theo Hiến Pháp
Bằng một đội ngũ lưu manh chuyên nghiệp hưởng lương dân!
 
Hai con ơi! Cha thương ông nội già nua và bác Công nhiều lắm!
Ông và bác Công vì chiến tranh mà bị nhiễm chất độc da cam
Cha đi vắng, hai con hãy thay cha để săn sóc ông cùng bác
Hãy là hai đứa cháu thảo hiền học thật giỏi chăm ngoan!

Trung Thu này đi xa, cha xin lỗi cả hai con yêu nhé!
Giờ cha đã là thiên sứ nhà trời sẽ luôn ở cạnh các con
Cha đang đi thăm tết Trung Thu nhiều nơi trên đất nước
Để chia quà cho các trẻ em nghèo khắp muôn nẻo núi non

Khi nhớ cha, các con hãy về Chùa quê cầu kinh và niệm Phật
Bên chân tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát đó, các con nghe
Cha sẽ bay trở về ngay bên con gái và con trai yêu dấu
Sẽ ôm chặt hai con trong vòng tay như xưa ở xa về!

Bè đảng độc tài tham lam đã sắp đến ngày tận số
Nhân dân cả nước sẽ đứng lên bắn nát sọ lũ bạo tàn
Hai con hãy gắng học hành để mai dựng xây đất nước
Độc Lập, Dân Chủ, Tự Do trên non nước bốn ngàn năm!


Thái Bình, ngày 18/9/2013
Nguyễn Đặng Kiến Xương

(*). Sau khi đã bắn trọng thương bốn cán bộ của Trung Tâm Phát Triển Quỹ Đất tỉnh Thái Bình khoảng 2 giờ chiều ngày 11/9/2013 vì bức xúc do bị giả toả đất của gia đình nơi anh đang cư trú bị đền bù không thỏa đáng, anh Đặng Ngọc Viết đã về quê tại huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình để gặp người cha, một cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam 82 tuổi bị liệt đang tạm sống tại nhà người em tại đó. Sau khi từ biệt cha, anh đã ra Chùa Đông Sơn của xã, đi dạo xung quanh chùa rất lâu. Đến khoảng 6 giờ chiều cùng ngày, anh vào xin nhà chùa bát cơm chay rồi ra cầu nguyên dưới chân tượng Quan Thế Âm Bồ Tát gần một giờ. Khoảng 7 giờ tối, anh đã tự bắn vào tim mình và chết ngay dưới chân tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, như một phật tử đã tự quy y về Cõi Phật.


18 September 2013

Góp phần giải mã hiện tượng Lê Hiếu Đằng

Tiêu Dao Bảo Cự

Thời gian gần đây có một số "hiện tượng" mang sắc thái chính trị đáng cho mọi người quan tâm: Huy Đức xuất bản cuốn sách "Bên thắng cuộc" bạch hóa một giai đoạn lịch sử Việt Nam, Nguyễn Đắc Kiên gay gắt phê phán trực tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng Sản, Nguyễn Phương Uyên tuyên bố quan điểm chính trị chống đảng trước tòa án, hoạt động của Mạng lưới blogger với Tuyên ngôn 258 tố cáo với thế giới điều luật phản dân chủ của luật hình sự… và gần đây nhất là hiện tượng Lê Hiếu Đằng. Những hiện tượng này không phải "đột xuất" mà có nhưng chính là sự tiếp nối của quá trình đấu tranh dân chủ hóa đất nước của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trí thức, qua mấy thập niên và cũng ghi dấu mở đầu cho một giai đoạn mới, trong đó điều nổi bật là một số người đã vượt qua nỗi sợ hãi do chế độ độc tài toàn trị áp đặt nặng nề lên toàn xã hội, nói lên chính kiến của mình ngược với quan điểm chính thống của chế độ.

Cũng đã gần một tháng trôi qua từ khi Lê Hiếu Đằng công bố bài viết "Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh" (17/8/2013), dư luận phản hồi từ nhiều phía đã phân tích, ủng hộ, phê phán bài viết cũng như tác giả, lại một lần nữa làm lộ rõ các loại "lập trường chính trị" trước hiện tình đất nước. Tuy nhiên trừ một số ít bài (như bài viết của Lữ Phương) nêu vấn đề một cách khách quan, sát thực tiễn, phần lớn các bài viết từ hai cực chính trị, tạm gọi là "chống cộng triệt để" và "cộng sản bảo thủ" đều không căn cứ vào bản chất của sự việc mà chỉ áp đặt cách suy luận và diễn dịch theo quan điểm chính trị của mình. Từ đó gán cho Lê Hiếu Đằng những gì ông không hề có như cò mồi lừa bịp của đảng, cơ hội chủ nghĩa… hay ngược lại như phản bội chống đảng, bị thế lực thù địch giật dây…

Thật đơn giản và rõ ràng khi người ta biết và chịu nhìn vào chính bản thân bài viết, ngay từ tựa đề "Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh". Trong những ngày nằm bệnh Lê Hiếu Đằng có thời gian suy nghĩ để "tính sổ" đời mình, một việc quá tự nhiên và thông thường. Hồi tưởng về thời tuổi trẻ và quá trình cuộc sống, đấu tranh qua hai chế độ với những kỷ niệm và nhận thức qua mỗi thời kỳ, ray rứt về hiện tình đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và một vài gợi ý để tìm lối thoát cho đất nước. Với ý tưởng chân thành, hành văn mộc mạc, đề cập nhiều vấn đề, đây là bài viết của một người đang nằm bệnh có tính cách tự sự chứ không phải chính luận hay cương lĩnh. Sao có thể đòi hỏi những gì không thể có qua một bài viết trong hoàn cảnh này.

Bài viết chứng tỏ tác giả là một con người có trải nghiệm thực tiễn, suy nghĩ tự do và tinh thần phản kháng. Mấy năm gần đây, Lê Hiếu Đằng nổi lên như một "nhân vật phản biện" với các bài viết, các cuộc trả lời phỏng vấn và cả việc tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Đối với những người có hiểu biết về ông, thực ra Lê Hiếu Đằng đã nổi tiếng phản biện từ nhiều năm trước trong các hoạt động ở guồng máy chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh (mà ông đã có nhắc tới vài việc trong bài viết "Suy nghĩ…") và điều này cũng là sự tiếp diễn của tinh thần đấu tranh và ý thức dấn thân thời trai trẻ. Đó không gì khác hơn là lòng yêu nước, tinh thần phản kháng trước bất công áp bức của rất nhiều thế hệ người Việt Nam.

Bài viết của Lê Hiếu Đằng có nhiều chi tiết dễ gây tranh luận nhưng điểm nút tạo ra cơn sốt chính là lời kêu gọi tập thể từ bỏ đảng Cộng sản và thành lập một đảng mới. Về đảng mới này ông chỉ viết "chẳng hạn như đảng Dân chủ Xã hội". Rõ ràng đây chỉ là một gợi ý đầu tiên. Có thể sự gợi ý này bắt nguồn từ mấy nguyên nhân mà ông và bạn bè hay một số trí thức đã từng suy nghĩ : Đã từng có hai đảng Dân chủ và Xã hội hoạt động song song với đảng Cộng sản (cho dù chỉ là đảng cây cảnh); gốc gác của dân chủ xã hội cũng có chung cội nguồn với chủ nghĩa xã hội của cộng sản nên những đảng viên Cộng sản dễ chấp nhận; sự ưu việt hiện nay của các chế độ dân chủ xã hội, đặc biệt ở các quốc gia Bắc Âu đã được thừa nhận và có sức thuyết phục đối với toàn thế giới. Chỉ là một gợi ý, làm sao có thể đòi hỏi ông phải nêu cương lĩnh của đảng hay định hướng gì khác trong một bài viết tự sự khi đang nằm bệnh. Ông cũng không khẳng định đây là đảng mới duy nhất mà chỉ là thí dụ cho sự đối lập chính trị để kềm chế sự độc tài toàn trị của đảng Cộng sản.

Dĩ nhiên Lê Hiếu Đằng không còn ủng hộ đảng Cộng sản khi ông kêu gọi từ bỏ đảng nhưng ông cũng không kêu gọi lật đổ đảng Cộng sản. Đây  không phải là thái độ lập lờ mà là căn cứ vào thực tiễn, không duy ý chí. Đảng CS còn tồn tại được bao lâu là điều không ai có thể nói trước chính xác nhưng thực tế là họ đang cầm quyền với một thế lực hùng mạnh, một bộ máy có mạng lưới rộng khắp, số đảng viên và những người ủng hộ chiếm thành phần không nhỏ trong dân số. Dĩ nhiên dù hùng mạnh tới đâu cũng có ngày sụp đổ như lịch sử của các đế quốc và các chế độ độc tài của loài người đã cho thấy. Giả thiết ngay cả khi đảng bị lật đổ, nghĩa là không còn nắm chính quyền, thì số đảng viên và những người ủng hộ họ vẫn còn đó như một thực thể chính trị. Trong công cuộc dân chủ hóa đất nước, thoát khỏi nạn độc tài toàn trị, như một ước mơ của đại bộ phận dân tộc, có nhiều cách nghĩ và phương thức để giải quyến nan đề này. Lê Hiếu Đằng chọn phương thức hình thành sức mạnh đối lập để chuyển hóa một cách hòa bình chứ không bạo loạn lật đổ. Không ai có thể đoan quyết phương thức nào là duy nhất đúng và lựa chọn là quyền của mỗi người. Nếu cùng một mục đích, các phương thức khác nhau có thể hỗ trợ cho nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp.

Lê Hiếu Đằng chỉ gợi ý chứ không phải tuyện bố tự mình đứng ra thành lập đảng mới. Ông chưa chuẩn bị sẵn sàng cho điều này. Việc thành lập đảng mới chỉ có thể được thực hiện khi có rất nhiều người tán thành, liên lạc với nhau và cùng chung tay hành động. Thời gian sẽ trả lời cho điều này. Nếu việc này được thực hiện, hay sẽ gợi mở cho việc hình thành các tổ chức và hoạt động khác của xã hội dân sự, đây sẽ là một đóng góp đáng kể vào việc tạo nên sức mạnh đối lập với chế độ toàn trị.

Trong việc dân chủ hóa chế độ và dân chủ hóa đất nước, những người cộng sản cấp tiến có thể đóng một vai trò đáng kể. Tuy nhiên lại có người nói cộng sản không thể thay đổi, chỉ có thể xóa bỏ. Đây cũng là vấn đề cần thảo luận.

Trước đây khi những người cộng sản nói về cộng sản, người ta thường trích dẫn các "ông Tây cộng sản râu dài râu ngắn". Bây giờ những người chống cộng lại trích dẫn các ông Tây khác, cộng sản cũng như không cộng sản. Các kiểu trích dẫn này thực chất cũng không khác mấy với các kiểu "Tử viết" (Khổng tử nói rằng) thời phong kiến, phần nào mang tính chất nô lệ về tư tưởng. Dĩ nhiên những tư tưởng lớn đáng cho mọi người suy gẫm nhưng không phải tất cả đều là chân lý phổ quát. Một tư tưởng cần hiểu trong bối cảnh của nó và khi áp dụng cần so sánh, đối chiếu với thực tiễn. Từ đó trở lại với câu hỏi cộng sản có thể thay đổi không?

Cộng sản từ Karl Marx đến Lenine, Staline, Khrutchov rồi Gorbachov, Eltsine có gì khác biệt và thay đổi? Cộng sản từ ước mơ thế giới đại đồng đến "chủ nghĩa xét lại hiện đại" rồi đế quốc cộng sản Nga, đế quốc cộng sản Tàu, chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc có gì thay đổi? Cộng sản Việt Nam từ kinh tế tập thể sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thay đổi không? Người vạch trần rõ ràng nhất "bản chất phản động" của chủ nghĩa cộng sản trong tác phẩm "Giai cấp mới" có phải là Milovan Djilas,  một lãnh tụ cộng sản cấp cao, Phó tổng thống nước Nam Tư? Người góp phần quyết định làm sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới có phải là hai tay cộng sản gộc Gorbachov và Eltsine? Những công thần cộng sản kiên định như Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Nguyễn Hộ cuối đời đã khước từ chủ nghĩa cộng sản, những đảng viên cộng sản nhiệt thành cũ và mới đã quyết định từ bỏ đảng như Huỳnh Nhật Tấn, Huỳnh Nhật Hải, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Chí Đức có phải đã thay đổi? Đó là nói cộng sản một cách chung chung chứ đúng ra phải phân tích một cách rạch ròi về lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa cộng sản, chế độ cộng sản, đảng cộng sản, đảng viên cộng sản ở từng quốc gia, từng thời kỳ mới có thể kết luận cộng sản có thay đổi hay không.

Sự vật trên đời này chẳng có gì không thay đổi sao lại khẳng quyết cộng sản không thể thay đổi trong khi thực tế đã không là như thế. Xóa bỏ được cộng sản là điều tốt nhưng khi không hoặc chưa xóa bỏ được thì làm cho nó thay đổi hướng về điều thiện phải chăng là việc cũng nên làm? Đó không phải là thỏa hiệp với cái ác mà chính là hóa giải cái ác một cách hòa bình.

Vấn đề trung tâm của đất nước ta là dân chủ hóa, thoát khỏi độc tài toàn trị. Chế độ này do đảng cộng sản cai trị nhưng thực ra hiện nay chất cộng sản còn rất ít, chỉ là một bộ máy thống trị hà khắc của những kẻ nắm quyền lực muốn "muôn năm trường trị" để trục lợi cho cá nhân và phe nhóm. Những người nắm quyền lực thống trị kiểu này không phải chỉ có cộng sản. Các "lãnh tụ độc tài" ở các nước Bắc Phi và Trung Đông đã và đang bị lật đổ gần đây đều từng là anh hùng dân tộc được nhân dân ủng hộ và tôn vinh nhưng về sau trở thành tội đồ dân tộc. Có người đã nói đại ý khi quyền lực tuyệt đối, tha hóa cũng tuyệt đối. Và lòng tham của con người là vô đáy, bất kể cộng sản hay tư bản. Chuyện "lương khủng" (lương một năm của giám đốc bằng 83 năm của nhân viên bình thường) của mấy công ty nhà nước ở TP/HCM vừa được phát hiện gợi nhớ đến chuyện các ông trùm ngân hàng gây ra khủng hoảng kinh tế ở Mỹ mấy năm trước khi ngân hàng phá sản còn tự thưởng cho mình hàng triệu đô la. Một số công ty tư bản nước ngoài hối lộ cho quan chức Việt Nam để trúng thầu, các công ty khác trốn thuế, gây ô nhiễm mội trường để tăng lợi nhuận và một viên chức Tòa Lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn cũng nhận hối lộ hàng triệu đô la để cấp visa lậu vào nước Mỹ. Chế độ nào cũng có kẻ xấu.

Việc cần làm là xây dựng một chế độ chính trị pháp trị thực sự có cơ chế hãm để ngăn chặn lạm dụng và lòng tham cá nhân. Trên thế giới có nhiều mô hình nhưng không có mô hình nào là tuyệt đối hoàn hảo và còn cần phải phù hợp với đặc điểm riêng của từng dân tộc, không thể bắt chước một cách máy móc. Với Việt Nam để tiến đến đó sẽ phải qua những bước nào? Chuyển hóa, diễn biến hòa bình hay bạo loạn lật đổ? Cách mạng nhung, cách mạng hoa lài hay diễn biến từ thượng tầng? Có nhiều phương thức nhưng chắc chắn điều tốt nhất là không hay ít tốn xương máu, không gây nội chiến, không kéo dài thù hận. Lê Hiếu Đằng chọn điều này nên ông đã đưa ra gợi ý thành lập đảng mới để đối lập với đảng cộng sản. Dĩ nhiên việc này không phải là lối thoát duy nhất cho tình hình và chưa biết lúc nào có thể được thực hiện nhưng đó là một gợi ý tốt và khả thi, ít ra đối với những đảng viên cộng sản cấp tiến, khi họ có đủ nhiệt tình, dũng cảm và số đông cần thiết. Gợi ý này cũng có thể "kích hoạt" hình thành các tổ chức xã hội dân sự để từng bước xây dựng xã hội công dân có khả năng  kháng cự lại những lạm dụng của nhà cầm quyền.

Trong ba bài viết của Nguyễn Minh Cần nhân chuyện Lê Hiếu Đằng (Chuyện dài ra Đảng và đa đảng), tác giả có trích câu nói của Viện sĩ Andrei Sakharov khi trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài trong thời kỳ đen tối của phong trào dissident dưới chế độ toàn trị Liên Xô: "Giới trí thức biết làm gì? Họ chỉ biết làm một việc là xây dựng lý tưởng, cứ để cho mỗi người làm được điều gì anh ta có thể làm được". Suy nghĩ một lúc, ông nói thêm: "Nên biết rằng những con chuột chũi đào hang ngầm dưới đất có thể làm sụp đổ những thành trì lịch sử". Điều này có lẽ thật đúng cho Lê Hiếu Đằng và những trí thức có tâm huyết với đất nước như ông. Không thể đòi hỏi nhiều hơn vì chuyện đất nước là trách nhiệm của toàn xã hội, không của riêng ai.

Biến cố mới nhất (ngày 9/11/2013) là vụ Ông Đặng Ngọc Viết xông vào trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thái Bình dùng súng bắn vào 5 cán bộ Trung tâm Phát triển Quỹ đất, làm hai người chết, sau đó tự sát. Nguyên nhân là do việc thu hồi đất, giải tỏa, đền bù không được đáp ứng thỏa đáng. Đây là sự phản kháng quyết liệt trong bước đường cùng, gióng lên một hồi chuông báo tử cho chính nạn nhân và cả chính sách thất nhân tâm của nhà cầm quyền. (Trong cùng thời gian này, hàng ngàn thanh niên nam nữ háo hức mong đợi gặp "Trai đẹp Ả Rập bị trục xuất" và đã đội mưa hàng giờ liền dưới sân khấu ngoài trời để chờ xem chàng trai đẹp người mẫu này xuất hiện chừng 10 phút ướm thử chiếc áo???!!!)

Có lẽ đã đến lúc những người cộng sản phải nghĩ đến khẩu hiệu "thay đổi hay là chết". Tuy nhiên người dân không chỉ trông chờ vào sự thay đổi tự thân của nhà cầm quyền mà người dân cũng phải "thay đổi hay là chết". Nếu đại bộ phận nhân dân cứ thờ ơ, vô cảm hay cúi đầu chấp nhận những bất công áp bức đè lên số phận mình thì không ai có thể cứu được./.

Đà lạt 15/9/2013
T.D.B.C.