26 March 2011

Tử Thần Mang Hộ Chiếu Việt Nam?

Tử Thần Mang Hộ Chiếu Việt Nam?

 24-03-2011 - Kỷ niệm 85 năm đám tang Cụ Phan Chu Trinh & Kính điếu các nạn nhân của Tử Thần CAVN.

Đinh Tấn Lực


"
Cái chết là giải pháp cho mọi vấn đề" 
- Joseph Stalin

Đồng chí Stalin (kính mến) -- kẻ từng được "cha già" họ Hồ tôn là vị "cha già của thế giới XHCN" -- hễ đã phán thì cấm có sai.

Giải pháp để có một VN độc đảng là tận diệt tất cả các đảng phái khác.
Giải pháp để giữ một VN độc đảng vẫn là tận diệt tất cả các đảng phái khác.
(Thương mình thương một, thương Ông thương mười là ở chỗ này chăng?).

Nạn nhân của thời 1930-1945 thì hằng hà sa số, đếm không xuể/kể không hết. Cả VN Quang Phục Hội & Tâm Tâm Xã, cả Đại Việt, cả Việt Quốc, cả Việt Cách, cả An Nam Độc Lập Đảng… thậm chí, cả những đồng chí đầu súng trăng treo cùng trường nhưng khác phái. Tiêu biểu của nỗ lực CS Quốc Tế III tận diệt đồng chí CS Quốc Tế IV là trường hợp của Trốt-kít Tạ Thu Thâu: Trong buổi phỏng vấn ngày 25-6-1946, Hồ Chí Minh đã trả lời Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés (Đó là một người yêu nước, chúng tôi đau buồn khi được hung tin... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt)! Chẳng ai nỡ nghĩ đến chuyện quyết toán vặt, nhưng ngay cả con lộ Tạ Thu Thâu ở Sài Gòn lẫn Mỹ Tho đều bị đổi tên sau ngày miền Nam thất thủ.

Nạn nhân của thời sau 1945, đặc biệt là sau 1975, cũng là vô phương đong đếm. Quả là một cuộc rửa hận/trả thù/xử lý vô tiền khoáng hậu ở nước ta. Bất kể đó là đảng viên các chính đảng kể trên còn kẹt lại miền Bắc; đã di cư vào Nam năm 1954; hoặc bị liệt vào hàng địch/ngụy của "chế độ cũ"… Hay thậm chí, ngay cả các đảng viên lão thành cách mạng của CSVN, những người đã nghiệm ra rằng gông cùm thực dân còn nhẹ nhàng hơn xích xiềng ý thức hệ; đã thấy ra mặt thật của "chiến thắng" là "thống nhất" cả nước vào tròng nô lệ Quốc Tế III; đã cọ xát với nỗi nhục đói nghèo/lạc hậu của đất nước thời "hậu giải phóng"; hay đã dự kiến cả tương lai đất nước gắn liền vào một đận Bắc Thuộc vĩnh viễn....

Tiến trình khai trừ và thanh trừng, do đó, nói theo ngôn ngữ tiếp thị ngày nay, là "2 trong1". Hễ không phải bầu bạn anh em thì hẳn phải là thế lực thù địch. Cũng vậy, hết đồng chí ắt phải là kẻ thù, không thể khác. Mà đã là kẻ thù thì tất yếu là phải chết -- chết ngay/chết dần/chết đói/chết kiệt/chết thảm/chết đột biến/chết tiệm tiến/chết tự nhiên/chết tai nạn/chết bờ/chết bụi/chết ngộp/chết chìm/chết tù/chết bệnh/chết dở/chết tiệt v.v… -- kiểu nào cũng được, càng nhanh càng tốt, nhưng nói chung là phải chết, không chỉ bởi hệ vô thần khẳng định Chết Là Hết, mà còn bởi đối sách xuyên suốt của lãnh đạo là Chết …Cho Yên Chuyện.

Thử tạm liệt kê một vài trường hợp khai trừ/thanh trừng đồng chí tương đối dễ nhớ đã xảy ra ở xứ này, để xem thử có phải chết là hết hay không:

Ông Nguyễn Văn Trấn (1914-1998), (còn được gọi là Bảy Trấn Chợ Đệm), tác giả quyển sách gây chấn động cả đảng: Viết cho Mẹ và Quốc Hội , từng nhận giải Hellman-Hammett năm 1997.

Ông Trần Độ (1923-2002),
 tác giả Nhật ký Rồng Rắn , được ông Hà Sĩ Phu điếu tặng cặp đối "Văn võ tung hoành, trung tướng phong trần, thế sự song kiên, song trọng đảm - Bắc Nam xuất nhập, đại quân tế độ, hùng binh nhất trượng, nhất đan tâm".

Ông Trần Xuân Bách (1924-2006), nguyên ủy viên BCT, chủ trương dân chủ hóa VN cùng nhịp với Đông Âu và Liên Xô, tác giả phương ngôn nổi danh: "Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng… Dân chủ là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát - do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ là khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc và đưa đất nước đi lên kịp thời đại...".

Ông Nguyễn Ngọc Lan (1930-2007), nguyên chủ bút báo Đối Diện, bị quản chế cùng linh mục Chân Tín vì đã chủ trương Cá nhân sám hối/Giáo hội sám hối/Đảng phải sám hối, từng bị nhà nước ép té xe cùng với LM Chân Tín khi đi dự đám tang ông Bảy Trấn.

Ông Hoàng Minh Chính (1920-2008), nguyên Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, từng nhận định chính xác "Đất nước ta đứng ở đáy nhân loại trên mọi bình diện" (2005), rồi quyết định phục hoạt đảng Dân Chủ VN, và cùng với ông Lê Hồng Hà kêu gọi thành lập Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng.

Ông Nguyễn Hộ (1916-2009), lãnh đạo Hội Những Người Kháng Chiến Cũ, tác giả quyển Quan Điểm và Cuộc Sống, giải thưởng Hellman-Hammett, từng bị ép xuồng, bị bắt giữ và bị quản thúc tại gia cho tới chết.
V.v…

Những di thư, di cảo, di ngôn tâm huyết của họ vẫn còn đó và còn nguyên giá trị lịch sử lẫn thời sự. Rõ ràng, chết chưa hẳn là hết. Lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN hiện giờ chỉ xoa bụng/vỗ tay/nâng cốc có mỗi điều về đối thủ: Chết là hết …nói!

Lãnh đạo đương thời cũng chẳng màng che giấu nỗi mong mỏi/chờ trông từng ngày điều đó xảy ra cho những đồng chí khai quốc công thần lòng ngay mắt sáng/trung ngôn nghịch nhĩ/thẳng lời phản biện/nói thật nói hết: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Minh Cần… cùng rất đông quý vị lão thành cách mạng, thậm chí, cả quý vị nhân sĩ Dương Danh Di, Trần Phương, Vũ Khoan, Nguyễn Văn An, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Trung, Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Nguyễn Minh Thuyết, Phạm Chi Lan, Phan Đình Diệu v.v…

Ở một tầng nấc khác, cả trong và ngoài đảng, cả trong và ngoài nước, cả trong và ngoài tù, là một danh sách "đáng chết" rất dài, không thể kể hết danh tánh, của những người từng có tiểu luận/khảo cứu/phản biện/phân tích/bình luận/đề nghị/cảnh báo/tuyển tập... không thể đăng trên dàn báo chính quy xưa nay (nên thường phải lập riêng thư viện/thư khố trên không gian mạng), và gần đây là những tay dân báo mạnh dạn gõ phím và chuyển tải tất cả những điều mắt thấy/tai nghe/óc nghĩ… thông qua hệ internet và ung dung chiếm lĩnh đại khối độc giả có điều kiện ngồi trước màn hình ở VN. Đáng "chết để hết nói" là vì vậy!

Tự thân đảng không muốn làm kẻ thù của internet như RSF tố giác. Tự thân internet và các dàn mạng xã hội đã đứng về phía Sự Thật và trở thành kẻ thù của đảng đó chứ!

Mà đã thế thì những danh sách "đáng chết" nói trên đã trở thành vô dụng, bởi đảng không thể trông chờ mãi vào cứu cánh "chết là hết" của đối kháng, mà ngược lại, chính sự trông chờ đó đã lột trần tình trạng "kiệt mưu/cạn chước/đuối lý/hết thời" của nguyên dàn lãnh đạo đảng đương nhiệm.
*
"Tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt" 
- Hồ Chí Minh

Câu hỏi thứ hai được đặt ra là: Trên thực tế, chết có yên chuyệnkhông?

Hội nghị Việt Bắc 1949 từng ghi lại lời khẳng định/trần tình của đồng chí Hồ Chí Minh (cũng kính mến không kém) rằng: "Các vị lãnh tụ thế giới Staline, Mao Trạch Đông thì không thể sai lầm, nghĩa là những gì cần nói và đáng nói họ đã nói hết rồi và nói đúng, thì mình còn gì nữa, nhất là điều mình nói có thể sai".

Ngoại trừ cái chỉ thị đóng khung trên đây là …cấm sai. Và trở thành kim chỉ nam của lực lượng công an  "còn Đảng còn mình" :

21/1/2010: công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, đánh chết công dân Nguyễn Quốc Bảo.

29/3/2010: công an huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, giả dạng đầu gấu, đánh dân oan đến nhập viện.

04/5/2010: công an Đà Nẵng cướp quan tài ở Cồn Dầu, đánh chết công dân Nguyễn Thành Năm, cho dù vợ con nạn nhân đã quỳ lạy xin tha mạng.

07/5/2010: công an Điện Bàn, Quảng Nam đánh chết công dân Võ Văn Khánh rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng dây cột giày.

14/5/2010: công an huyện Chương Mỹ, Hà Hội, chận xe, đòi hối lộ, chưa được thì đánh công dân Tống Bá Đức bằng dùi cui và còng số 8, cho tới khi nạn nhân cầm xe máy cho 1 CA khác để nộp tiền hối lộ.

25/5/2010: công an huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, bắn thủng bàn tay trái của công dân Lê Thị Thanh, bắn chết công dân thiếu niên Lê Xuân Dũng, và bắn chết công dân Lê Hữu Nam ở Nghi Sơn.

28/6/2010: công an huyện Đại Từ, Thái Nguyên, đánh chết công dân Vũ Văn Hiền.

23/7/2010: thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp, huyện Tân Yên, Bắc Giang, đánh chết công dân Nguyễn Văn Khương về tội không đội mũ bảo hiểm.

06/8/2010: công an thường phục Thái Nguyên bắn thủng đùi xuyên xương chậu công dân Hoàng Thị Trà, về tội không đội mũ bảo hiểm.

14/8/2010: công an huyện Châu Thành A, Hậu Giang, đánh chết công dân Trần Duy Hải rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng áo sơ mi tay dài.

09/9/2010: công an xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, Đồng Nai, đánh chết công dân Trần Ngọc Đường rồi báo cáo nạn nhân tự treo cổ bằng dây thắt lưng.

16/9/2010: công an Hà Tĩnh đánh hội đồng công dân Đặng Đình Việt bằng gậy, phải nhập viện, cho tới khi rất đông người đi đường đến can mới bỏ đi.

06/11/2010: công an xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đánh công dân Lưu Đình Tăng đến phải nhập viện.

24/11/2010: công an xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, Thái Nguyên, bóp cổ và đánh công dân thiếu niên Dương Đình Hiếu bằng dùi cui đến ngất xỉu, xong bắt thân nhân đến ký giấy xác nhận tình trạng sức khỏe bình thường trước khi đón cháu Hiếu về nhà.

17/12/2010: công an phường Mỹ Bình, Long Xuyên, đánh chết công dân Đặng Văn Đen.

19/12/2010: công an phường Quán Trữ, Hải Phòng, đạp ngã xe để bắt giữ người đi xe máy ngồi sau không đội mũ bảo hiểm, gây trọng thương cho cả hai nạn nhân rồi tìm cách xóa dấu vết hiện trường.

28/12/2010: công an xã La Phù, Hoài Đức, Hà Tây, đánh hội đồng đến gãy xương sườn công dân Phạm Quang Sơn, mặc cho người thân quỳ lạy xin tha, sau đó, phó công an xã kéo côn đồ về bao vây và đòi giết cả nhà và đốt nhà nạn nhân.

11/1/2011: công an huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, đánh gãy tay công dân Ngô Thị Thu trong lúc biểu tình tố cáo nhà máy nhả khói độc, lại còn tuyên bố rằng nạn nhân chưa chết đâu mà lo.

01/3/2011: công an phường Nghi Tân, Cửa Lò, Nghệ An, đánh hội đồng công dân Nguyễn Văn Hướng bằng dùi cui đến tét đầu, về tội không đội mũ bảo hiểm.

02/3/2011: trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, phường Thịnh Liệt, Hà Nội, đánh công dân Trịnh Xuân Tùng gãy 2 đốt sống cổ, gây liệt tứ chi và hệ thống hô hấp, dẫn đến tử vong, về tội đi xe ôm mà dừng lại tháo mũ bảo hiểm ra để nghe điện thoại.

23/3/2011: thiếu tá công an Bùi Minh Thắng, phó trưởng phòng CSGT Hậu Giang (con của giám đốc CA tỉnh Hậu Giang), đánh công dân Đỗ Quốc Thái bằng dây thắt lưng đến nhập viện, khi nạn nhân không chịu lái xe taxi vượt đèn đỏ như Thắng yêu cầu. Chi được đưa về trạm CSGT Cửa Ô, Thắng còn buộc đồng nghiệp ở đây phải quỳ lạy, :không tao bắn!".


Sự liên hệ hữu cơ xâu chuỗi của hàng loạt án mạng tàn độc/thảm thiết kể trên không khỏi khiến dư luận nhiều nguồn rút ra một kết luận khách quan khó cãi: Tử thần đã chính thức nhập tịch và đang mang hộ chiếu VN.

Trong tất cả các vụ công an đánh/giết người vừa kể, chỉ có độc nhất vụ thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp bị truy tố ra tòa, lãnh án 7 năm tù giam.

Trong tất cả những công an từng đánh/giết người kể trên, cũng chỉ độc nhất thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp là có được sự bảo vệ tương đối khá hơn cả, nhờ lọt vào bên trong hệ thống trại giam. Đa phần những kẻ còn lại bên ngoài đang sinh hoạt trong sự sợ hãi thường trực, sau những vụ nhân dân bất bình bao vây hiện trường; mang xác nạn nhân đến triển lãm tại trụ sở CA; biểu tình đòi làm sáng tỏ vụ việc; hoặc, phá tan cổng UBND tỉnh (trường hợp Bắc Giang).

Tức là, so với sự trông đợi của đảng và nhà mước mong giới đối kháng "chết cho yên chuyện", thì ngược lại, khi nhân dân VN bị hành hung dưới tay tử thần công an VN đã trở thành những cái "chết gây lớn chuyện" rất đáng lo ngại.

Chứng cớ là nhà nước bịt kín/bẻ cong tin tức về cuộc tự thiêu của KS Phạm Thành Sơn ngay trước UBND thành phố Đà Nẵng ngày 17/2/2011 vừa qua.

Chứng cớ nữa là nhà nước đã phải hoàn tất khám nghiệm thi thể nạn nhân Trịnh Xuân Tùng sớm hơn dự định 1 ngày, đồng thời, dời vụ xét xử TS Cù Huy Hà Vũ trễ lại 10 ngày, tránh sự trùng hợp cả 2 sự kiện có tính "ngòi nổ" này vào cùng ngày 24/3/2011.

Rõ ràng là nhà cầm quyền Hà Nội biết sợ hương hoa nhài tỏa ngát từ Trung Đông/Bắc Phi và cái lò năng lượng hạt nhân căm phẫn của nhân dân VN đang chực nổ dưới những nhát chém của lưỡi hái tử thần công an hiện nay. Vì sao?

Vì đảng và nhà nước đã hiển thị đậm nét tình trạng thiểu năng/kém trí/vi luật/kiệt ngân/cạn lý/hết thời… ngược chiều với tình hình cập nhật về kỹ năng đấu tranh bất bạo động của nhiều người nhiều giới đang biến dần những quan tâm thành hành động.

Vì nhân dân đã vượt qua tâm lý mackeno cùng nỗi sợ, đã thao dượt đối đầu với nhà cầm quyền ở tầng địa phương, đang chờ đợi một ngòi dẫn nhạy lửa, và sẵn sàng cho một cuộc tập họp tại thủ đô có tầm vóc và hiệu quả như ở Tunis hồi đầu năm nay.

Vì, bên dưới tình trạng các chủ tịch tỉnh thường xuyên bất chấp lệnh chính phủ, các hiện tượng công an cấp xã có toàn quyền sinh sát và tùy tiện sử dụng quyền này chính là chỉ dấu rõ nhất của một hệ thống quyền lực đứt rời từ trung ương xuống tới địa phương.

Vì dàn thông tin 4T chính quy ở đây đã chính thức quy hàng hệ truyền thông dân báo ung dung lấn lướt ở mức áp đảo trên từng bảng pageviews, và với nội dung xây dựng mạng sinh hoạt xã hội dân sự làm nền cho việc huy độngsức mạnh quần chúng.

Vì mối liên kết giữa giới bloggers ở đây tiến đến những quy ước bất thành văn về phong trào quật ngược cán cân nạn nhân-hung thủ: Đẩy mạnh việc thu thập chứng cứ tham nhũng/lạm quyền/gian dối/tàn ác/phạm tội của dàn quan chức các cấp.

Vì, quan trọng hơn cả, là xóa tan mọi nỗi nhục VN hôm nay, để những thế hệ người Việt sắp tới được hãnh diện sống trong một đất nước tung cánh và một nền văn hóa nhân bản, không một ai bị tiêu diệt vì không đi cùng đường vạch ra bởi kẻ khác.

Và vì, nếu thật sự cái chết (như Mohamed Bouazizi) là giải pháp (châm ngòi) để dân chủ hóa VN thoát khỏi mọi hình thái độc tài, cộng sản lẫn không cộng sản, thì cũng đáng chọn lắm thay.

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi
Chết đây, chỉ chết cái hình hài
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.


(Nguyễn An Ninh)


Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.


(Sào Nam Phan Bội Châu)


Đinh Tấn Lực

24-03-2011 - Kỷ niệm 85 năm đám tang Cụ Phan Chu Trinh & Kính điếu các nạn nhân của Tử Thần CAVN.



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


24 March 2011

Dân Số Thế Giới Tiếp Tục Gia Tăng 50 Triệu Người Mỗi Năm

Dân Số Thế Giới Tiếp Tục Gia Tăng 50 Triệu Người Mỗi Năm

Nguyễn Quốc Khải

Dân số thế giới gia tăng rất chậm kể từ khi trái đất mới khai thiên lập địa. Phải mất 250,000 năm, dân số nhân loại mới đạt được mức 1 tỉ người vào khoảng đầu thế kỷ 19, khi tế bào trứng của con người được khám phá. Hơn một thế kỷ sau đó, vào khoảng 1930, nhân số tăng gấp đôi lên tới 2 tỉ. Kể từ đó đến nay, dân số tăng nhanh chóng một cách không ai có thể ngờ được. Chỉ cần khoảng 30 năm, dân số nhân loại tăng thêm 1 tỉ từ 2 tỉ lên tới 3 tỉ vào năm 1960. Tỉ thứ tư chỉ cần 14 năm và tỉ thứ năm và thứ sáu chỉ cần 13 năm và 12 năm. Sự gia tăng dân số thật là khủng khiếp nếu đà này tiếp tục. May thay, tốc độ tăng trưởng nhân số đã ở điểm cao nhất và bắt đầu chậm lại. Vào năm nay, tức là cũng sau 12 năm trái đất sẽ có thêm 1 tỉ người nữa để đạt tới mức 7 tỉ, theo ước tính của Cơ Quan Dân Số của Liên Hiệp Quốc. Dân số thế giới sẽ còn tiếp tục gia tăng ít nhất trong vài thập niên tới, nhưng tốc độ tăng trưởng tiếp tục giảm dần.


Hình (J.K. Johnson): Tình trạng đông dân tại Saigon
cũng như tại Hà Nội gây ra cảnh kẹt xe thường xuyên.

Hai quả bom dân số

Kinh tế gia người Anh Thomas Malthus vào năm 1798 đã nhận định rằng nhân số sẽ gia tăng nhanh hơn là mức sản xuất thực phẩm, cho đến khi chiến tranh, bệnh tật, và nạn đói làm giảm số người. Quả thật là những bệnh dịch lớn đã giết chết nhiều người trước khi Malthus ra đời. Bệnh dịch (black death) lan tràn ở Âu châu trong các năm 1347-1349 đã giết chết ít nhất 1/4 dân số Âu châu.

Trong hai thế kỷ kế tiếp, sau khi Malthus tuyên bố nhân số thế giới không thể tiếp tục tăng, thực tế đã cho thấy một tình trạng trái ngược: dân số thế giới tiếp tục tăng. Sự bành trướng trồng những cây thực phẩm mới như bắp và khoai, cùng với việc khám phá ra phân hóa học đã giúp chặn đứng nạn đói ở Âu châu. Kể từ giữa thế kỷ 19, việc thiết lập hệ thống cống rãnh và cải thiện vệ sinh đã làm giảm bệnh dịch tả (cholera) và thương hàn (thyphus). Cũng vào thời Malthus, khoa học gia Edward Jenner đã bào chế loại vac-xin (thuốc chủng) đầu tiên để chữa bệnh đậu mùa (smallpox). Sau đó nhiều thuốc chủng khác và thuốc trụ sinh ra đời như Penicillin. Thuốc DDT diệt muỗi truyền bệnh sốt rét. Sự tiến bộ của ngành y khoa, cùng với phương pháp dinh dưỡng tốt đã giúp con người sống lâu hơn. Tuổi thọ trung bình tại những nước kỹ nghệ hóa từ 35 năm đã tăng lên đến 77 năm hiện nay. Tuổi thọ của Ấn Độ cũng đã tăng từ 38 năm vào năm 1952 lên đến 64 ngày nay. Tại Trung công , con số này đã tăng từ 41 đến 73. Không những con người sống lâu hơn, mà số đàn bà ở trong tuổi sanh con lên đến 1.8 tỉ, mặc dù mỗi đàn bà sanh ít con hơn so với một thế hệ trước.


Hình (Corbis): Trẻ em sơ sinh tại bệnh viện.

Nhà sinh học Hoa Kỳ Paul Ehrich của Standford University xuất bản cuốn sách "Population Bomb" vào năm 1968. Ông tiên đoán rằng hằng trăm triệu người sẽ chết đói và đã quá trễ để có thể làm được gì để cứu vãn tình trạng này. Bệnh ung thư nhân số gia tăng cần phải cắt giảm bằng cách bắt buộc nếu những phương pháp tình nguyện thất bại. Cuốn sách "Population Bomb" của thế kỷ 20 đã làm ông Paul Ehrich nổi tiếng y như cuốn sách "An Essay on the Principle of Population" của ông Thomas Malthus xuất bản vào cuối thế kỷ 18.

Lần này cũng vậy, trái bom dân số đã không nổ. Cuộc cách mạng xanh đã giúp mức sản xuất thực phẩm gia tăng mạnh mẽ nhờ vào sự phát minh các loại hạt giống có năng suất cao như lúa Thần Nông, phương pháp dẫn nước, phân hóa học, và thuốc diệt trừ sâu bọ và bệnh thảo mộc. Ngày nay, vẫn còn có nhiều người thiếu dinh dưỡng nhưng nạn chết đói hàng loạt rất hiếm hoi, ngoại trừ do "nhân tạo" như nạn đói năm Ất Dậu tại Việt Nam do chính quyền Nhật gây ra, tại Ukraine vào năm 1932-1933 do chính sách sản xuất tập thể cưỡng bức dưới thời Joseph Stalin, và nạn đói tại Trung công vào những năm 1958-1961 do chính sách Nhẩy Vọt và sản xuất tập thể của Mao Trạch Đông.

Hạn chế sinh sản

Vào thế kỷ 18 tại Âu châu và đầu thế kỷ 20 tại Á châu, một người đàn bà trung bình sanh 6 đứa con để giữ cho nhân số không thay đổi vì phần lớn những đứa trẻ chết trước khi đến tuổi trưởng thành. Tỉ lệ sanh sản này đã giảm xuống còn 4.8 vào năm 1965-70 và 2.6 vào năm 2005-10.

Ngày nay tại những nước phát triển, tỉ lệ sanh sản để giữ quân bình về nhân số là 2.1 cho mỗi phụ nữ tại những nước đã phát triển và tỉ lệ này cao hơn tại những quốc gia đang mở mang. Một điều quan trọng không ai tiên đoán được là vào đầu thập niên 1970s, tỉ lệ sanh sản trên thế giới đã bắt đầu thuyên giảm mạnh chưa từng thấy. Do đó mức tăng trưởng dân số đã giảm trên 40%.

Phụ nữ Pháp tiên phong trong việc giảm sanh đẻ bắt đầu từ thế kỷ 18. Sau đó cả Âu châu và Hoa Kỳ theo gương phụ nữ Pháp. Vào cuối thập niên 1990s, tỉ lệ sanh sản tại Âu châu là 1.4. Tại Trung công với một dân số bằng 1/5 dân số thế giới, mặc dù dân số tiếp tục tăng, nhưng tỉ lệ sanh sản đã giảm xuống còn 1.5 dưới mức thay thế trong khoảng 20 năm vừa qua do chính sách bắt buộc một con bắt đầu từ năm 1979. Tỉ lệ sanh sản cao hiện nay chỉ tồn tại ở Phi Châu. Tuy nhiên nhân số Phi Châu chỉ chiếm 16% nhân số toàn cầu.

Vào năm 1952, chỉ vài năm sau dành được độc lập, Ấn Độ đã bắt đầu thi hành chánh sách hạn chế sanh đẻ để giảm bớt việc gia tăng dân số. Mục tiêu của chánh sách này là Ấn Độ cần đạt được tỉ lệ thay thế dân số 2.1 vào năm 2010. Điều này đã không xẩy ra và còn cần thêm một thập niên nữa. Hiện nay tỉ lệ này là 2.6. Theo một ước tính, dân số Ấn Độ sẽ nhiều hơn dân số của Trung công vào năm 2030 và lên quá 1.6 tỉ vào năm 2050. Phương pháp hạn chế sanh đẻ chánh ở Ấn Độ là triệt tiêu khả năng sanh sản (sterilization) của đàn bà và cả đàn ông. Phương cách thắt ống dẫn tinh trùng (noscalpel vasectomy) ở đàn ông giản dị và ít tốn kém hơn là cách cột buồng trứng (tubal ligation) ở đàn bà.

Dân số Việt Nam

Theo cuộc kiểm tra thực hiện vào 01-04-1999, dân số Việt Nam là khoảng trên 76 triệu. Từ năm 1979 đến 1999 dân số gia tăng 24 triệu. Mặc dù dân số gia tăng, nhưng tốc độ gia tăng dân số đã giảm. Trong khoảng thời gian 1979-1989 mức gia tăng là 22.7% và trong 1989-1999 là 18.5%. Trung bình mức tăng trưởng hàng năm là khoảng 2% vào đầu thập niên 1990s và 1.4% vào cuối thập niên này.

Việt Nam áp dụng chính sách hai con bắt đầu từ năm 1993 để kiểm soát nhân số đã giúp cho mức tăng trưởng dân số tiếp tục giảm xuống còn 1.3% vào năm 2004 và 1.096% vào năm 2010. Tỉ lệ sanh sản giảm từ 3.8 vào năm 1989 xuống còn 1.93 vào năm 2010. Tuy nhiên dân số Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng vào khoảng 1 triệu mỗi năm. Dân số của Việt Nam vào năm 2010 là 89,571,130. Vì áp lực quốc tế, Việt Nam đã hủy bỏ chính sách 2 con vào năm 2003 vì tính cách cưỡng bức và thay thế bằng chánh sách khuyến khích gia đình nhỏ.

Hình thức cưỡng bức của chính sách hai con bao gồm việc trục xuất người vi phạm ra khỏi Đảng CSVN nếu là đảng viên, cha mẹ phải trả tiền sức khỏe và học phí cho đứa con thứ ba, và nhân viên chánh phủ sẽ bị kỷ luật. Một biện phát trừng phạt nặng là tịch thu đất. Tuy nhiên, biện pháp trừng phạt không được áp dụng trên toàn quốc và tùy thuộc vào quyết định của các viên chức địa phương. Rút kinh nghiệm của Trung công , Việt Nam đã không áp dụng chính sách một con để tránh sự mất quân bình giữa hai phái nam và nữ.

Hàng năm con số phá thai chính thức được ghi nhận là 900,000 trường hợp. Thực tế con số phá thai có thể cao hơn. Phá thai là một phương pháp hạn chế dân số ở Việt Nam và giúp cha mẹ có lối thoát trong việc chọn con trai hay con gái. Cũng như ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung công , cha mẹ Việt Nam có khuynh hướng trọng con trai. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, trung bình một phụ nữ Việt Nam trải qua ba lần phá thai trong đời để theo chính sách hai con. Mặc dù chính sách này không khắt khe như ở Trung công , nhưng cũng đã tạo ra tình trạng bất thăng bằng về nhân chủng. Ở Việt Nam tỉ lệ con trai so với con gái là 112/100.

Kết luận

Nhờ những phương pháp kiểm soát dân số và tiến bộ về khoa học, sự gia tăng nhân số thế giới đã chậm lại và hai quả bom dân số đã không nổ. Nhân loại cần 13 - 14 năm nửa để đạt được 8 tỉ, và 20 – 25 năm sau đó để đạt 9 tỉ, tức là vào khoảng 2045 - 50. Trung bình mỗi năm dân số thế giới sẽ gia tăng 50 triệu người cho đến giữa thế kỷ 21. Vào lúc đó, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân số thế giới sẽ ổn định và sẽ không gia tăng nữa.

Ưu tiên quan trọng hiện nay đối với thế giới không còn là vấn đề đông dân, mà là nạn nghèo đói, thiếu hạ tầng cơ sở và môi trường nhiễm độc. Thực phẩm sẽ không thiếu nhưng sự phân phối vẫn là một thử thách lớn lao.


Tài liệu tham khảo:

Paul Ehrich, "The Population Bomb", Cuthogue, New York,: Bucaneer, 1971.
Robert Kunzig, "Population 7 Billion," National Geographic, January 2011, Vol. 219, No. 1.
John Parker, "Another Year, Another Billion," The World in 2011, The Economist, December 2010.
Eye Witness, "The Black Death 1348," www.eyewitnesstohistory.com, 2001.
WorldWatch Institute, "Vietnam May Revisit Two Child Population Policy," January 5, 2009. Owen Bennett-Jones, "Vietnam's Two-Child Policy," BBC News, November 8, 2000.
The Gardian, "Vietnam a development success story?", December 23, 2010.
Thuy Hang, "Vietnam's population tops 85 million," Vietnews, August 15, 2009.
Carl Haub and Phuong Thi Thu Huong "An Overview of Population and Development in Vietnam," Population Reference Bureau and the National Committee for Population and Family Planning, February 2003.


http://bit.ly/fPJmMt



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


23 March 2011

Lối thoát nào cho thế giới nhiễu nhương và một Việt Nam đau khổ?

Lối thoát nào cho thế giới nhiễu nhương
và một Việt Nam đau khổ?

Lê Lão Trượng


Lịch sử nhân loại là những trang đẫm đầy máu và nước mắt. Máu và nước mắt luôn là phó sản của sự đau khổ mất mát khi con người bị tước đoạt quyền sống và hạnh phúc.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, Liên Hiệp Quốc được thành lập như một định chế để ngăn ngừa xung đột giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, giữa các cộng đồng… nhằm duy trì hòa bình trên thế giới, nói chung là vì mục đích gìn giữ hạnh phúc cho nhân loại. Nhưng trên thực tế, từ đó cho đến nay thế giới vẫn chưa có một ngày im tiếng súng, máu vẫn đổ và nước mắt vẫn tuôn tràn trên khuôn mặt của những số phận bất hạnh, không chỉ trong bóng tối mờ ám của tù ngục mà còn ngang nhiên giữa ánh sáng mặt trời.

Xét trên thực tế, từ ngày ra đời cho đến nay, Liên Hiệp Quốc cũng đã ngăn chặn hoặc dập tắt được một số những cuộc xung đột giữa một số quốc gia, và cũng chỉ có thế, sự đau khổ của nhân loại có vẻ như không giảm đi mà càng ngày càng gia tăng trong đủ loại hình thái tinh vi hơn. Từ sau cuộc Thế Chiến II đến nay, các chế độ thực dân lần lượt sụp đổ, hầu như không một chính quyền hoặc dân tộc nào dám xua quân xâm chiếm một quốc gia khác để dựng lên một chế độ thực dân đối với dân tộc khác (ngoại trừ trường hợp của bạo chúa Iraq: Saddam Hussein). Chế độ thực dân cổ lổ trong đó dân tộc này bóc lột dân tộc kia đã cáo chung, nhưng một hình thái thực dân bóc lột mới lại nảy sinh và càng ngày càng bộc phát mạnh: những chế độ thực dân nội địa trong đó một thiểu số cầm quyền cai trị bóc lột chính nhân dân mình và cướp đoạt tài nguyên đất nước mình. Nghĩa là chế độ con người bóc lột con người, vi phạm nghiêm trọng tuyên ngôn nhân quyền do chính Liên Hiệp Quốc đề ra, và Liên Hiệp Quốc cũng đành bó tay… đứng nhìn. Ngoài Liên Hiệp Quốc với Tuyên Ngôn Nhân Quyền còn có Tòa Án Công Lý Quốc Tế và Tòa Hình Sự Quốc Tế, Tuyên Ngôn về Trách Nhiệm Bảo Vệ, hàng trăm tổ chức nhân quyền khác như: Human Rights Watch, Amnesty International, Free House, Committee to Protect Journalists, Reporters without Borders, v…v… Tóm lại, hàng trăm định chế và tổ chức loại này đã được thiết lập hoặc được các quốc gia ký kết để rồi… bó-tay.com!

Lương tâm nhân loại quả có lao xao nhưng chẳng làm gì được với những chế độc độc tài hoặc côn đồ đang trắng trợn chà đạp quyền làm người, bóc lột chính nhân dân và đất nước của họ, gây bất ổn cho cuộc sống nhân loại trên toàn thế giới. Những con người có lương tri biết làm gì ngoài việc cảm nhận sự đau khổ của đồng loại (và của chính mình) trong một tâm trạng bất lực? Những câu hỏi chúng ta có thể đặt ra ở đây là: Do đâu mà các chế độ độc tài côn đồ vẫn cứ nảy nòi và tồn tại trong thế giới ngày nay? Cộng đồng nhân loại có phương cách nào để dẹp bỏ những chế độ phi nhân đang đi ngược xu hướng chung tìm đến tự do và bình đẳng cho mỗi công dân của Trái Đất? Làm thế nào để dẹp bỏ những chính quyền độc tài của những quái vật thời hiện đại như Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên, Than Suê của Miến Điện, "đại tá" Muammar Gaddafi của Lybia, "thằng hề" Hugo Chavez của Venezuela … và nhất là chế độc độc tài toàn trị phi nhân của đảng cộng sản đang đè đâu cưỡi cổ nhân dân chúng ta từ 80 năm nay?

Để trả lời cho những câu hỏi (đồng thời là khát vọng của lương tri nhân loại) trên, trước tiên có lẽ chúng ta phải đi tìm những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại của các chế độ phi lý trên. Có nhiều nguyên nhân, nhưng theo chủ quan của người viết, sau đây là các nguyên nhân chủ yếu:

1. Lòng tham mù quáng hoặc ảo tưởng điên cuồng của con người. Con người cụ thể ở đây là giai tầng lãnh đạo mà mãnh lực của đồng tiền và quyền lực đã biến họ thành những quái thú, nô lệ của đồng tiền và danh vọng. Và hầu như chẳng có lòng tham nào là có đáy.

2. Sự xuất hiện của chủ thuyết cộng sản trong thế kỷ 19, dẫn đến sự tồn tại của các quốc gia cộng sản với cuộc Chiến Tranh Lạnh trong thế kỷ 20. Sự việc Liên Xô – thành trì của thế giới cộng sản và các quốc gia độc tài cộng sản đã đổ sụp vào cuối thế kỷ 20, chứng tỏ sự sai lầm của chủ thuyết này. Tàn dư của nó vẫn còn rơi rớt đến nay là 4 quốc gia cộng sản do "đại ca" Trung Cộng đứng đầu với hai tên đàn em trung kiên là Bắc Triều Tiên và Việt Nam ở châu Á, bên kia Tây Bán Cầu là nhân dân đất nước Cuba xinh đẹp đã rên siết hơn 50 năm dưới bàn tay sắt đầy máu của anh em nhà Castro.

3. Chính sách thiển cận của một số chính quyền Hoa Kỳ và phương Tây. Với bề dày truyền thống xã hội dân chủ của mình, một số chính quyền của Hoa Kỳ và phương Tây thay vì chọn đứng về xu hướng tiến bộ chung của nhân loại – nhưng vì ích lợi cục bộ quốc gia hoặc bị chi phối bởi các tập đoàn tư bản đa quốc gia – nên đã đứng về phe của các giai tầng thiểu số cầm quyền phản động. Thay vì đóng vai trò lãnh đạo, theo qui luật tự nhiên, dẫn dắt thế giới tiến đến cuộc sống bình an tốt đẹp hơn, Hoa Kỳ và phương Tây nhiều lúc đã đóng vai trò con buôn ích kỷ, điều này càng làm cho thế giới càng bất bình và bất ổn hơn bởi sự nảy nòi và thách thức của những lực lượng đề kháng cực đoan vô trách nhiệm với sự tồn tại của nhân loại: Al-Qaeda và sự lớn mạnh của đất nước độc tài cộng sản Trung Quốc.

4. Sự lớn mạnh của Trung Quốc. Dưới bàn tay cai trị của đảng cộng sản TQ và tầng lớp thống trị mang dòng máu Hán tộc, bản chất gian manh và chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bá chủ thế giới, đất nước độc tài toàn trị Trung Cộng đã thực sự trở thành mối đe dọa cho thế giới và nhân loại (và cả đại khối nhân dân Trung Hoa với chính sách bóc lột của chế độ thực dân nội địa: đại đa số người dân bị bóc lột sức lao động nhưng vẫn sống trong nghèo khổ, hố cách biệt giàu nghèo trong xã hội quá lớn, đảng viên và chính quyền thì càng ngày càng giàu và toàn quyền sử dụng tài sản quốc gia – gần 3000 tỷ đô la thặng dư mậu dịch là kết quả của sự bóc lột sức lao động người dân và xâm hại môi trường sống được đem cho nước ngoài vay, tạo thanh thế chính trị và kinh tế nhằm duy trì quyền lực của đảng cộng sản chứ không phục vụ cho đời sống của nhân dân). Các chế độ độc tài quái đản từ Á sang Phi như Miến Điện, Bắc Triều Tiên, Việt nam, Sudan, Congo, Zimbabwe… liệu tồn tại được bao lâu nếu không có sự chống lưng đỡ đầu của Trung Quốc? Và sau rốt, sự lớn mạnh của tên thực dân Trung Quốc phải chăng có trách nhiệm từ chính sách con buôn sai lầm của Hoa Kỳ, bắt đầu từ màn "ngoại giao bóng bàn" của cặp đôi Nixon – Kissinger năm 1972?

5. Sự bất lực của Liên Hiệp Quốc và các định chế quốc tế là một thực tế rõ ràng, với quy chế VETO (quyền phủ quyết) của những quốc gia thiếu trách nhiệm với sự bình yên của thế giới (nếu không nói là côn đồ) như Trung Quốc, đôi khi là Nga, đôi khi là các "con buôn" Mỹ, Anh, Pháp. Tuyên ngôn Nhân Quyền đã và đang bị các chính phủ thực dân nội địa vi phạm. Tuyên ngôn về Trách nhiệm Bảo vệ (R2P) cũng chưa một lần được thực thi để cứu vớt các dân tộc đang chết dần trong đau khổ, mất tự do. Tòa án Hình Sự quốc tế của LHQ cũng chưa xét xử trọn vẹn một phiên tòa nào đối với những tên bạo chúa đã và đang cầm quyền trên thế giới…!!!

Tóm lại, thế giới chúng ta đang sống là một thế giới nhiểu nhương và bế tắc, trong đó lương tâm nhân loại sẽ không ngơi dằn vặt khắc khoải bởi những đau khổ của đồng loại, của dân tộc và chính bản thân mình do sự bất lương và tàn ác của các chế độ độc tài. Trong đó, khổ đau của đại đa số người dân là hạnh phúc của bọn thiểu số cầm quyền vô lương.

Theo số liệu của Ts Nguyễn Hưng Quốc lấy từ tổ chức Free House hiện nay trên thế giới có 2,434 tỉ người sống dưới các chế độ độc tài; 60% số người ấy hiện đang sống ở TQ. Như vậy, cứ 10 người chịu đựng sự độc tài thì có 6 người đang sống ở TQ. 2,434 tỷ người tức là hơn 40% nhân loại đang sống trong khổ đau và rủi thay trong đó có gần 90 triệu dân Việt Nam chúng ta.

Chúng ta không có con số để so sánh tỷ lệ này với thời điểm các năm thập niên 1960, thời điểm cáo chung của các chế độ thực dân kiểu cũ, nhưng tôi tin rằng từ đó cho đến nay tỷ lệ con người sống dưới các chế độ độc tài đã tăng lên, số các quốc gia độc tài đã nảy sinh càng lúc càng nhiều hơn trong thế giới hiện đại, dưới những chiêu bài càng lúc càng tinh vi và dối trá tàn tệ hơn so với chủ nghĩa thực dân cũ. Nhân dân các nước thuộc địa cũ đã đấu tranh mong dành được độc lập cho đất nước và quyền làm người cho bản thân, nhưng sau đó hầu hết lại lọt vào một loại xiềng xích nô lệ mới: các chế độ độc tài gỉa danh dân chủ hoặc các chế độ cộng sản sắt máu. Con số 2,434 tỷ người (40% nhân loại) đang sống mất tự do, nhân phẩm bị chà đạp, bị súc vật hóa… nói lên điều gì? – Con người đang biến trái đất này, ngôi nhà ở duy nhất trong vũ trụ của mình thành một nơi dung dưỡng tội ác, bất ổn đầy hiểm nguy và đau khổ. Số 60% nhân loại còn lại có thể làm gì để đấu tranh chống lại cái ác đó?

– Rõ ràng là sự bất lực của các định chế quốc tế. Không ai có thể làm gì trước sự lộng hành của một nhóm cướp biển Somalia, không một chế tài nào có thể ngăn được những hành động điên rồ hoặc quái ác của các bạo chúa tân thời như: Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên, Mahmoud Ahmadinejad của Iran, tập đoàn quân phiệt Miến Điện, Hassan Al-Basir của Sudan, bàn tay sắt máu của các chế độ cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam. Phải chăng lương tâm nhân loại là một thứ hàng xa xỉ, lịch sử nhân loại đã bỏ qua những tội ác tày trời của các bạo chúa đương đại: hàng chục triệu người Nga chết dưới bàn tay Stalin, hàng chục triệu con dân Trung Hoa có lẽ vẫn đang ngậm hờn trong mộ phần của họ vì những ảo tưởng ngông cuồng và ác tâm của người cầm lái vĩ đại Mao Trạch Đông, mấy chục triệu dân Bắc Triều Tiên vẫn đang sống kiếp sống súc vật từ hơn 60 năm nay, hàng tỷ người dân đang phải sống dưới mức chuẩn nghèo đói trong các quốc gia mà thiểu số cầm quyền đang tha hồ vùng vẫy bơi lội trong những thú vui xa hoa lãng phí mà mức độ vô luân còn hơn thời Trung Cổ… Những thí dụ kể trên phải chăng không là tội ác đối với nhân loại? Bao giờ thì những tên bạo chúa trên mới được đem ra xét xử trước tòa án công lý của nhân loại để trả lại sự bình đẳng cho những người đã bị bức hại đến chết và sau nữa, gióng lên một hồi chuông cảnh báo cho những bạo chúa đang còn tại vị hay lăm le chực chờ ngoi lên những ngai vàng máu của chúng? Công lý? Bao giờ hoặc sẽ chẳng bao giờ đến với những cơ chế và định chế bị chi phối bởi lòng tham ích kỷ của thế giới hiện nay?

Trong tác phẩm "Cội nguồn của Chiến tranh", Ayn Rand đã lên tiếng phê phán từ những năm 60: "Chúng ta ca ngợi hòa bình, chúng ta chống lại việc dân tộc này sử dụng vũ lực chống lại dân tộc khác chứ không chống lại việc chính phủ của một nước sử dụng vũ lực nhằm chống lại các công dân của chính nó."  Dù vậy, từ đó cho đến nay thế giới vẫn bất lực, không có một quan điểm hợp lý và đúng đắn để từ đó hình thành được những định chế hữu hiệu trong công cuộc phòng ngừa và chống lại những chế độ bất lương và côn đồ trên thế giới.

Thế giới này và nhân loại sẽ đi về đâu và liệu bao giờ dân tộc và bao giờ đất nước Việt Nam chúng ta mới thoát khỏi cái kiếp nạn độc tài cộng sản này? Thú thực, có lúc người viết đã thốt lên câu hỏi trên với một tâm trạng bi quan rã rời. Nhưng những biến cố xảy ra mới đây tại Tunisia, Ai-cập, Lybia, Yemen… lại thắp lên trong chúng ta một ngọn lửa hy vọng: khát vọng tự do của con người là ngọn lửa thiêng ngàn đời bất diệt, phen này sẽ đốt cháy một lần cuối những chế độ độc tài vô lương trên thế giới để vĩnh viễn mang lại cho con người – sinh vật thiêng liêng của vũ trụ – cuộc sống bình đẳng, tự do và phẩm giá.

Sự nổi dậy của nhân dân các nước vùng Trung Đông dù ôn hòa và bất bạo động nhưng vẫn có chết chóc thương vong do đàn áp của các chính quyền độc tài, hàng trăm người bị chết và bị thương cho đến khi lật đổ được hai ông Vua Tổng Thống Ben Ali và Hosni Mubarak. Nhân dân các nước Lybia, Yemen, Bahrain, Iran, Algeria, Maroc… vẫn đang đổ máu, nhiều hay ít là do mức độ thức tỉnh của lực lượng an ninh và quân đội nước sở tại.

Dù ngọn lửa đấu tranh chống độc tài đang bùng cháy tại Trung Đông nhưng con đường đấu tranh chung của cả nhân loại không hề dễ dàng, nếu không nói là sẽ khó khăn hơn vì các chế độ độc tài khác (nhất là độc tài cộng sản ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam) có thời gian để rút kinh nghiệm đối phó với đám đông quần chúng nổi dậy. Vì vậy, việc đề ra những phương án đấu tranh là cần thiết và cần sự hợp sức của nhiều người nhiều tổ chức.

Mong các bạn tham gia đóng góp để hoàn thiện. Thí dụ, về mặt luật pháp quốc tế chúng ta sẽ đề ra những cải cách như sau đối với tổ chức Liên Hiệp Quốc:

1. Sửa đổi quyền phủ quyết (VETO) của 5 cường quốc thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An: Sự phủ quyết (đối với một vấn đề, hoặc nghị quyết nào đó) chỉ có giá trị khi có ít nhất 02 phiếu phủ quyết.

2. Thành lập Ủy Ban Giám Sát Bầu Cử (UBGSBC) độc lập, ngang hàng với Hội Đồng Bảo An, có nhiệm vụ giám sát tất cả các cuộc bầu cử của các quốc gia trên thế giới. Một số các điều khoản chi tiết về Luật Giám Sát Bầu Cử (bắt buộc tất cả các quốc gia thành viên LHQ phải ký kết) đề nghị như sau:

a) Các cuộc trưng cầu dân ý, bầu cử quốc hội hoặc lãnh đạo của các quốc gia bắt buộc phải tổ chức dưới sự giám sát quốc tế, cụ thể là Ủy ban Giám sát bầu cử của LHQ.

b) Những cuộc bầu cử không có sự giám sát quốc tế của UBGSBC sẽ không được công nhận, theo đó chính quyền được dựng lên bởi cuộc bầu cử này sẽ không được sự thừa nhận của quốc tế. Lãnh đạo chính quyền này, thân nhân cũng như bộ máy cầm quyền của họ sẽ bị xem là bất hợp pháp và sẽ bị những chế tài theo luật quốc tế (không được tham dự các hội nghị, tài sản bị phong tỏa, không được bất kỳ quốc gia chính danh nào đón tiếp, không được tham gia hoặc bị loại bỏ khỏi các tổ chức quốc tế v…v… cho đến khi – chậm nhất là 12 tháng sau – tổ chức lại các cuộc bầu cử có sự giám sát của UBGSBC quốc tế.)

c) Bất kỳ chính quyền lâm thời nào (do chính biến hoặc do quốc gia mới thành lập) buộc phải tổ chức bầu cử có sự giám sát của UBGSBC quốc tế để thành lập chính quyền dân sự chính thức và hợp pháp trong thời hạn chậm nhất là 18 tháng kể từ ngày chính quyền lâm thời được thành lập.


Cuối cùng, trở lại với tình hình thực tế của Việt Nam chúng ta.
Mặc dù trong lòng đang chứa chan hy vọng rằng "cuộc cách mạng hoa sen" của dân tộc chắc chắn sẽ phải xảy ra bởi cái ác không thể thắng cái thiện để cứ "đời đời quang vinh", nhưng trước mắt chúng tôi mong tất cả chúng ta mỗi người hãy dành một chút thời gian để suy nghĩ, để góp tay vào một việc cụ thể nào đó, chẳng hạn như bạn nếu có kỹ năng hoặc tay nghề, các bạn hãy thống nhất để tập trung sức mạnh và lập ra một trang "taychaybaucu" – tẩy chay bầu cử, mục đích để kêu gọi mọi người ký tên tẩy chay cuộc bầu cử cuội do cộng sản Việt Nam sắp tổ chức vào tháng Năm/ 2011 này. Và biết đâu, ngày đó chúng ta sẽ tập họp lại thay vì tiếp tục hèn nhát tham gia trò "đảng cử dân bầu" dối trá kia, chúng ta sẽ nổi lửa lên để đưa dân tộc và đất nước thoát khỏi kiếp nạn độc tài cộng sản và dã tâm xâm lược ngàn đời của lũ sài lang phương Bắc.


Lê Lão Trượng
Sài Gòn, tháng 02 – 2011

http://bit.ly/f0FJiQ



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Sẽ đến lượt Trung Quốc

Sẽ đến lượt Trung Quốc
Francis Fukuyama

Dịch giả : Nguyễn Quốc Khải.


LTG: Theo tác giả, Trung Quốc sẽ không lây "bệnh truyền nhiễm" của Trung Đông một ngày gần đây. Nhưng Trung Quốc rất có thể phải đối phó với những vấn đề trong tương lai. Lý do là cho đến nay, giai cấp trung lưu xem ra bằng lòng hi sinh tự do chính trị để đổi lấy lợi tức cao và sự ổn định. Nhưng ở một thời điểm nào đó, sự đổi trác này sẽ rất có thể thất bại.

Một số tác giả khác cũng đã đóng góp những bài nghiên cứu đáng chú ý về "Cách Mạng Hoa Nhài" như Jean-Pierre Cabestan, Barry Eichengreen, Duncan Green, Huguette Labelle, và Dani Rodrik.

Ông Francis Fukuyama là học giả kỳ cựu tại Freeman Spogli Institute for International Studies thuộc Standford University ở California, Hoa Kỳ. Trước đây ông đã giảng dậy nhiều năm tại George Mason University và Johns Hopkins University. Ông từng theo học tại Cornell và Yale và tốt nghiệp với bằng Tiến Sĩ Chính Trị Học tại Harvard University. Cuốn sách mới nhất của ông với tựa đề "The Origins of Political Order: From Prehuman Times to the French Revolution," sẽ được phát hành trong tháng 4, 2011.

Tuy nhiên GS Fukuyama được biết đến nhiều nhất qua cuốn sách nổi tiếng "The End of History and the Last Man", xuất bản vào năm 1992. Trong sách này ông lập luận rằng sự tiến bộ của lịch sử nhân loại qua những cuộc tranh chấp về ý thức hệ hầu như kết thúc và thế giới an vị với một nền dân chủ cởi mở sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt và sự xụp đổ của Bức Tường Bá Linh vào năm 1989. GS Fukuyama tiên đoán sự toàn thắng huy hoàng cuối cùng của chủ nghĩa tự do về cả hai phương diện chính trị và kinh tế.


Trong thời gian ba tháng ngắn ngủi vừa qua, những cuộc nổi dậy của dân chúng đã lật đổ chế độ tại Tunisia và Ai Cập, đang gây ra cuộc nội chiến tại Libya, và rối loạn tại những nơi khác ở Trung Đông. Những cuộc nổi dậy này cũng tạo ra một thắc mắc trong đầu nhiều người: Liệu làn sóng dân chủ mới này sẽ là mối đe dọa cho tất cả những chế độ độc tài? Đặc biệt là Trung Quốc , một cường quốc đang vươn lên, có thể bị những sức mạnh này tấn công hay không?

Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh rõ ràng lo ngại. Họ đã giới hạn việc phổ biến tin tức về những cuộc nổi dậy và đã chấn áp những người vận động dân chủ và những phóng viên ngoại quốc để ngăn chặn ngay từ đầu những lời kêu gọi trên Internet về một cuộc "Cách Mạng Hoa Nhài" tại Trung Quốc. Một bài bình luận mới đây trên tờ nhật báo Bắc Kinh, một cơ quan ngôn luận của ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản thành phố, tuyên bố rằng đa số những người dân ở Trung Đông không thích những cuộc biểu tình chống đối tại nước của họ. Đây là những rối loạn tự lừa bịp do một thiểu số điều khiển. Về phần Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, ông kêu gọi tăng cường cái được gán cho cái tên "Trường Hỏa Thành" (Great Firewall). Đây là một bộ máy kiểm duyệt và theo rõi phức tạp mà chế độ sử dụng để kiếm soát việc tiếp cận Internet.

Không giống trường hợp ở Trung Đông, giai cấp trung lưu của Trung Quốc đã hưởng phúc lợi từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và chánh sách tạo việc làm cho những người có học.

Không có một nhà xã hội học hay phân tách tình báo nào đã tiên đoán được thời điểm chính xác hoặc sự lan rộng của cuộc nổi dậy của người dân Ả Rập – thực tế là cuộc nổi dậy này đã khởi sự tại Tunisia và được châm ngòi bởi một vụ tự thiêu của một người bán rau và những cuộc biểu tình đã buộc quân đội Ai Cập bỏ rơi ông Hosni Mubarak. Những xã hội Á Rập xem ra ổn định một cách thản nhiên trong hơn một thế hệ vừa qua. Tại sao những xã hội này lại bùng nổ vào năm 2011 là một điều chỉ có thể hiểu được bằng cách nhìn vào quá khứ, hi vọng như thế.

Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không thể nghĩ đến những cuộc cách mạng xã hội theo một phương cách có tổ chức hơn. Ngay cả những sự việc bất ngờ phải xẩy ra trong một môi trường nào đó. Một điểm nữa là tình trạng của Trung Quốc và Trung Đông khác biệt tận gốc. Hầu hết những bằng chứng cho thấy rằng Trung Quốc khá an toàn đối với làn sóng dân chủ đang lan tràn trên những phần đất khác của thế giới – ít nhất trong giai đoạn hiện tại.

Có lẽ nhà tư tưởng thích hợp nhất có thể giúp chúng ta hiểu tình trạng ở Trung Đông hiện nay và Trung Quốc trong tương lai là ông Samuel Huntington – không phải Huntington của cuốn sách "The Clash of Civilizations," (Sư Xung Khắc Của Những Nền Văn Minh) theo đó ông lý luận rằng có sự xung khắc căn bản giữa Hồi Giáo và dân chủ, nhưng là Huntington của cuốn sách "Political Order in Changing Societies" (Trật Tự Chính Tri Trong Những Xã Hội Thay Đổi), xuất bản vào năm 1968, theo đó ông đưa ra một lý thuyết về phát triển mất thăng bằng (the theory of the development gap).

Quan sát những sự bất ổn chính trị mạnh mẽ tại những nước đang phát triển trong hai thập niên 1950 và 1960, ông Huntington nhận thấy rằng những sự phát triển kinh tế và xã hội thường đưa đến những cuộc đảo chánh, cách mạng và quân đội nắm chính quyền. Ông giải thích bằng sự khác biệt giữa những người mới được huy động, có học, và được tăng cường khả năng về mặt kinh tế và hệ thống chính trị hiện hữu - nghĩa là giữa hi vọng được tham gia vào chính trị và một cơ chế chỉ cho phép họ có chút ít tiếng nói hoặc không có tiếng nói gì cả. Ông Huntington nhận thấy rằng những cuộc tấn công vào chính quyền hiện hữu rất ít khi được lãnh đạo bởi những người nghèo nhất của giai cấp nghèo trong xã hội, mà do giai cấp trung lưu bất mãn vì thiếu những cơ hội chính trị và kinh tế.


Những nhận định này có thể áp dụng vào trường hợp Tunisia và Ai Cập. Cả hai quốc gia này đã đạt được nhiều tiến bộ về xã hội trong vài thập niên gần đây. Chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc (một cách đo lường hỗn hợp bao gồm sức khỏe, giáo dục, và lợi tức) tăng 28% tại Ai Cập và 30% ở Tunisia từ 1990 đến 2010. Số người đi học gia tăng đáng kể. Đặc biệt, Tunisia đã có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học. Thật vậy, những cuộc biểu tình ở Tunisia và Ai Cập do những người thuộc giai cấp trung lưu, trẻ, có học và hiểu biết kỹ thuật. Họ muốn bầy tỏ với bất cứ ai có thể lắng nghe nỗi thất vọng của họ đối với những xã hội trong đó họ không được phép bày tỏ quan điểm của mình, không thể quy trách nhiệm vào những người lãnh đạo về sự tham nhũng và bất tài, hoặc không thể kiếm được việc làm mà không cần có sự quen biết.

Ông Huntington nhấn mạnh đến sức mạnh gây bất ổn của những lớp người mới trong xã hội. Họ đòi hỏi quyền tham dự vào chính trị. Dân chúng trước đây được huy động bởi báo chí và đài phát thanh; ngày nay họ được kích động bởi điện thoại di động, Facebook và Twitter. Những phương tiện này cho phép người dân được chia sẻ những nỗi bất bình về chế độ hiện hữu và học hỏi về những triển vọng trong một thế giới rộng lớn hơn. Sự thay đổi này trong vùng Trung Đông nhanh chóng một cách lạ thường và đã đánh đổ những chân lý cổ lỗ về tính chất thụ động của văn hóa Ả Rập và sự đối kháng của Hồi giáo đối với việc hiện đại hóa.

Những sự thay đổi phi thường này có gợi ý cho chúng ta về một khả năng bất ổn tại Trung Quốc trong tương lai không?

Một sự thật chắc chắn là sự bất mãn xã hội, giống như miếng bùi nhùi để nhóm lửa, cũng hiện hữu ở Trung Quốc như ở Trung Đông. Ngòi thuốc nổ của cuộc nổi dậy tại Tunisia là việc tự thiêu của Mohamed Bouazizi xẩy ra sau khi chiếc xe rau của anh bị tịch thu liên tục bởi nhân viên công lực và anh bị cảnh sát bạt tai và sỉ nhục khi anh đến để khiếu nại. Tất cả những chế độ không phải là pháp quyền (rule of law), trị dân bằng luật pháp (rule by law), hoặc không chịu trách nhiệm trước công chúng, đều bị sự thật kể trên săn đuổi. Chánh quyền thường xuyên coi thường người dân bình thường và chà đạp lên quyền của người dân. Không có một văn hóa nào lại không chống đối những hành vi như vậy.

Đây là một vấn đề rất lớn ở khắp mọi nơi tại Trung Quốc. Một báo cáo của Đại Học Giao Thông (Jiao Tong) cho thấy rằng trong năm 2010 có 72 việc xáo trộn xã hội "lớn" xẩy ra ở Trung Quốc, tăng 30% so với năm trước. Theo phần lớn những quan sát viên ngoại quốc, báo cáo này đã giảm con số thật sự xuống có thể vài mức độ. Những sự xáo trộn như thế khó mà đếm bởi vì chúng xẩy ra ở nông thôn và vấn đề báo cáo bị kiểm soát chặt chẽ bởi những giới chức có thẩm quyền Trung Quốc.

Trường hợp điển hình và trắng trợn vi phạm đến dân quyền nhất ở Trung Quốc đương thời là việc chánh quyền địa phương toa rập với những công ty phát triển địa ốc chiếm đoạt đất của nông dân hoặc công nhân nghèo để thực hiện những dự án hoành tráng mới hoặc là một công ty phế thải những chất nhiễm độc vào hệ thống cung cấp nước của thành phố nhưng không bị trừng phạt vì nối kết với quyền lợi cá nhân của giới chức lãnh đạo phân bộ đảng ở địa phương. Mặc dù nạn tham nhũng tại Trung Quốc chưa tới mức độ ăn cướp như ở một vài nước ở Phi châu hoặc Trung Đông, nhưng nó lan rộng ra khắp nơi. Dân chúng nhìn thấy và bất bình với nếp sống ưu đãi của lớp người quyền cao chức trọng và con cháu của họ. Cuốn phim "Avatar" đạt thành công lớn ở Trung Quốc một phần vì nhiều người dân Trung Quốc cảm thấy mình như những người bản xứ trong cuốn phim bị những đại công ty vô hình ăn cướp đất đai của họ.

Ngoài ra, Trung Quốc còn có vấn đề bất bình đẳng lớn lao và ngày càng gia tăng. Phần lớn những lợi ích từ sự phát triển phi thường dành cho những vùng ven biển và làm cho nông thôn tụt hậu khá xa. Chỉ số Gini của Trung Quốc – một tiêu chuẩn để đo lường sự cách biệt về lợi tức trong xã hội – đã tăng lên đến mức của Châu Mỹ Latin trong một thế hệ vừa qua. Để so sánh, Ai Cập và Tunisia có sự phân phối lợi tức tương đối cân bằng hơn nhiều.

Tuy nhiên theo ông Huntington, cách mạng không tạo bởi những người nghèo mà bởi giai cấp trung lưu đang lên nhưng khát vọng của họ bị chặn lại, và ở Trung Quốc có rất nhiều những người này. Tùy theo định nghĩa của quý vị, giai cấp trung lưu của Trung Quốc có nhiều hơn tất cả dân số của Hoa Kỳ. Giống như ở Ai Cập và Tunisia, giai cấp trung lưu ở Trung Quốc không có một cơ hội nào tham dự vào chính trị. Nhưng không giống như ở Ai Cập và Tunisia, giai cấp trung lưu ở Trung Quốc được hưởng lợi ích từ nền kinh tế đang tiến bộ một cách ngoạn mục và chính sách tạo việc làm của nhà nước nhắm hết sức đặc biệt vào giới trung lưu.


Ở một mức độ người ta có thể đo lường dư luận quần chúng Trung Quốc qua những cuộc thăm dò như Asia Barometer (Phong Vũ Biểu Á Châu), đa số rất lớn của dân Trung Quốc cảm thấy rằng đời sống kinh tế của họ khá hơn trong những năm vừa qua. Đa số dân Trung Quốc cũng tin rằng dân chủ là một chính thể tốt đẹp nhất, nhưng như một khúc ngoặt kỳ lạ, họ lại nghĩ rằng Trung Quốc đã là một nước dân chủ và họ bằng lòng với tình trạng này. Điều này có nghĩa là sự chuyển tiếp trong một thời hạn ngắn sang một nền dân chủ thật sự cởi mở chỉ được ít người hỗ trợ.

Thật vậy, có một vài lý do để tin rằng giai cấp trung lưu ở Trung Quốc có thể lo ngại rằng một chế độ dân chủ đa đảng trong ngắn hạn sẽ cho phép những người đã từng bị bỏ rơi đạo đạt những đòi hỏi của họ về việc tái phân phối lợi tức. Những người Trung Quốc giầu có nhận thấy rằng chế độ dân chủ đã gây ra tình trạng chính trị phân cực gần đây ở Thái Lan.

Sự thật là chế độ toàn trị ở Trung Quốc tinh vi hơn ở Trung Đông rất nhiều. Mặc dù không có trách nhiệm gì đối với dân chúng qua những cuộc bầu cử, chính quyền Trung Quốc cẩn thận theo rõi những bất mãn của dân chúng và thông thường phản ứng bằng cách dỗ dành thay vì đàn áp. Thí dụ như Bắc Kinh thẳng thắn công nhận sự chênh lệch lợi tức ngày càng lớn và trong những năm vừa qua đã tìm cách làm giảm bớt vấn đề này bằng cách chuyển những đầu tư mới vào khu vực nội địa nghèo. Khi có những trường hợp tham nhũng hay lạm quyền hiển nhiên, như đồ ăn cho trẻ sơ sinh bị nhiễm chất melamine hay việc xây cất trường học tồi tệ bị phát hiện khi có động đất tại Sichuan, chánh quyền đã quy trách nhiệm một cách tàn bạo cho các viên chức địa phương – đôi khi bằng án tử hình.

Một đặc điểm đáng chú ý nữa của chính quyền Trung Quốc là việc tự buộc phải thay đổi cấp lãnh đạo. Những lãnh tụ Ả Rập như Zine al-Abidine Ben Ali của Tunisia, Hosni Mubarak của Ai Cập, và Đại Tá Moammar Gadhafi không bao giờ biết khi nào phải ra đi, lần lượt nắm giữ quyền trong 23, 30, và 41 năm. Kể từ sau Mao Trạch Đông, cấp lãnh đạo Trung Quốc triệt để tôn trọng nhiệm kỳ khoảng 10 năm. Ông Hồ Cẩm Đào, Chủ Tịch Nhà Nước hiện nay, theo lịch trình sẽ dời khỏi chức vụ vào năm 2012, khi đó ông sẽ được thay thế bởi Phó Chủ Tịch Tập Cận Bình (Xi Jinping). Thay đổi cấp lãnh đạo có nghĩa là có nhiều đổi mới về chính sách hơn, khác hẳn với những nước như Tunisia và Ai Cập, bị mắc kẹt trong chế độ tư bản bè phái trong nhiều thập niên.

Chính quyền Trung Quốc cũng rất khôn ngoan và tàn nhẫn trong cách đàn áp. Khi cảm thấy một mối đe dọa rõ rệt, ngay từ đầu những nhà cầm quyền không bao giờ để cho các cơ quan ngôn luận Tây phương loan tin. Facebook và Twitter bị cấm, và nội dung của những mạng Internet và những hệ thống thông tin xã hội bị gạn lọc bởi cả một đội quân kiểm duyệt. Dĩ nhiên có những chuyện xấu xa của chính quyền lọt ra ngoài rồi mới bị khám phá và loại bỏ bởi viên chức kiểm duyệt, nhưng trò chơi mèo rình chuột này làm cho một hệ thống thông tin xã hội khó có thể thành hình.

Một điểm khác biệt quan trọng sau chót giữa Trung Quốc và Trung Đông liên quan đến bản chất của quân đội. Số phận của những chế độ độc tài phải đối phó với những cuộc chống đối của dân chúng sau cùng lệ thuộc vào sự cấu kết và trung thành của những cơ quan quân sự, cảnh sát và tình báo. Quân đội của Tunisia không ủng hộ ông Ben Ali từ lúc đầu; sau một thời gian tầm phào, quân đội Ai Cập quyết định không bắn vào những người biểu tình và đẩy ông Mubarak ra khỏi chức vụTổng Thống.

Tại Trung Quốc, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân là một tổ chức lớn lao và ngày càng tự trị, với nhiều quyền lợi mạnh mẽ về kinh tế và do đó quân đội có thế đứng trong tình trạng hiện nay. Như trong cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào năm 1989, quân đội có nhiều đơn vị trung thành ở khắp nơi trong nước, có thể được đem vào Bắc Kinh hoặc Thượng Hải, và những đơn vị này không ngần ngại bắn vào những người biểu tình. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân cũng tự coi mình như như người bảo vệ chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc. Trong tập sách tường thuật lịch sử của thế kỷ 20, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đã tự đặt mình vào trung tâm của những biến cố như đánh bại Nhật trong chiến tranh Thái Bình Dương và sự lớn mạnh của Trung Quốc hiện đại. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân rất khó có thể thay đổi vị trí để ủng hộ một cuộc nổi dậy dân chủ.

Kết quả sau cùng là Trung Quốc sẽ không lây bệnh truyền nhiễm của Trung Đông một ngày gần đây. Nhưng Trung Quốc có thể dễ dàng phải đối phó với những vấn đề trong tương lai. Trung Quốc chưa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn hoặc tình trạng kinh tế suy giảm kể từ khi có cuộc cải tổ vào năm 1978. Nếu quả bong bóng của khu vực tài sản ở Trung Quốc tan vỡ, hàng chục triệu người sẽ mất việc, tính cách chính thống của chính quyền dựa vào việc quản trị quản trị kinh tế sẽ bị suy giảm một cách nghiêm trọng.

Hơn nữa, kịch bản của ông Huntington về sự vươn lên của giai cấp trung lưu nhưng kỳ vọng của họ không được thỏa mãn, vẫn có thể xẩy ra trọn vẹn. Mặc dầu có sự thiếu thốn nhân công với kỹ năng thấp tại Trung Quốc hiện nay, lớp người tốc nghiệp đại học lại dư thừa. Từ nay trở về sau mỗi năm Trung Quốc đào tạo bẩy triệu sinh viên tốt nghiệp đại học, so với chưa tới một triệu vào 1998, và nhiều người khó khăn kiếm được việc làm phù hợp với địa vị của mình. Đối với một chế độ đang hiện đại hóa, vài triệu sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng thất nghiệp nguy hiểm hơn hàng trăm triệu nông dân nghèo khổ.

Những người dân Trung Quốc còn nói đến một vấn đề mà họ gọi là "hoàng đế tồi tệ". Những thành tích lịch sử của Trung Quốc qua nhiều thế kỷ là việc sáng tạo ra một chánh quyền tập trung. Khi những nhà lãnh đạo độc tài có khả năng và có trách nhiệm, sự việc có thể tiến triển tốt đẹp. Thật vậy, một tiến trình quyết định như vậy thường là có hiệu quả hơn là trong một chế độ dân chủ. Nhưng không có sự bảo đảm rằng chế độ [độc tài] luôn luôn sản xuất ra những nhà lãnh đạo tốt, và trong trường hợp không phải là chế độ pháp quyền (rule of law) và không có cách kiểm tra quyền hành pháp, không có cách nào để loại trừ vị hoàng đế tồi tệ cả. Vị hoàng đế tồi tệ cuối cùng, thường (nói một cách yên lặng) được công nhận là Mao Trạch Đông. Chúng ta không thể biết một tên bạo chúa hoặc kẻ tham nhũng biển thủ công quỹ là ai trong tương lai của Trung Quốc.

Sự thật là chúng ta rất muốn xây dựng một lý thuyết về những nguyên nhân của cuộc cách mạng xã hội, nhưng xã hội loài người rất là phức tạp và thay đổi nhanh chóng để có thể có được một lý thuyết hướng dẫn đơn giản và đáng tin cậy. Một số quan sát viên đã không tin vào sức mạnh của "đường phố Ả Rập" có thể đem lại thay đổi chính trị, căn cứ vào sự hiểu biết sâu sa của họ về Trung Đông, và mỗi năm họ đều đúng cả - cho đến 2011.

Điều khó nhất để tiên đoán đối với bất cứ một quan sát viên chính trị nào là yếu tố đạo đức. Tất cả những cuộc cách mạng xã hội đều được khích động bởi sự tức giận tột độ vì sự súc phạm đến phẩm giá, một sự tức giận đôi khi được kết tinh bởi một biến cố đơn thuần hay một hình ảnh. Nó có thể huy động những cá nhân trước đây rời rạc và nối kết họ thành một cộng đồng. Chúng ta có thể trích dẫn những con số thống kê về giáo dục, việc làm, và tìm tòi về lịch sử và văn hóa của một xã hội, tuy nhiên chúng ta hoàn toàn không thấy ý thức xã hội tiến hóa nhanh chóng qua hàng ngàn tin nhắn, đoạn phim video hoặc những cuộc chuyện trò đơn giản.

Đối với Trung Quốc, đạo đức chủ yếu không thể đo lường được là giai cấp trung lưu. Cho đến nay, giai cấp này xem ra bằng lòng hi sinh tự do chính trị để đổi lấy lợi tức cao và sự ổn định. Nhưng ở một thời điểm nào đó, sự đổi trác này sẽ rất có thể thất bại; chế độ sẽ tự nhận thấy không thể đem lại thành quả mong muốn, hoặc sự súc phạm đến phẩm giá của người dân Trung Quốc quá lớn để có thể tha thứ. Chúng ta không nên có tham vọng rằng chúng ta có thể tiên đoán được thời điểm đảo lộn đó khi nào sẽ xẩy ra, nhưng, như ông Samuel Huntington đề nghị, ngày đó sẽ được qui định bởi lý lẽ của chính việc đổi mới.


Francis Fukuyama,
Nguồn: Wall Street Journal
Nguyễn Quốc Khải dịch


http://bit.ly/hattWr



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


21 March 2011

Vì Một Nền Giáo Dục Trung Thực, Lành Mạnh Và Hiện Đại

Vì Một Nền Giáo Dục Trung Thực, Lành Mạnh Và Hiện Đại

          
                            (Diễn từ tại buổi lễ trao giải thưởng Văn hoá Phan Châu Trinh, 2011)

                                                                                                                       GS Hoàng Tụy 



Thì thầm: GS Hoàng Tụy và TS Lê Đăng Doanh (trái)


Thật là vinh dự lớn cho một người làm khoa học bình thường như tôi được nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh cao quý. Vinh dự lớn trước hết vì giải thưởng gắn liền với tên tuổi một nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc, một sĩ phu thuộc lớp cựu học nhưng đã thoát ra khỏi những quan niệm giáo dục phong kiến cổ hủ đương thời, khởi xướng đường lối canh tân văn hoá, giáo dục để cứu nước: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Vinh dự lớn còn là không phải giải thưởng hay huân chương trong hệ thống hành chính Nhà Nước mà là giải thưởng được trao cho bởi một tổ chức xã hội dân sự, với ý nghĩa cao quý thúc đẩy sự nghiệp văn hoá giáo dục của nước nhà theo tinh thần khai sáng của nhà ái quốc vĩ đại.

Làm khoa học ở một đất nước nghèo khó tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo trung học rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tich cũng ngày càng đa dạng. Được may mắn (chứ không phải rủi ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường đại học khoáng đạt hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới nên tôi thường có dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Hồi còn anh Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại Học tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và trình bày về tư duy hệ thống trong các xêmina giáo dục do anh ấy chủ trì. Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế xã hội ngay từ những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó cho nên ít nhiều cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự vật chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.

Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất.

Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém tụt hậu như hiện nay thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7-8%, thậm chí 10% năm chăng nữa đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ. Muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu mà để giáo dục yếu kém thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: thắng trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây ông đại sứ Hoa Kỳ sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một điều mà từ nhiều năm rồi ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng thì mới cầu tới Bụt ngoài.

Cho nên dù nhiều người đã nói nhiều lần rồi tôi cũng xin nhắc lại lần nữa: chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển hiện nay của xã hội ta là giáo dục. Giáo dục và giáo dục, không có gì quan trọng hơn. Và vì vậy cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện và triệt để là mệnh lệnh cuộc sống. Càng chần chừ, càng trì hoãn càng trả giá đắt, và không loại trừ đến một lúc nào đó sẽ là quá trễ như đã từng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới.

Đó là nội dung thiết yếu hai bản kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung Ương Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ năm 2004 và năm 2009 (bản Kiến nghị 2004 đã được phổ biến rộng rãi, còn bản Kiến nghị 2009 chưa được nhiều người biết do bị hạn chế phổ biến).

Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15 năm từng có nghị quyết lịch sử của Hội Nghị TƯ II, khoá 8, xem phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng mười năm sau đó, Thủ Tướng Chính Phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại Hội X và ba Hội Nghị TƯ sau đó đều nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài mấy thập kỷ. Đặc biệt sau những lời hứa hoa mỹ của ông tân Bộ Trưởng GD và ĐT năm 2006, nhiều người trong đó có tôi đã đặt niềm tin ngây thơ vào triển vọng công cuộc chấn hưng giáo dục có thể bắt đầu chuyển động. Tiếc thay, hy vọng chưa kịp nhen nhóm thì thất vọng đã mau chóng đến, lần này lo lắng nhiều hơn vì chưa bao giờ giáo dục chạy theo thành tích dễ dãi được quảng cáo ầm ĩ thiếu trung thực lại ngốn nhiều công sức, tiền của mà hiệu quả thấp như 5 năm qua.

May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã tạo một cú hích, it nhất về nhận thức. Sau một thời gian ngắn được ngộ nhận là thành tich đặc biệt của giáo dục, sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của chúng ta. Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã được nghe Thủ Tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ Tướng, y như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát nước chè tươi.

Sau tuyên bố của Thủ Tướng, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra khỏi bế tắc, trì trệ. Trong một buổi làm việc hơn hai giờ vào khoảng giữa tháng 11, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ Trưởng GD và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ. Trước hết hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn GS, PGS, xây dựng đại học đăng cấp quốc tế, v.v.

Tuy nhiên cho đến giờ phút này, nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ Tướng tình hình vẫn im ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân phong kiến hay sao ? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già nua cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi. Đến hẹn lại lên, cả nước lại chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi năm hàng chục vạn học sinh sau 12 năm đèn sách bị ném bơ vơ ra đời, không nghề nghiệp mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên sau 3,4 năm đại học vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp.

Tại sao thanh thiếu niên ta phải chịu thiệt thòi lớn như vây ? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất nước mà giáo dục đến nông nỗi này ?

Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng "cái gì tiền không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được" -- một đất nước như thế thì giáo dục tụt hậu là tất yếu. Suy cho cùng sự nghiệp chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại. Chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích ư ? thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích. Còn mua bằng, bán điểm, chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng đầu, bằng vốn tự có, hay gì gì đó thì đố ai biết qui mô đến đâu. Có điều chắc chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và kèm theo đó, bạo lực học đường chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn, có nguy cở trở thành một nét văn hoá tiêu biểu của xã hội ta hiện nay.

Giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, "đổi mới" liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công sức tiền của mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí, thường xuyên trục trặc. Trong một thế giới biến chuyển cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức nhối kéo dài hết năm nầy qua năm khác.

Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần tự do, sáng tạo hơn ở đây. Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức tính cơ bản ấy tất nhiên sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như vừa qua không những không có tác dụng mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.

Không đi sâu vào những việc quản lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải công nhận chất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào chi tiết vụn vặt không thực chất.

Thứ nhất là chuyện học và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác. Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời trung cổ ở Châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại trong khi Phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã sớm thế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu cho nhà trường Việt Nam để bước vào kinh tế tri thức thời nay.

Thứ hai là chuyện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hàng năm có hàng chục vạn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu "nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội", và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán, ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất it trung cấp kỹ thuật. Cơ cấu đào tạo khiến trong nước rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận xét: chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá nhưng ngay một chiếc đinh vít cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian. Rôt cục chỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công nghiệp hiện đại. Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật đã khuyến cáo: vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ. Cho nên có nhìn rộng ra cả nền kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: sau trung học cơ sở phần lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo hướng không phân ban cứng nhắc mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện nang cao chất lượng đại học . Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh cửa chật hẹp của đại học hiện nay.

Thứ ba là xây dựng đại học. Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học. Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tich phô trương cộng với tính vô trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.

Thứ tư và cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như trong mấy chục năm nay. Khi nói điều này không phải tôi không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi nghĩ số đó vẫn là số ít, số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế này đó thật sự là kỳ công.

Song cái gì cũng có giới hạn, kể cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ, để cho cái lá nho cuối cùng cũng không giữ nổi thì sẽ mất hết, chẳng còn gì để bàn về giáo dục, văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý mới làm tôt được nhiệm vụ. Vậy nên giải quyết cái u nầy là điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc sách hàng đầu. Tuy nhiên cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không minh bạch đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy hiểm.

Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ.

Và một lần nữa xin trân trọng cám ơn Quỹ Văn Hoá Phan Châu Trinh.


Hoàng Tụy


http://bit.ly/ezJuFp



Con Dân Nước Việt là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.