25 October 2011

THƯ NGỎ gửi Ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam về việc Thỏa thuận Việt – Trung giải quyết vấn đề trên biển



PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất BP 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) Tel.: Paris (1) 45 98 30 85<br> Fax : Paris (1) 45 98 32 61 E-mail : pttpgqt@gmail.comPHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com                    


Thư Ngỏ của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ gửi ông Nguyễn Phú Trọng,
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam về việc Trung quốc xâm chiếm Biển Đông và các Đảo của Việt Nam 



2011-10-24 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 24.10.2011 (PTTPGQT) - Ngày thứ sáu, 21.10 vừa qua, từ Saigon Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhân danh Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), viết Thư Ngỏ gửi ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, về việc Biển và Đảo Việt Nam bị Trung quốc xâm lấn. Thế nhưng chuyến đi Bắc Kinh hôm 11.10.2011 để ký kết các thỏa ước Việt Trung không thấy ông Nguyễn Phú Trọng phản đối hay đề cập, ngoài bản "Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên Biển" rất nguyên tắc và chung chung theo tinh thần đã lạc hậu về cái gọi là 16 Chữ Vàng và 4 Tốt.

Thư được gửi bảo đảm có hồi báo qua đường bưu điện. Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin đăng nguyên văn Thư Ngỏ ấy dưới đây :


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Sài gòn
Phật lịch 2555
Số : 04/VHĐ/VT


THƯ NGỎ
gửi Ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
về việc Thỏa thuận Việt – Trung giải quyết vấn đề trên biển


Kính gửi Ông Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
1A Hùng Vương
Hà Nội

Saigon ngày 21 tháng 10 năm 2011


Thưa Ông Tổng Bí thư,

Việt Nam không là nước dân chủ, nên Đảng cầm quyền, thường lấn quyền Nhà nước, nên bức thư hôm nay tôi viết gửi đến ông Tổng Bí thư về mối lo âu đánh mất chủ quyền của toàn dân Việt Nam. Nhất là sự kiện gần đây ông Tổng Bí thư vừa ký kết tại Bắc Kinh sáu điểm "Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên Biển" giữa hai nước Việt Trung.

Toàn thể nhân dân muốn biết ông Tổng Bí thư đề cập nguy cơ mất biển, đảo tại Bắc Kinh nhằm giải quyết các vấn đề Trung quốc xâm lấn lãnh hải Việt Nam bằng đường Lưỡi bò chín đoạn, bằng sự xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, bằng việc tàu hải giám Trung quốc cắt dây cáp hai tàu Bình Minh và Viking của Việt Nam, cũng như việc bắt bớ, đánh giết ngư dân Việt trên Biển Đông. Những việc khiến hàng nghìn thanh niên, sinh, viên, học sinh, nhân sĩ, trí thức xuống đường phản đối từ ba tháng qua tại Saigon và Hà Nội. Đi từ những cuộc biểu dương rầm rộ với biểu ngữ và tiếng thét cho đến những cuộc Biểu tình Câm.

Nhưng không.

Sáu điểm trong bản thỏa thuận chỉ nhắc nói những nguyên tắc ứng xử chung chung về vấn đề biên giới lãnh thổ mà hai bên đồng ý từ năm 1993. Từ đó đến nay, mười tám năm qua, Trung quốc đã vung tay quá trán biết bao lần nhằm uy hiếp và lấn chiếm chủ quyền Việt Nam trên biển. Việc trở thành nguy cơ khiến các nước trong vùng đồng loạt lên tiếng phản đối như Phi Luật Tân, Mã Lai… và mười quốc gia Đông Nam Á, tức ASEAN, phải họp nhau tại Bali ở Nam Dương hôm 19 đến 23.7.2011 tìm những quy tắc ứng xử. 

Cùng ngày ông Tổng bí thư ký kết thỏa ước nói trên, Hải quân Trung Quốc loan báo vừa thiết lập một trạm xá quân y tại đảo Đá Chữ Thập mà Trung quốc gọi là đảo Vĩnh Thử. Nơi xảy ra cuộc hải chiến Trường Sa năm 1988, nơi quân Trung quốc bắn chết 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Thế mà không thấy một lời lên tiếng phản đối của người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam !

Ngày xưa qua các thời đại, tổ tiên ta tuy "triều cống" Thiên triều, nhưng đấy là kế sách ngoại giao khôn khéo nhằm giữ vững chủ quyền dân tộc. Ngày nay, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên đất nước ông Mao, chỉ thấy sự qùy lạy và tuân phục lệnh của Bắc Kinh. Điển hình là Hội nghị Liễu Châu do ông Hồ Chí Minh cầm đầu năm 1954 đưa tới sự cắt đôi nước Việt tại Hội nghị Genève theo lệnh ông Chu Ân Lai, rồi Hội nghị Thành Đô tháng 9 măm 1990 do ông Phạm Văn Đồng và ông Võ Nguyên Giáp cầm đầu, một lần nữa làm công việc nhận lệnh ông Lý Bằng để thi hành hơn là bênh vực cho quyền lợi đất nước.

Dù Đảng cầm đầu và lạm quyền Nhà nước, nhưng vấn đề chủ quyền đất nước trên Đất trên Biển cần minh bạch, vì chủ quyền dân tộc là của toàn dân không phân biệt đảng phái, tôn giáo. Tiền nhân nước ta, từ cuộc chiến đấu vệ quốc của Hai Bà Trưng vốn đã có sự tham chiến của nhiều nữ tướng và quân sĩ Phật giáo, mãi đến các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê… không ngừng chống xâm lược, khi bằng đường lối ngoại giao, lúc bằng phản ứng quân sự. Nhưng chưa bao giờ dùng công hàm, dùng thỏa thuận ký kết mà hậu quả đưa tới là bán biển, bán đảo, bán đất cho Trung quốc như các trường hợp xẩy ra dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chúng tôi yêu cầu ông Tổng Bí thư minh bạch hóa cho nhân dân được biết chuyến đi thương thảo với Bắc Kinh vừa qua trên phương diện chủ quyền dân tộc. Ông Tổng Bí thư đã giữ đất, giữ biển nước Việt như thế nào ? Nói rõ, là vận mệnh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như thế nào ? đường Lưỡi bò chín đoạn có là cây chổi của Bắc Kinh đang quét hết nước Biển Đông, hơn hai triệu cây số vuông, lùa vào bốn biển của Trung quốc ? Số phận ngư dân Việt Nam sẽ được bảo vệ như thế nào ?

Dân có biết dân mới lo liệu để tìm kế sách bảo vệ quê hương.

Chúng tôi đã biết trước câu trả lời của ông Tổng Bí thư nằm trong tiêu đề bản thỏa thuận dài dòng "Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên Biển". Nghĩa là nhận lệnh của đàn anh Cộng sản Trung quốc để "gác tranh chấp, cùng chung khai thác" Biển Đôngtheo phương châm 16/4 (Mười sáu chữ vàng và Bốn tốt) ; lấy "đại cục" và "xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục" của quốc tế Cộng sản để gặm nhắm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam ?

Nhân dân cần biết những hành xử xâm lấn biển đảo của Trung quốc, phản bội năm điều mà Trung quốc đã ký kết với các nước ASEAN tại Nam Vang năm 2002 qua "Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông" (DOC, Declaration of Conduct), và 8 điều trong "Bộ Quy tắc hướng dẫn thực thi DOC"(COC, Code of Conduct) mà Trung quốc ký kết với các nước ASEAN tại hội nghị Bali ở Nam Dương từ ngày 19 đến 23.7.2011.

Nhân dân cần biết và đòi hỏi ông Tổng Bí thư minh bạch hóa, là vì không hề thấy chính sách của Đảng và Nhà nước CHXHCNVN được thể hiện qua đường lối ngoại giao và pháp lý quốc tế để bảo vệ chủ quyền dân tộc trên đất, trên biển. Ví dụ như :

- Chưa hề nghe Đảng và Nhà nước đưa sự vụ trầm trọng Việt Nam mất biển mất đảo ra LHQ chiếu theo Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982.

- Chưa hề nghe Đảng và Nhà nước tuyên bố hay kêu gọi sự đối thoại đa phương để giải quyết vấn đề Biển Đông, trái lại Thỏa thuận Bắc Kinh lấy tiền đề thương thảo song phương làm chủ yếu. Tranh chấp Biển Đông gồm các nước quanh vùng Địa Trung hải Á châu, là các quốc gia Brunei, Đài Loan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật tân, Trung quốc, Việt Nam, thì không thể nào thương thảo song phương mà thành tựu.

- Chưa hề nghe Việt Nam có nỗ lực kết hợp với các nước ASEAN làm đối trọng xâm lăng của Trung quốc.

Trong khi đó giải quyết vấn đề lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, Trung quốc kế thừa sách lược bành trướng Đại Hán của ông Đặng Tiểu Bình là "Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác" Biển Đông. Tức lấy việc gom tóm toàn bộ Biển Đông làm chủ quyền Trung quốc như một thực tại không ai được phản đối, Việt Nam chỉ được quyền "gác tranh chấp, cùng khai thác"mà thôi.

Trong khi ấy, Trung quốc đã hình thành "Liên Minh Thu Phục Lãnh Thổ" với âm mưu và kế hoạch "Xây dựng Trường thành trên biển và tăng cường lực lượng quân sự trở thành vô địch trên Nam Hải". Hậu quả là gì nếu không phải chiếm trọn Biển Đông và tất cả mọi quần đảo trên Biển Đông ? Mục tiêu của Liên Minh này là vẽ lại bản đồ Trung quốc theo hình chữ Y, chứ không phải hình con gà trống hiện nay.

Thưa Ông Tổng Bí thư,

Trước mưu đồ và tham vọng bành trướng nước lớn của Trung quốc, Đảng và Nhà nước CHXHCNVN làm gì ? Có kế sách gì để giữ Nước ?

Đảng và Nhà nước CHXHCNVN không thể thở mãi bằng lỗ mũi Trung quốc. Muốn thế, Đảng và Nhà nước cần chuyển hóa ôn hòa sang chế độ dân chủ đa nguyên để đất nước có thể thở bằng lỗ mũi của gần 90 triệu dân Việt.

Nhưng trước tiên, xin ông Tổng Bí thư và Nhà nước CHXHCNVN hãy minh bạch hóa các thỏa thuận với Bắc Kinh trong vấn đề chủ quyền dân tộc để toàn dân, trong có Giáo hội chúng tôi, được rõ mà lo liệu.

Trân trọng.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 21.10.2011
Viện trưởng Viện Hóa Đạo
kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
(Ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

20 October 2011

Dân số người Việt ở Mỹ

Dân số người Việt ở Mỹ

Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010, thì dân số Việt Nam ở Hoa Kỳ là 1.548.449 người.
 

The Vietnamese Population in the United States: 1,548,449

Top 10 States with Largest Vietnamese Population:
1) California: 581,946
2) Texas: 210,913
3) Washington: 66,575

4) Florida: 58,470
5) Virginia: 53,529
6) Georgia: 45,263
7) Massachusetts: 42,915
8) Pennsylvania: 39,008
9) New York: 28,764
10) Louisiana: 28,352

Top 10 U.S. Metropolitan Areas with Largest Vietnamese Population:
1) Los Angeles - Long Beach - Santa Ana, CA:  271,234
2) San Jose - Sunnyvale - Santa Clara, CA: 125,774
3) Houston - Sugar Land - Baytown, TX: 103,525

4) Dallas - Fort Worth - Arlington, TX: 71,839
5) Washington - Arlington - Alexandria, DC-VA-MD: 58,767
6) San Francisco - Oakland - Fremont, CA: 55,636
7) Seattle - Tacoma - Bellevue, WA: 55,114
8) San Diego - Carlsbad - San Marcos, CA: 44,202
9) Atlanta - Sandy Springs - Marietta, GA: 36,554
10) Boston - Cambridge - Quincy, MA-NH: 32,353

Top 10 Cities with Largest Vietnamese Population:
1) San Jose city, California: 100,486
2) Garden Grove city, California: 47,331
3) Westminster city, California: 36,058

4) Houston city, Texas: 34,838
5) San Diego city, California: 33,149
6) Santa Ana city, California: 23,167
7) Los Angeles city, California: 19,969
8) Anaheim city, California: 14,706
9) Philadelphia city, Pennsylvania: 14,431
10) New York city, New York: 13,387

Source: U.S. Census Bureau, 2010 Census

Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010 vừa được công bố, dân số người Việt ở Hoa Kỳ đã tăng 38% (thêm 425,921 đầu người) trong thập niên 2000-2010.

Số người Việt hiện ở Hoa Kỳ hiện nay là 1,548,449, so với 1,122,528 năm 2000, 614,547 năm 1990, và 261,729 năm 1980. Vào thời điểm của cuộc kiểm tra dân số năm 1970 thì chưa có cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, dân số người Việt ở mọi tiểu bang đều gia tăng, ngoại trừ thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì giảm sút 18% -- vì đời sống mắc mỏ, nhiều người Việt đã phải di dời sang tiểu bang Virginia và Maryland.

Vào thời điểm năm 2010 gần ¾ dân số Việt tập trung trong mười tiểu bang: California (37.58%), Texas (13.62%), Washington (4.30%), Florida (3.78%), Virginia (3.46%), Georgia (2.92%), Massachusetts (2.77%), Pennsylvania (2.52%), New York (1.86%), và Louisiana (1.83%).

Khu vực đông dân Việt Nam nhất vẫn là vùng Los Angeles – Long Beach – Santa Ana (271,234 người). Đông thứ hai là vùng San Jose – Sunnyvale – Santa Clara (125,774). Hạng 3 -5 gồm có: Houston – Sugar Land – Baytown (103,525), Dallas – Fort Worth – Arlington (71,839), và Washington DC – Arlington – Alexandira với (58,767).

Thành phố đông dân Việt nhất là San Jose (100,486). Kế đến là Garden Grove (47,331). Tiếp theo là Westminster (36,058), Houston (34, 838) và San Diego (33,149).

Tuy nhiên, nói về tỉ lệ người Việt so với tổng số dân thì thị trấn Midway, CA đứng đầu (41.4%); tiếp theo là Westminster, CA (40.2%); Garden Grove, CA (27.7%); Fountain Valley, CA (20.7%); Morrow City, GA (20.3%).

Tuỳ theo lăng kính nhìn, những con số trên đây có thể gợi nhiều câu hỏi để chúng ta suy tư. Chẳng hạn, liệu các tổ chức cộng đồng ở mỗi địa phương có phát triển dịch vụ xã hội để đáp ứng nhu cầu của sự gia tăng dân số quá nhanh? Liệu nền kinh tế cộng đồng có phát triển lành mạnh đủ để gánh vác số nhân khẩu gia tăng trong khu vực? Liệu cộng đồng có kế hoạch để giúp người tị nạn và di dân mới trở thành công dân và ghi danh cử tri? Liệu cộng đồng có kế hoạch gì để chăm lo cho số người Việt bước vào tuổi xế chiều ngày càng đông? Liệu cộng đồng có dự tính gì để đưa người vào các guồng máy lập pháp và hành chính ở địa phương? Và nhiều nữa.

Tôi cũng đã nghe có người nhận định rằng cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ không có vấn đề gì phải quan tâm vì phần lớn người Việt đều đỗ đạt, thành công. Nghĩ vậy là một ngộ nhận lớn. Cuộc thăm dò năm 2009 của Sở Thống Kê Dân Số phản bác nhiều ngộ nhận như vậy. Dưới đây là một vài ví dụ:

Người Việt 25 tuổi trở lên: 30.4% chưa hoàn tất trung học (so với 14.7% cho người Mỹ nói chung) và chỉ có 6.6% là học trên đại học (so với 10.3% cho người Mỹ nói chung). Đa số các cộng đồng Á Châu khác thua xa chúng ta về học lực.

Người Việt trên 65 tuổi: 40.4% bị khiếm dụng (disability) so với 37.4% cho người Mỹ nói chung.

Người Việt không sinh ở Hoa Kỳ: 50% chưa có quốc tịch.

Người Việt trên 50 tuổi: 55% gặp trở ngại về Anh ngữ. Nếu chỉ tính những người lớn thì tỉ lệ bị trở ngại ngôn ngữ tăng cao hơn nhiều.

Gia đình người Việt: 19.6% không có bảo hiểm sức khoẻ so với 15.1% cho người Mỹ nói chúng; 13.7% nằm trong diện nghèo khó so với 10.5% cho người Mỹ nói chung.

Thiếu dữ kiện về chính mình thì khó tránh được sự ngộ nhận. Và khi không biết thì cũng chẳng quan tâm. Thiếu sự quan tâm thì không có hành động để đối phó. Đó là tình trạng đáng lo của cộng đồng Việt sau 36 năm ở Hoa Kỳ. Trong binh thư, biết người biết ta là yếu tố tiên quyết để thành công. Chúng ta cần biết về chính mình.

Trong bước đầu của nỗ lực này, chúng tôi hợp tác với Phòng Kiểm Tra Dân Số để phổ biến những thông tin quý báu mà họ cung cấp thật rộng rãi trong cộng đồng người Việt-/-

19 October 2011

BÀI SỐ 4: NGHỊ QUYẾT 36 và NHỮNG HỆ LỤY HÌNH SỰ

BÀI SỐ 4
       NGHỊ QUYẾT 36 và NHỮNG HỆ LỤY HÌNH SỰ
 
                                                                                                          Ðỗ Thái Nhiên
I-MỞ ÐỀ
"Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm". Ðó là "câu nói để đời" của ông Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống Ðệ Nhị Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam. Lời phát biểu kia có nghĩa là Cộng Sản nói một đường, làm một nẻo. Cộng Sản nói đen tức là trắng, nói đàm tức là đánh, nói yêu tức là ghét. Muốn hiểu lời lẽ của Cộng Sản, chúng ta cần hiểu ngược lại những gì họ đã nói. Ðọc nghị quyết 36, người đọc ghi nhận bộ Chính Trị của đảng CSVN đã bốn lần nhấn mạnh lời kêu gọi người Việt hải ngọai hãy tôn trọng luật pháp của các quốc gia sở tại (xin xem nghị quyết 36, phần II, đoạn 2 và 3; phần III, đoạn 4). Tại sao Bộ Chính Trị CSVN lại phải ân cần đưa ra lời kêu gọi như vậy đến bốn lần trong một nghị quyết? Theo định tắc hiểu ngược vừa nêu, điều đó hàm ý rằng: trong quá trình biến nghị quyết 36 thành hành động cụ thể, những người Việt hải ngoại bằng lòng hợp tác với CS sẽ bị CS dẫn dụ đi vào con đường vi phạm luật pháp của quốc gia sở tại. Con đường phạm pháp đó chạy ngoằn ngoèo theo những địa đạo nào? Con đường phạm pháp đó có bao nhiêu hầm chông? mìn bẫy? Muốn trả lời các câu hỏi vừa nêu một cách chính xác, chúng ta cần phải chọn lựa khung cảnh pháp lý cụ thể của một quốc gia có cộng đồng người Việt định cư. Bài viết này xin chọn mối quan hệ giữa luật pháp và người Việt nhập cư  tại Hoa Kỳ làm đối tượng trọng yếu cho cuộc khảo sát.
II-VÀO ÐỀ
Trên bình diện nghĩa vụ pháp lý, mỗi người có hai nghĩa vụ căn bản: tôn trọng luật pháp quốc gia và tôn trọng những khế ước mà cá nhân đã ký kết với người khác, tập thể khác. Căn cứ vào hai nghĩa vụ vừa kể, chúng ta hãy xét xem khi một người Việt tạiMỹ hợp tác với CSVN đúng theo lời kêu gọi của nghị quyết 36 thì đương sự sẽ nhận lãnh những hậu quả pháp lý nào?
 
A-Nghĩa vụ tôn trọng khế ước:
Muốn trở thành công dân Hoa Kỳ, mỗi ứng viên phải đích thân điền vào mẫu đơn N-400. Ðặc biệt tại phần 10, khoản B, đương đơn phải thành thực trả lời "có" hay "không" các câu hỏi sau đây:
            */Câu 9: bạn có đang hay đã từng là đảng viên hay liên hệ dưới bất cứ hình thức nào (trực tiếp hay gián tiếp) với:
a/. Ðảng Cộng Sản
b/. Bất kỳ đảng độc tài nào khác?
c/. Một tổ chức khủng bố?
             */ Câu 10: Bạn có đang hay đã từng ủng hộ, bênh vực (gián tiếp hay trực tiếp) sự lật đổ chánh phủ bằng vũ lực hay bạo động?
            */ Câu 11: bạn có đang hay đã từng hành hạ (trực tiếp hay gián tiếp) một người nào đó vì lý do chủng tộc, tôn giáo, cội nguồn quốc gia, thành viên của một hội đoàn xã hội hay vì lý do quan điểm chính trị? (Xin xem nguyên bản bằng Anh ngữ: US Department of Justice – Application for Naturalization – form N-400 (Rev 07/23/02) N page 7)
Mặt khác, sau khi thi đậu quốc tịch, ứng viên sẽ nhận được giấy gọi đi tuyên thệ quốc tịch, (form N- 455A, Notice of Final Naturalization Hearing) Trên giấy gọi này, ứng viên sẽ phải trả lời một số câuhỏi có nội dung tương tự như các câu hỏi số 9, 10, 11 của Form N-400. Tuy nhiên giấy gọi N- 455A nhấn mạnh: các câu hỏi kia chỉ muốn biết có điều gì thay đổi hay không kể từ ngày ứng viên nộp đơn xin nhập tịch cho đến ngày ứng viên đi tuyên thệ.
Cả hai mẫu đơn N- 400 và N- 455A đều yêu cầu ứng viên xin nhập tịch phải xác nhận mối liên hệ, nếu có, giữa ứng viên với đảng Cộng Sản, các tổ chức độc tài chuyên chế, các đơn vị khủng bố. Sự thể này chứng tỏ một cách mạnh mẽ rằng Hoa Kỳ tuyệt đối không muốn ban cấp quốc tịch Mỹ cho những người có liên hệ dưới bất cứ dạng thức nào với các tổ chức vừa nêu. Vì vậy, một cách thông thường, để cho thủ tục nhập tịch được trôi chẩy, các ứng viên quốc tịch đều trả lời "không" đối với các câu hỏi 9, 10, 11 của N- 400 và các câu hỏi tương tự của N- 455A. Bây giờ mang những chữ "không" vừa nêu so chiếu với hành động của vài người Việt quốc tịch Mỹ đang hăng hái chấp hành nghị quyết 36, chúng ta thấy một cuộc xoay chiều 180 độ. Có lẽ do mải mê xoay chiều, các người Mỹ gốc Việt kia đã quên đi một số nguyên tắc quan trọng của luật pháp dân chủ.
            -Họ quên rằng N- 400 và N- 455A là hai khế ước họ đã tự nguyện ký kết với chánh phủ Mỹ để đổi lấy sự việc họ được ban cấp quốc tịch Hoa Kỳ.
            -Họ quên rằng mỗi công dân có hai nghĩa vụ pháp lý căn bản. Một là tôn trọng pháp luật quốc gia. Hai là tôn trọng những khế ước mà một cá nhân đã ký kết với cá nhân hay tập thể khác, tập thể công cũng như tập thể tư. Khế ước chính là luật pháp đối với những người đã ký kết.
            -Họ quên rằng: quyền tự do tư tưởng là một trong những quyền tự do thuộc hàng tối thượng tại Hoa Kỳ. Thế nhưng chiếu theo các khế ước N- 400 và N- 455A, tự do tư tưởng không có nghĩa là tự do theo Cộng Sản, tự do hỗ trợ cho một chế độ độc tài toàn trị, tự do chà đạp tín ngưỡng của người khác, tự do bao che những ổ khủng bố...
Ðời sống của mỗi người là một cuộc trả giá bất tận, trả giá cơm, trả giá nhà... Ký khế ước nhập tịch Mỹ để rồi xoay chiều 180 độ chạy theo nghị quyết 36, xoay chiều như vậy giá là bao nhiêu? câu trả lời xin đặt ở phần cuối của bài viết này.
 
B-Nghĩa vụ tôn trọng luật pháp quốc gia.
Bên cạnh nghĩa vụ tôn trọng khế ước quốc tịch, người Việt mang quốc tịch Mỹ còn có nghĩa vụ, cùng với những người không có quốc tịch Hoa Kỳ sinh sống trên lãnh thổ Hợp Chủng Quốc,tôn trọng luật pháp Hoa Kỳ. Phương cách tôn trọng luật pháp một cách tích cực và hữu hiệu nhất chính là nỗ lực phân tích, xác định và xa lánh mọi ngõ ngách dẫn đến hành động phạm pháp. Bằng vào những ngõ ngách nào nghị quyết 36 sẽ biến một người vốn là công dân lương hảo trở thành kẻ phạm pháp? Sau đây là ba ngõ ngách chủ yếu:
            *-/Ngõ ngách một: cuộc hội ngộ với các tổ chức Hồi Giáo khủng bố.
Biến nghị quyết 36 thành hành động cụ thể hiển nhiên là một việc làm chính trị. Nói tới chính trị là nói tới tiên liệu. Hoạt động chính trị nhưng xem nhẹ khả năng tiên liệu chẳng khác nào một người đi biển không mang theo hải bàn. Mặt khác, kể từ sau biến cố tháng 9/11/2001, cá nhân nào, tập thể nào đứng ở vị trí đồng minh với các tổ chức Hồi giáo khủng bố, họ đều là kẻ thù của nước Mỹ. Bây giờ căn cứ vào một số dữ kiện đáng quan tâm, chúng ta hãy tiên liệu xem có hay không mối liên hệ giữa CSVN và Hồi Giáo khủng bố. Những dữ kiện đó như sau:
            _  Ngay sau biến cố 9/11 tại New York, một số sinh viên Hà Nội đã tổ chức biểu tình chào mừng chiến thắng của Al Qaeda. Hiển nhiên đây là một cuộc biểu tình do đảng CSVN đạo diễn.
            _  Vào những năm cuối của chế độ Sadam Hussein, CSVN đã năm lần bẩy lượt hăm dọa là sẽ gửi chí nguyện quân qua giúp Iraq "chống Mỹ cứu nước".
- Theo kinh Koran, Thiên Chúa Allah xác định "ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng" (Surat 8:12).
Vẫn theo kinh Koran: "Tất cả những kẻ ngoại đạo đều đáng bị chặt đầu hoặc bị bỏ tù" (Surat 47:4).
Hai đoạn kinh Koran vừa trích dẫn cộng với những vụ khủng bố tràn lan khắp thế giới cho thấy Hồi Giáo quá khích vô cùng thù ghét kẻ ngoại đạo, đặc biệt là ngoại đạo Tây Phương. Thế nhưng, tại VN, với vô số khách sạn và những tiện nghi sang trọng khác, CSVN đã và đang rộn rịp tiếp đón đông đảo du khách cùng doanh nhân phương Tây. Nghành du lịch của CSVN không ngừng đưa ra lời quảng cáo tự tin rằng VN là nơi an toàn nhất đối với du khách từ mọi quốc gia trong cộng đồng thế giới. Tại sao CSVN không bao giờ là đối tượng của Hồi Giáo khủng bố, dầu chỉ là một lời đe dọa? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong những quan hệ bí mật giữa CSVN và Hồi Giáo quá khích.
            _  Cả thế giới đều biết: Trung Cộng có rất nhiều mối liên hệ mật thiết với Trung Ðông: xăng dầu, gạo, chất liệu và kỹ thuật chế tạo vũ khí nguyên tử... CSVN đã trung thành với Trung quốc đến độ dâng đất dâng biển cho Bắc triều. Với lòng trung thành đó, nếu CSVN trở thành đồng minh với Hồi giáo khủng bố, theo lệnh của Bắc Kinh, thì đó không phải là điều khó hiểu.
Các dữ kiện có tính cách gợi ý nêu trên đã phát ra tín hiệu rằng chính trị là hoạt động muôn mặt trong đó mặt này liên hệ chặt chẽ với muôn mặt kia và rằng những người hợp tác với VC hãy tự tiên liệu một cách có căn cứ là trong tương lai không xa, những người này sẽ nằm hẳn trong khối liên kết giữa VC và khủng bố Hồi Giáo. Khi sự việc này xẩy ra: những kẻ làm tay sai cho CS thông qua nghị quyết 36 sẽ đương nhiên trở thành kẻ thù của nước Mỹ.
            *-/Ngõ ngách hai: Tác vụ tình báo chống lại Hoa Kỳ:
Cách đây hơn 3200 năm, vua Agammennon của xứ Hy Lạp sai sứ giả mang tặng thành Troy một con ngựa gỗ khổng lồ. Ðây là món quà biểu tượng cho tình hữu nghị giữa Hy Lạp và Troy. Thế nhưng ngay trong đêm đầu tiên, sau khi thành Troy tiếp nhận quà hữu nghị, thành này đã bị đánh phá tan tành. Lực lượng đánh phá là những cảm tử quân Hy Lạp ẩn nấp trong bụng con ngựa gỗ. Tác vụ tình báo bao giơ cũng khởi đầu bằng những kịch bản rất thân hữu, rất lịch sự. Nghị quyết 36 do VC gửi cho "khúc ruột ngàn dặm" hiển nhiên là một quà tặng kiểu ngựa gỗ thành Troy, gọi là ngựa gỗ 2004. Trong bụng ngựa gỗ 2004, chất chứa rất nhiều âm mưu, trong đó âm mưu tình báo là âm mưu nham hiểm nhất. Thông thường một tác vụ tình báo gồm hai bước căn bản:
            _  Bước một: tạo liên hệ thân thiết hướng về đối tượng mà nhân viên tình báo VC cho là có khả năng săn  tin.
            Nghị quyết 36 làm thân với người Việt hải ngoại bằng cách "thân thương" xác nhận: "Ðảng và nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam". Nghị quyết 36 làm thân với người Việt hải ngoại bằng cách hứa hẹn "đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài." (Nghị quyết 36, phần III, đoạn 2). Dĩ nhiên khi đi vào hành động cụ thể, VC sẽ có 1001 phương thức làm thân khác nhằm vào những con mồi mà VC đã chọn. Những con mồi đó là ai? Nghị quyết 36 trả lời: họ là những người "có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế,chính trị, xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa nước đó với VN" (NQ 36 phanà I đoạn 1).
            _  Bước hai: cài đặt con mồi ở vào thế phải làm tình báo cho Việt cộng.
Phương pháp cài đặt có thể là mỹ nhân kế, tài chánh kế, thương mãi kế, ma túy kế, danh vọng kế... Ðối với những con mồi thông minh và khó tính, không chấp nhận làm tình báo, VC sẽ bố trí mọi cơ hội thích nghi để tạo vết đen hình sự trong hồ sơ cá nhân của đương sự. Những vết đen kia như những lá bài tẩy để VC gây sức ép buộc con mồi phải ngoan ngoãn bước vào con đường tình báo. Xin đừng quên rằng tin tức tình báo do VC thu lượm được tại Mỹ có thể mang bán cho Trung quốc, cho Hồi giáo khủng bố, cho bất kỳ thế lực nào có âm mưu chống lại nước Mỹ.
Phương pháp tốt nhất giúp một người không bao giờ bị nhiễm "bệnh dịch" làm tình báo cho VC là người đó tuyệt nhiên không giao dịch với VC dưới bất kỳ hình thức nào.
            *-/Ngõ ngách ba: đồng lõa tội cưỡng chiếm công quỹ và tán trợ những hành động phạm pháp khác.
            Chế độ CSVN là chế độ cướp chính quyền, chế độ xây dựng trên những cuộc bầu cử gian lận, chế độ mạo nhận danh nghĩa đại diện người dân. Xuất phát từ cội nguồn phi chính thống vừa kể, mỗi hành động chi tiêu ngân quỹ quốc gia của VC là một hồ sơ phạm pháp. Trên diễn trình thi hành nghị quyết 36, những kẻ hợp tác với CS có thể sẽ được CSVN ban phát một vài món tiền gọi là sở phí và/hoặc thù lao. Những món tiền kia chính là tang vật của tội trộm công quỹ.
Mặt khác, lịch sử của CSVN là lịch sử của tội ác: sát hại lương dân để đoạt thủ tài sản, dâng biển hiến đất cho ngoại bang để củng cố quyền hành, thủ tiêu những người yêu nước để độc chiếm quyền lãnh đạo quốc gia. Do đó bên cạnh tội cưỡng chiếm công quỹ, CSVN không bao giờ từ bỏ bất kỳ con đường kinh tài phi pháp nào. Tài sản của đảng CS là thành tích của vô số tội phạm: tham ô nhũng lạm, buôn bán vũ khí, cần sa, ma túy, buôn bán tin tức  tình báo, bí mật tán trợ khủng bố theo kiểu xui nguyên dục bị để thủ lợi. Nhằm tẩy xóa nguồn gốc phi pháp của đồng tiền thu lượm được. CSVN phải "rửa tiền". "Rửa tiền" là che đậy nguồn gốc "không lành mạnh" của đồng tiền bằng chiếc áo khoác ngoài hợp pháp. Trong thực tế hoạt động kinh tế, rửa tiền được diễn ra dưới muôn hình vạn trạng. Những người làm tay sai cho CS rất dễ trở thành can phạm của tội "rửa tiền": một dạng thức của tội tẩu tán tang vật hình sự.
Không còn nghi ngờ gì nữa: kẻ nào hợp tác với CSVN biến nghị quyết 36 thành hành động cụ thể, kẻ đó sẽ phải gánh chịu hai hậu quả pháp lý sau đây:
                        _  Một là quốc tịch Mỹ của đương sự sẽ là đối tượng của thủ tục thu hồi.
                        _  Hai là: kẻ làm tay sai cho CSVN sẽ phải đối diện với các vấn đề hình sự như: đồng lõa khủng bố, làm tình báo cho ngoại bang, tẩu tán tài sản phi pháp.
Câu hỏi được đặt ra là: đến bao giờ và trong hoàn cảnh nào quyền công tố của Hoa Kỳ sẽ khởi động?
 
C- Hành vi phạm pháp và sự khởi động của quyền công tố:
Hình sự tố tụng của hầu hết quốc gia trong cộng đồng quốc tế đều dành cho cơ quan công tố quyền tùy nghi truy tố. Quyền này có nghĩa là: đứng trước một vụ phạm pháp, vì nhiều lý do khác nhau, luật pháp cho phép cơ quan công tố: hoặc là truy tố khẩn cấp, hoặc là tiếp tục điều tra, hoặc là tạm xếp hồ sơ. Vì vậy từ khi vụ phạm pháp xẩy ra cho đến ngày quyền công tố thực sự khởi động, thời gian ngắn hay dài khác nhau rất xa tùy theo tình huống pháp lý và/hoặc chính trị của mỗi vụ án. Có những vụ án công tố quyền phải dành nhiều năm theo dõi để có thể bắt giam toàn bộ can phạm, từ con chốt thí đến tướng sĩ tượng. Có những vụ án quyền công tố chỉ thực sự khởi động sau khi bàn cờ chính trị quốc tế để lộ những chuyển biến đáng quan tâm. Vụ án nghị quyết 36 ẩn chứa hai cội nguồn. Cội nguồn thứ nhất là tính chất thuần túy hình sự. Cội nguồn thứ hai là những di biến động trên trận địa tình báo giữa: Trung Cộng – Việt cộng – Hồi giáo quá khích – các thế lực chống phá hoa Kỳ và guồng máy an ninh của Hợp chủng Quốc. Sự khôn ngoan đòi hỏi người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ đừng nhìn những kẻ làm tay sai cho VC trên đất Mỹ- nhưng chưa bị truy tố – để cho rằng làm tay sai cho VC là hợp pháp. Hợp pháp hay bất hợp pháp phải được xác định bởi kết luận rút ra từ kỹ thuật lý luận chung quanh các yếu tố tội phạm, chứ không bởi sự kiện nghi can đã bị truy tố hay chưa?
 
III- KẾT LUẬN.-
Nhiều năm về trước có thể có một số người đi theo CS vì lý tưởng Mac Lenin. Ngày nay lý tưởng kia đã vỡ vụn theo sự sụp đổ của CS thế giới. Ngày nay CSVN đang cố gắng thổi phồng một mớ tư tưởng vụn vặt, lẫm cẩm, phản khoa học lý luận của Hồ Chí Minh để làm bức tranh trang trí cho chế độ độc tài. Ðằng sau bức tranh nham nhở kia chính là bộ mặt Mafia của CSVN. Ngày nay không có sự chối cãi rằng những người chấp nhận làm tay sai cho VC hiển nhiên chỉ là những kẻ chạy theo đồng tiền. Ðối với thành phần này, đồng tiền vừa là sự khởi đầu, vừa là điểm kết thúc của đời sống. Trong không khí nồng nặc mùi tiền đó, chúng ta không thể viện dẫn tình quê hương, tình đồng bào để thuyết phục CS và tay sai hãy cải tà quy chánh. Tình đã đi rồi. Phương tiện thuyết phục chỉ còn là lý. Lý ở đây là hậu quả hình sự của nghị quyết 36. Lý ở đây là những âm mưu tình báo thâm hiểm ẩn nấp bên dưới nghị quyết 36. Lý ở đây là cuộc hội ngộ buồn thảm giữa hai bên. Bên này là công lý hình sự của Hoa Kỳ, bên kia là các can phạm đã bị thâu hồi quốc tịch Mỹ. Những lý lẽ vừa được trình bày đã trở thành động lực tâm lý, đồng thời, cũng là căn bản lý luận để dẫn tới sự việc bài viết này được hình thành.
 
Ðỗ Thái Nhiên

TIẾN BỘ KHOA HỌC HAY ÁC MỘNG CỦA NHÂN LOẠI CHUYỆN THỰC PHẨM BIẾN ĐỔI GÈNES

TIẾN BỘ KHOA HỌC HAY ÁC MỘNG CỦA NHÂN LOẠI CHUYỆN THỰC PHẨM BIẾN ĐỔI GÈNES

Nguyễn Thượng Chánh, DVM


Bông Cải OGM

Từ trên 30 năm nay, chúng ta thường được nghe nói đến những phát minh và khám phá mới mẻ trong các lãnh vực y học, di truyền, nông nghiệp, thực phẩm và tin học điện tử, v.v…

Trong chiều hướng trên ngành công nghiệp thực phẩm, đã lần lần được cách mạng hóa với sự ra đời của công nghệ sinh học (biotechnologie) và thực phẩm mới (aliments nouveaux)…

Bất cứ mọi sự việc trong cõi đời này đều có mặt trái và mặt phải của nó hết, có người hết lòng cổ súy, thì cũng có người khác cực lực đả phá chống đối. Ai đúng? Ai sai? Thậm chí cả trong giới khoa học, OGM vẫn còn là đề tài tranh luận thường xuyên.

Sau đây, người gõ xin trình bày cùng quý bạn những mấu chốt của cuộc cách mạng về thực phẩm mà tất cả chúng ta đang thật sự bước vào từ nhiều năm qua.

***

 

Công nghệ sinh học là gì?   

Đây là các phương pháp bao gồm một số kỹ thuật, từ việc làm lên men bánh mì, rượu vang, fromage, v.v…đến kỹ thuật can thiệp biến đổi gène trong việc nuôi trồng các giống động vật và thực vật, gây cấy tế bào gốc và cũng như trong việc sản xuất thuốc kháng sinh.

Mỗi một tính chất của sinh vật (thực vật và động vật) đều được đánh dấu trên những đơn vị gọi là di thể hay gène nằm trên chuỗi ADN trong nhân tế bào.

Kỹ thuật can thiệp chuyển đổi một hoặc nhiều gène từ một sinh vật cho và đem gắn vào tế bào của một sinh vật tiếp nhận nhằm mục đích để có được tính chất mong muốn nào đó. Sản phẩm  tạo ra sẽ được gọi là sản phẩm bị biến đổi gène hay là sản phẩm OGM (transgénique, Organisme génétiquement modifié).

Công nghệ sinh học có những lợi ích gì?

Với kỹ thuật mới này thì sự canh tác sẽ được dễ dàng hơn, hoa màu dễ trồng, kháng được sâu rầy, ít bệnh tật, phẩm chất tốt, chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn, ít cần đến nông dược pesticides , cũng như có sức chịu đựng mạnh mẽ hơn đối với các thuốc diệt cỏ.

Năng xuất và sản lượng nhờ đó mà được tăng cao hơn…

Công nghệ sinh học đã không ngừng cho ra những sản phẩm mới như: trái cây có chứa nhiều vitamine, hoặc nhiều chất dinh dưỡng nào đó; các loại dầu thực vật ăn vào ít độc hại cho sức khỏe; trứng gà không có cholesterol;

Các giống khoai Tây ít hút mỡ dầu lúc chiên; dâu Tây chịu đựng được sự giá lạnh; tomate chậm chín, lâu thúi, giúp việc chuyên chở được dễ dàng hơn; café chứa ít chất caféine…

Công nghệ sinh học còn có thể biến những loại thực vật và động vật thành…«phòng bào chế» dược phẩm để sản xuất ra vaccin; thuốc lá ít chất nicotine; củ hành không làm cay xé mắt lúc xắt; giống gạo chứa nhiều vitamin A, bêta carotène, dễ trồng vì cần rất ít nước để tăng trưởng, đây là loại riz doré hay 'gạo vàng' rất quý báu để giải quyết phần nào nạn đói tại các quốc gia đang phát triển.

Gần đây, Hoa Kỳ thí nghiệm phương pháp chuyển đổi gène để sản xuất ra một loại gạo OGM có khả năng tạo ra hai protéines của người, đó là hai chất lactoferrine và lysozyme vô cùng cần thiết để ngăn chặn bệnh tiêu chảy ở trẻ em tại các quốc gia nghèo khó ở vùng Phi châu, Á châu và Nam Mỹ. Công ty Ventria Bioscience hy vọng sẽ dùng loại gạo nầy trong nước giải khát, yogurt, trong bánh trái và trong các thỏi cớm!

Bắp OGM



Một vài loại sản phẩm mới được tạo ra để thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, nhưng cũng có một số khác nhằm phục vụ giới nông gia và những nhà sản xuất hạt giống.

Có sản phẩm nhằm phục vụ sức khỏe công cộng, nhưng phần lớn chúng chỉ nhằm phục vụ quyền lợi của giới tài phiệt công nghiệp thực phẩm và của giới kỹ nghệ nông dược.

Xem video: The World according to Monsanto

http://www.youtube.com/watch?v=YH4OwBYDQe8

Canada duyệt xét OGM

Santé Canada và Cơ Quan Kiểm tra Thực Phẩm (CFIA) là hai cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hay loại bỏ một sản phẩm biến đổi gène.

Để được duyệt xét, giới kỹ nghệ phải cung cấp cho hai cơ quan trên tất cả các tài liệu mô tả rõ rệt các phương thức thí nghiệm cũng như các kết quả có được của nó.

Các nhóm chuyên gia của chánh phủ về dinh dưỡng học, sinh học phân tử (biologie moléculaire), hóa học, khoa học môi sinh và độc tố học sẽ chịu trách nhiệm thẩm xét để chấp thuận hay bác bỏ một sản phẩm OGM. Trên lý thuyết là như thế nhưng…đôi khi CFIA cũng hố (?) trong vấn đề duyệt xét áp pru một sản phẩm OGM mới. Trường hợp điển hình là vụ bắp OGM SmartStax của Monsento và Dow AgroSciences  năm 2009.

Montréal, le vendredi 24 juillet 2009. Des représentants de la société sonnent l'alarme concernant les conséquences dangereuses de l'autorisation par le Canada du maïs OGM SmartStax contenant huit gènes, ce qui indique un autre affaiblissement de la réglementation environnementale. Ce maïs OGM est nouveau, car il empile huit gènes incluant deux de tolérance aux herbicides (Roundup et glufosinate) et d'autres qui produisent des insecticides. Ces gènes ont déjà été autorisés individuellement, mais jamais combinés ensemble. Ce maïs SmartStax est le résultat d'un accord entre Monsanto et Dow AgroSciences. L'ACIA et la USDA ont simultanément approuvé le maïs SmartStax et réduit le refuge à 5 %. « Cette synchronisation est un signe inquiétant que les gouvernements américain et canadien sont prêts à harmoniser leurs politiques commerciales au détriment des considérations environnementales et sociales »

http://rcab.ca/Presse/Communiques-de-presse/Autorisation-irresponsable-d-un-nouveau-mais-OGM-par-l-ACIA

Nguyễn Thượng Chánh Giới thiệu tác phẩm: Tham nhũng tận xương tủy.

http://vnvn.vietbao.com/D_1-2_2-44_4-179145_5-50_6-1_17-119_14-2_15-2_10-2872_12-1/

Santé Canada và CFIA cũng có trách nhiệm về vấn đề nhãn hiệu dựa trên bộ Luật Lois et Règlements sur les Aliments et Drogues. Nhãn hiệu OGM có tính cách bắt buộc đối với những sản phẩm bị nghi ngờ là có chứa các chất gây dị ứng (allergène), mục đích là để cảnh giác người tiêu thụ, còn ngoài ra thì Chánh phủ Canada cho phép kỹ nghệ được áp dụng nhãn hiệu tự nguyện (étiquetage volontaire).

Đây là một cách bỏ ngõ để giúp cho kỹ nghệ thực phẩm đáp ứng được với các đòi hỏi của thị trường.

Tình hình OGM tại Canada

CFIA cho biết tại Canada có 45 loại sản phẩm biến đổi gène của 12 loại thực vật được nhìn nhận:

- Bắp Bt (dòng kháng bệnh pyrale do sâu bướm), Canola hay Colza (kháng thuốc diệt cỏ), khoai Tây (dòng kháng rầy doryphore), tomate (dòng chậm chín), Courge hay squash (loại bí),

- Soya (đậu nành), Lin (để làm dầu ăn và bánh dầu nuôi gia súc), dầu bông vải (Huile de coton). Tất cả các loại thực vật vừa kể đều kháng thuốc diệt cỏ…

-Ngoài ra còn có 6 loại tomates chậm chín với hương vị tuyệt hảo, đây là các giống Flavr Savr-Md, có tên thương mãi là Mac Gregor…

-Các loại courges CZW3, ZW20 đều kháng với virus…Khoai Tây New Leaf MD có khả năng kháng virus Y (Potato virus Y), kháng rầy doryphore và đồng thời cũng kháng các thuốc diệt cỏ glucofosinat-ammonium (Ignite, Liberty). Các sản phẩm vừa nêu trên đều do công ty Monsanto Canada sản xuất ra…

Tại Canada, ước lượng khoảng 50% Canola, 30% đậu nành, 15% bắp đã được làm biến đổi gène để có tính chất kháng với thuốc diệt cỏ. Ba loại sản phẩm vừa kể thường được dùng để sản xuất ra dầu ăn, chip, céréale mà mỗi sáng chúng ta thường ăn với sữa, một phần còn lại được dùng để nuôi gia súc…

Đối với thịt OGM thì hiện nay chưa có được sự chấp thuận của chính phủ. Nhưng có điểm làm nhiều người thắc mắc là việc dùng đậu nành OGM và bắp OGM để nuôi gia súc rồi sau đó lại bán thịt thì sao đây? Để khuyến khích và bảo vệ kỹ nghệ sinh học, luật cho phép các tài phiệt như Monsanto được sử dụng gen kết thúc «terminator gene» để ngăn cản sự nẩy mầm của hạt giống xuất phát từ các hoa quả OGM, với mục đích duy nhất là bắt buộc nông gia phải  mua lại hạt giống do Monsanto bán ra, hình như luật bên Pháp cấm sử dụng terminator gene?

Với trên 3,5 triệu mẫu đất dùng để sản xuất OGM, Canada cung cấp 10% sản phẩm biến đổi gène trên thế giới, đứng hàng thứ tư sau Hoa Kỳ, Trung Quốc và Argentina.

Tình hình OGM trên toàn cả thế giới

Từ 1986 đến 1997, có 45 quốc gia trên thế giới đã thí nghiệm gieo trồng thực vật biến đổi gène. Năm 1998, tomate và khoai Tây chiếm 1% diện tích gieo trồng OGM trên thế giới, bắp chiếm 30% và đậu nành 52%.

Từ trước tới nay, những tính chất như kháng thuốc diệt cỏ, kháng côn trùng, kháng virus và kháng bệnh tật là những nét chính trong việc nghiên cứu của lãnh vực công nghệ sinh học. Lần lần các nhà khoa học đã chú trọng hơn vào những khía cạnh chất lượng của sản phẩm, thí dụ như:

-*Hương vị tuyệt hảo: dưa gan melon, chuối, tomate.

-*Giảm lượng nitrate trong sản phẩm (cải laitue).

-*Gia tăng tỉ lệ tinh bột (khoai Tây).

-*Gia tăng chất bêta carotène và tính chậm chín (tomate).

-*Thay đổi màu sắc (hoa œillet).

Nếu xét về thái độ của từng quốc gia nói chung, thì chúng ta thấy có một số nơi đã bắt đầu ý thức hơn về vấn đề OGM.

1-Ngày 21/10/99, Liên Âu đã quyết định áp đặt nhãn hiệu bắt buộc (étiquetage obigatoire) đối với những thực phẩm nào có chứa 1% OGM. Trong tương lai, tỉ lệ nầy có thể được kéo xuống mức 0.1% như tỉ lệ hiện nay đối với ngũ cốc nhập cảng.

Một sản phẩm thực vật không OGM (sans OGM) theo định nghĩa không thể có nhiều hơn 0,1% thành phần ADN chuyển thể.

« Une mention "sans OGM" devrait être réservée aux produits végétaux contenant moins de 0,1 % d'ADN transgénique »,

Năm vừa qua 2010,  6 loại bắp OGM đã được Liên Âu bật đèn xanh cho phép bán.

La Commission européenne a tranché mercredi en faveur de la commercialisation dans l'UE de 3 maïs développés par Pioneer, de 2 autres par Monsanto et celui de Syngenta, utilisés pour l'alimentation humaine et animale. (Juin 2010)

 

2-Nhật Bản đang dẫn đầu các quốc gia Á Châu về đường lối kiểm soát OGM. Cũng như Liên Âu, chánh phủ Đông Kinh đã cho ban hành những luật lệ gắt gao đối với việc nhập cảng OGM.

3-Thái Lan đang chuẩn bị dành mọi ưu tiên cho việc canh tác hoa mầu không OGM.

4-Đại Hàn dự trù nhãn hiệu OGM bắt buộc.

5-Úc Châu và Tân Tây Lan đang duyệt xét lại đường lối OGM của họ cho phù hợp với chính sách của Âu Châu và Nhật Bản.

6-Argentina tiếp nhận kỹ thuật OGM rất nhanh chóng, với 11% tổng diện tích OGM trên thế giới và đứng hàng thứ ba sau Trung Quốc.

7-Trung Quốc với dân số quá đông phải nuôi, nên thiên về giải pháp OGM. Chịu ảnh hưởng của các tài phiệt tư bản về kỹ nghệ thực phẩm, Trung Quốc tiến rất nhanh trong việc phát triển và mở mang ngành công nghiệp sinh học với 14% tổng diện tích OGM trên thế giới, đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ.

8- Hoa Kỳ và Canada, hàng hóa OGM đã và đang tràn ngập thị trường từ lâu. Lý do là vì vấn đề quảng cáo OGM chỉ được thực hiện một cách khiêm nhường mà thôi và dân chúng ở đây cũng không được thông báo rõ ràng về OGM như bên Âu Châu…Cơ Quan Quản Trị Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) chống lại vấn đề nhãn hiệu OGM, vì họ cho rằng đây cũng chỉ là những loại sản phẩm bình thường như bao thứ khác. FDA sẽ thay đổi thái độ trong trường hợp các sản phẩm nào có chứa các chất gây dị ứng. Hoa Kỳ dẫn đầu với 63% tổng diện tích OGM trên cả thế giới.

Mỹ vẫn đứng đầu về OGM

USA: In 2010, more genetically modified crops once again

http://www.gmo-compass.org/eng/news/522.usa_2010_more_genetically_modified_crops_once_again.html

 

9-Brazil cho phép nhập cảng hột giống đậu nành của Cty Monsanto. Quốc gia nầy đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ về việc sản xuất đậu nành trên thế giới.

10-Việt Nam  "có ba cây trồng biến đổi gen đã hiện diện là lúa, ngô và bông. Một tỷ lệ nhất định các sản phẩm biến đổi gen đã có mặt trong thức ăn chăn nuôi. Song, các nhà quản lý, nhà khoa học hiện vẫn chưa nắm được có bao nhiêu diện tích, chủng loại cây biến đổi gen.

Chủ trương của Việt Nam là cho phép trồng cây biến đổi gen và đẩy mạnh phát triển loại thực vật, động vật này. Mới đây nhất, Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định đồng ý về Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học trong lĩnh vực Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn đến năm 2020". (Theo Cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam : Vẫn còn mơ hồ, trang mạng Niềm tin vào Tương Lai)

Tính từ 1996-2010 tổng diện tích canh tác thực vật OGM trên thế giới đã vượt cao hơn 1 tỉ mẫu Tây, tương đương diện tích của cảTrung Quốc.

Chỉ riêng năm 2010, diện tích trồng thực vật OGM toàn cầu cũng lên đến con số 148 triệu mẩu.

Miến Điện, Pakistan và Thụy Điển là ba quốc gia đã trồng lần đầu tiên thực vật OGM vào năm 2010.

(Évolution des surfaces de cultures OGM dans le monde de1996 à 2010)

 Source : www.isaaa.org

OGM: Tiến bộ khoa học? 

Các giống hoa mầu OGM đề kháng với bệnh tật, sâu bọ và côn trùng sẽ giúp giảm thiểu việc sử dụng nông dược đi rất nhiều.

Theo Giám đốc National Center for Public Research, Washington DC, Amy Ridenour thì…biotechnologie đã làm giảm đi 80% việc sử dụng thuốc trừ sâu trong kỹ nghệ bông vải tại Hoa Kỳ…

Hãy tưởng tượng các trái tomates no tròn, to lớn, chứa đầy chất dinh dưỡng, nhưng chậm chín nghĩa là lâu bị hư thúi nhờ vậy mà giúp việc chuyên chở được dễ dàng hơn.

Và các bạn nghĩ sao về các loại hạt điều, hạt hạnh nhân chứa thật ít chất béo và không có một tí nào các chất gây dị ứng?…

Hoan nghênh sự tiến bộ của khoa học!.

Từ trước tới nay, các nhà chăn nuôi và các nhà nông phải tốn rất nhiều công sức và thời gian hằng vài ba chục năm mới tìm ra hoặc tạo ra được một giống gia súc hoặc một loại hoa mầu mới với những tính chất cố định mong muốn. Ngày nay, biotech đã giải quyết vấn đề nầy chỉ trong một thời gian thật ngắn ngũi mà thôi…

Các thực phẩm mới không ngừng được tung ra thị trường mỗi năm. Kỹ thuật biến đổi gène không những được thực hiện giữa các dòng sinh vật giống nhau, mà còn được thực hiện giữa các chủng loại khác nhau nữa, chẳng hạn như gène dâu Tây (strawberry) được cấy vào hạt dưa hấu, gène của thỏ cấy vào hạt bông vải để có loại bông xốp nhuyễn như lông thỏ.

Cty Monsanto đã tạo ra nhiều giống khoai Tây chứa nhiều tinh bột, hút ít dầu lúc chiên, rất tốt cho sức khỏe. Các loại ớt poivron biến đổi gène làm cho ngọt hơn rất thích hợp để trộn salade…

Cty Aqua Bounty Farms, Massachusetts đã sản xuất được nhiều loại cá OGM, chẳng hạn như cá saumon, cá truite và cá rô Phi (tilapia). Chúng có sức tăng trưởng rất nhanh, rút ngắn thời gian sản xuất lại rất nhiều. Cty nầy đã tạo được một giống cá saumon đặc biệt, bằng cách cho gắn gène chủ định tạo protein kháng lạnh (anti freeze Protein) của một loài cá sống vùng bắc cực vào ADN của trứng cá saumon Atlantique.

Cá OGM có được tỏ ra rất linh động và tăng trưởng rất nhanh kể cả trong mùa đông băng giá, mùa mà đa số cá khác đều lừ đừ giảm hoạt động và giảm cân.

Phe chống OGM thì gọi đây là cá quỷ (frankensfish) vì nó rất to lớn và thấy ghê quá…

Thịt OGM thì chưa được thấy xuất hiện, có lẽ là sợ phản ứng của người tiêu thụ, nhưng một số thú vật cũng đã được thí nghiệm trong lãnh vực kỹ thuật sinh học…

Gène chủ định yếu tố kháng đông (anticoagulant) và các yếu tố khác như alpha antitrypsine và antithrombine C ở người, được gắn vào loài dê để tạo ra những chất vừa kể, sau đó thì chúng được trích lấy từ sữa dê. Alpha antitrypsine được dùng để trị bệnh khí thủng emphysème và fibrose kystique. Antithrombine C dùng trong các ca giải phẫu tim…

Tại Montreal, Cty Nexia đã tạo ra được sợi tơ nhện trích lấy từ protein của sữa dê OGM. Sợi tơ nhện rất chắc nên được ứng dụng vào việc sản xuất áo giáp chống đạn, quần áo của phi hành gia, cũng như một số vật liệu xây cất…

Bò biến đổi gène có thể sản xuất ra sữa có lactoférine của người. Chất nầy giống như sữa mẹ và có công dụng giúp ngừa các chứng viêm ruột tiêu chảy ở trẻ em…

Chất insuline dùng để trị bệnh tiểu đường được trích lấy từ vi khuẩn OGM mà trước đó đã nhận gène chủ định việc tạo insuline ở người…

Hoa Kỳ cũng đang thí nghiệm việc tạo ra vaccin ngừa bệnh sốt rét malaria trích lấy từ sữa của chuột và của dê OGM, nếu thành công thì đây sẽ là nguồn cung cấp vaccin rẻ tiền và hiệu quả cho các xứ nghèo ở châu Phi và châu Á…

Khoai Tây OGM có chứa tính chất của vaccin ngừa bệnh viêm gan B cũng đang được giới khoa học nghiên cứu…Cty PPL Therapeutics (Ecosse) đang thí nghiệm để mong tạo được dòng heo OGM có khả năng cung cấp bộ phận ghép cho người trong tương lai…

Một loại cá cá nhỏ bé tí thuộc loại zebrafish đuợc chuyển gene và có tên là Glofish. Đặc biệt chúng có thể phát ra ánh sáng huỳnh quang fluorescent  rất đẹp mắt,và được dùng để phát hiện những vùng nước bị ô nhiễm.

Năm 2006, trường Canh Nông Đông Bắc Trung Quốc đã tạo ra được giống heo phát ánh huỳnh quang xanh lá cây (dưới tác dụng của tia cực tím ultraviolet). Đặc biệt là loại heo này có thể truyền tính chất phát ánh huỳnh quang cho những thế hế heo con tiếp nối. Các nhà khoa học Trung Quốc nghĩ rằng khám phá này sẽ giúp ích và thúc đẩy nhiều trong việc nghiên cứu tế bào gốc (stem cell research).

OGM: Ác mộng của nhân loại?

Mời xem video. Jeffery Smith(tác giả Seeds of Deception)- The dangers of genetically modified foods

http://video.google.com/videoplay?docid=4147551008386395793#


Năm 1996, Gs John Fagan, tiến sĩ sinh học phân tử đã đi một vòng Âu châu để thuyết giảng và cảnh tỉnh thế giới về nguy cơ có thể xảy ra do thực phẩm OGM mang đến. Sau đây là những lý lẽ của phe nhóm chống OGM:

  • Kỹ thuật vô ích và nguy hiểm: Mặc dù biotech đã giúp ích phần nào trong lãnh vực y khoa, nhưng Gs Fagan nhấn mạnh là mối nguy hiểm vẫn trội hơn các ích lợi lý thuyết của kỹ thuật mới nầy…Còn nhớ vào cuối thập niên 80, Cty Nhật Bản Showa Denko đã tung ra thị trường chất amino acid L-tryptophan trích lấy từ một  loại vi khuẩn OGM. Thuốc được bán tự do dưới hình thức một thực phẩm bổ sung và được sử dụng để trị bệnh mất ngủ và các trường hợp đau nhức trước ngày hành kinh. Trong một năm, L-tryptophan đã làm cho 35 người Nhật thiệt mạng cũng như đã để lại 1500 phế nhân vì một hội chứng rối loạn máu cực kỳ nguy hiểm gọi tắt là EMS hay eosinophilia myalgia syndrom.
  • Lợi nhuận trên hết và trước hết: Người ta tự hỏi phải chăng đằng sau các lý lẽ tốt đẹp, cao cả mà lại chẳng có một ẩn ý nào nặc mùi dollars và chánh trị??.
  • Nguy hiểm thật sự là gì? Cơ cấu di truyền hiện hữu của sinh vật là kết quả của sự tiến hóa và chọn lọc tự nhiên có được từ mấy ngàn năm nay rồi. Nó tạo nên một bối cảnh môi sinh liên kết với nhau và vô cùng phức tạp. Sự can thiệp của các nhà bác học vào cơ cấu sâu xa của di truyền sẽ làm xáo trộn thế quân bình nầy.
  • Sự đột biến (mutation) không thể lường trước được: Code génétique (mã số di truyền) của một sinh vật kể cả vi khuẩn rất phức tạp. Nếu đem một gène của một sinh vật nầy gắn vào cho một sinh vật khác thì phản ứng sẽ ra sao? Có thể tính thông minh của gène sẽ giảm?…Theo Gs Fagan, chuyển đổi gène từ loài nầy sang cho loài khác là một hành động trái thiên nhiên, rất nguy hiểm (ví dụ như gène heo cấy vào thực vật, gène cá cấy vào tomate, gène người cấy vào thú vật, v.v…). Tính liệt cũng như các bệnh tật tiềm ẩn có thể từ chủng loại nầy truyền sang cho một chủng loại khác.
  • Nguy cơ ô nhiễm môi sinh: Ô nhiễm sinh học (pollution biologique) có thể được xem là sự nguy hiểm lớn nhất.

Người ta tạo ra những dòng sinh vật mới như các vi khuẩn chẳng hạn mà không nắm vững tí nào ảnh hưởng về lâu về dài của chúng đối với con người và đối với môi sinh. Các nhà nông không có một phương thức nào chắc chắn để bảo đảm là sản phẩm OGM của họ không lây nhiễm (nhụy phấn hoa bay theo gió, theo ong…) sang các cánh đồng lân cận.

Đậu nành OGM do Monsanto sản xuất có tên là RoundUp Ready soybean. Đồng thời  họ cũng tung kèm theo ra thuốc diệt cỏ RoundUp có quang phổ trộng. Giống đậu RoundUp Ready có sức kháng thuốc diệt cỏ  rất cao. Nó có thể chịu đựng những lượng hóa chất gấp 3-4 lần hơn bình thường mà không hề hấn gì cả. Nông gia muốn có thu hoạch tốt bắt buộc mỗi năm phải mua hai loại sản phẩm trên… Rất nhiều tài liệu cho biết thuốc RoundUp mà hoạt chất là glyphosate rất độc hại cho môi sinh và cho sức khỏe chẳng hạn như tạo ra thai dị hình birth defect. Việc sử dụng quá thường xuyên thuốc diệt cỏ RoundUp đã làm sản sinh ra nhiều giống siêu cỏ lờn với thuốc diệt cỏ này..

Vấn đề thụ tinh chéo  pollinisation croisée, cross pollinisation cũng là một mối nguy hiểm khác. Sớm muộn gì các siêu cỏ (super weed) bất trị sẽ lấn chiếm hết môi sinh.

Bắp Bt được ghép gène của vi khuẩn Bacillus thuringensis, có khả năng tiết ra một  loại protein Bt rất độc đối với các loại sâu bướm nhóm lépidoptère. Người ta lo ngại trong tương lai loại bướm Monarque sẽ bị tuyệt chủng vì độc tố Bt và biết chừng đâu, về lâu về dài, độc tố nầy cũng dám ảnh hưởng đến sức khỏe chúng ta lắm.

Cũng như bắp Bt, bắp Starlink là một loại bắp OGM có chứa protein Cry9C kháng sâu rầy. Người ta nghi chất protein nầy sẽ gây dị ứng ở người. Tại Hoa Kỳ Bắp StarLink chỉ được dùng để nuôi gia súc mà thôi nhưng Canada thì lại cấm.

Cá OGM rất to lớn, nếu chẳng may thoát ra ngoài môi sinh nó sẽ tấn công tất cả các loài cá khác nhỏ con hơn và có thể làm diệt chủng một số loài thủy sản!.

  • Nguy cơ cho súc vật: Cũng như cá hồi saumon, một số gia súc đang được thí nghiệm để đổi gène. Các loại thú như bò, dê, cừu và heo đã được sử dụng để sản xuất ra những chất đặc biệt.

Người ta tự hỏi liệu những thú nầy có được một sức khỏe bình thường hay không? Thịt và sữa của chúng có đủ bảo đảm an toàn cho chúng ta dùng hay không?

  • Mối đe dọa cho nguồn thực phẩm nhân loại: Một số tài phiệt quốc tế như Dupont (Pioneer), Monsanto, Syngenta, Bayer Crop Science, KWSAG (Đức)  BASF, v.v…sẽ nắm hết các nhà máy, các công ty phân phối hạt giống ở các quốc gia đang phát triển với mục đích là để nắm giữ thế độc quyền về phân phối. Lệ thuộc kinh tế sẽ kéo theo lệ thuộc chánh trị không mấy hồi…
  • Mặt khác với sản phẩm OGM tràn ngập khắp nơi, tính chất đa dạng của sinh thái (biodiversité) trên quả điạ cầu nầy sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều. Người ta rất e ngại là trong một tương lai không xa lắm, tất cả thực phẩm chúng ta thường dùng hằng ngày đều có chứa ít nhiều OGM.

Cũng không chắc gì gạo OGM có thể giải quyết được nạn đói trên thế giới đâu, vì theo Amartya Sen (Prix Nobel về kinh tế,1998) thì…nạn đói không phải do việc kém sản xuất mà ra, nhưng chính là do hạ tầng cơ sở của các quốc gia nghèo khó còn quá yếu kém cũng như việc phân phối đất đai chưa được công bằng và hợp lý!.

  • Khía cạnh tín ngưỡng: Mọi người đều đặt câu hỏi là có trái với đạo lý hay không khi con người cố tình tự ý thay đổi cơ cấu sâu xa của vạn vật?

Các OGM được tung ra thị trường hiện nay đã gây trở ngại và phiền toái không ít cho các nhóm tôn giáo, cho nhũng dân tộc không ăn thịt heo như người Hồi giáo và người Do Thái giáo.

OGM cũng gây trở ngại cho những ngưởi người ăn chay, cho cả các nhóm bảo vệ môi sinh và quyền sống của súc vật.

Các nhóm chủ trương OGM đã bào chữa lại và nói rằng ADN thực vật cũng không có gì khác hơn ADN động vật cả và khi vào trong bao tử thì các gènes sẽ bị tiêu hóa đi hết!.

  • Chúng ta có được sự bảo vệ của cơ quan Y Tế Thế Giới (WHO) hoặc của chính phủ hay không? Theo Gs Fagan, đa số dân chúng không thấu hiểu tình hình. Còn nhớ, vào những năm 60 có hai biến cố quan trọng đã xảy ra: đó là vụ thuốc trừ sâu DDT và vụ thuốc Thalidomide. Hai món thuốc nầy đều đã được quốc tế và các chính phủ công nhận và hết lời cổ súy ca ngợi. Hậu quả rất thê thảm như mọi người đã biết…DDT là một loại nông dược rất hữu hiệu để diệt côn trùng, ruồi, muỗi và được sử dụng trong những kế hoạch bài trừ bệnh sốt rét, v.v…

Sau nầy, các nhà khoa học cho biết là DDT là hóa chất rất độc cho sức khỏe con người, như có hại cho não bộ, làm giảm hệ miễn dịch, hư thai và có thể gây ra cancer. Ngày nay, DDT đã bị cấm sử dụng tại các quốc gia Tây phương…

Thalidomide là thuốc an thần giúp ngừa nôn mửa ở phụ nữ lúc mang thai. Vào những năm 1959-60, Thalidomide được sử dụng rất rộng rãi nhưng một thời gian sau người ta mới biết được nó là nguyên nhân sinh ra hài nhi có tay chân dị dạng. Thalidomide đã bị cấm từ đó, nhưng gần đây nó được cho phép sử dụng trở lại để trị bệnh Sida và một loại bệnh cùi nodosus leprosus.

  • Vấn đề nhãn hiệu: Giới kỹ nghệ biotech Hoa Kỳ và Canada rất lo ngại việc luật pháp sẽ ấn định nhãn hiệu bắt buộc trên tất cả sản phẩm OGM.

Họ tìm đủ mọi mánh khóe và làm áp lực với chính phủ để khỏi phải nêu trên nhãn hiệu chữ OGM hoặc câu "làm từ nguyên liệu OGM". Họ thừa biết là người tiêu thụ chưa đáp ứng thuận lợi với các sản phẩm đã bị làm biến đổi gène.

Trách nhiệm trông coi về nhãn hiệu nằm dưới quyền của Codex alimentarius thuộc Liên Hiệp Quốc. Trên lý thuyết, thì đây là những ủy ban độc lập, nhưng trong thực tế người ta nghĩ rằng nó khó thoát khỏi được áp lực của giới kỹ nghệ và của các cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ đang nắm vận mạng của cả thế giới!.

 

Quan điểm của Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo.

 Nếu xét về khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo, thì lẽ nào con người có thể cướp quyền của đấng tạo hóa để muốn làm gì thì làm, thay đổi hết thế quân bình của vạn vật…

Sự ra đời của kỹ thuật sinh học đã làm nhiều người suy nghĩ lại các quan điểm siêu hình mà các tôn giáo thường đưa ra.

"Người ta tự hỏi phải chăng kỹ thuật biến đổi gènes đi ngược với mô hình của Thiên Chúa Giáo vì  con người là sáng tạo theo mô hình Thiên Chúa và các sinh vật và thực vật được hiện ra theo ý Thiên Chúa,nên không có quyền biến đổi.

Duy có điều chắc chắn rằng Phật Giáo tin vào lý nhân duyên và lý vô ngã, nên không trở ngại gì về biến đổi gene, nếu việc biến đổi gene không làm thiệt hại cho các chúng sinh (giáo lý từ bi, bất hại). Còn biến đổi gene nào mà thiệt hại cho chúng sinh, tất nhiên là phạm giới (nếu không là ngũ giới, thì cũng là thập thiện).".( Cư sĩ Nguyên Giác)

Phật giáo nói rằng mọi sự vật đều do duyên sinh duyên hợp mà có và tất cả đều biến đổi không ngừng

Dưới đây một vài điểm chánh trong bài:

Kỹ Thuật Di Truyền: Đánh Giá Theo Quan Điểm Phật Giáo

Ron Epstein

http://www.dharmasite.net/KyThuatDiTruyen.htm

"…Từ quan điểm đạo đức Phật giáo căn bản, những phát triển đặc biệt trong kỹ thuật di truyền thật rắc rối và hướng đến một tương lai đầy dẫy sự phức tạp và không rõ ràng về mặt đạo đức…"

 "…Bởi vì kỹ thuật di truyền có tiềm năng chuyển đổi căn bản cả thiên nhiên và bản tánh con người, nó đem lại một sự đe dọa lớn lao hơn nhiều so với những kỹ thuật khác.

Theo giáo pháp Phật Giáo, thiên nhiên mà chúng ta cảm nhận chỉ là một cái nhãn cho cộng nghiệp của các chúng sanh hữu tình trên hành tinh này, và bản tánh con người là hỗn hợp nghiệp báo của tư tưởng và tình cảm cần phải được chuyển hóa trên con đường đi đến giác ngộ.

Kỹ thuật di truyền có tiềm năng thay đổi cả thân thể chúng ta và môi trường bằng cách làm giảm đi khả năng giúp đỡ tiến trình chuyển hóa bản thân…

….Từ quan điểm Phật giáo, các vấn đề về kỹ thuật di truyền về nguyên tắc không khác biệt với hầu hết những vấn để khác chúng ta đối diện hàng ngày. Tất cả đều là kết quả của kiết sử – dục vọng, nóng giận, vô minh, v.v…diều làm cho tình trạng kỹ thuật di truyền được đặc biệt là sự khác biệt về mức độ thiệt hại có thể ảnh hưởng đến đời sống trên hành tinh này và sự không đảo ngược lại được những ảnh hưởng lên chúng ta và môi sinh…"

Tòa Thánh Vatican nói gì?

Ogm: Quelques éléments concernant les catholiques

http://ogmdangers.org/enjeu/philosophique/religion/catholique.htm

Tháng giêng 2010, Đức Giáo Hoàng Benoit XVI đã bổ nhiệm Hồng Y Peter Turkson lên thay thế Hồng y Renato Martinora trong chức vụ lãnh đạo Conseil Pontifical pour la Justice et la Paix.Lý do: Hồng y  R. Martinora là người quá thiên về vấn đề OGM.

Qua việc bổ nhiệm này, Tòa Thánh muốn chứng tỏ rằng Giáo hội đã thay đổi lâp trường về OGM. Từ trước tới nay, quan điểm của Tỏa Thánh Vatican là đứng "trung lập" nhưng trong thực tế thì không phải vậy. Giáo hội thưởng có khuynh hướng đề cao khía cạnh lợi ích tốt đẹp của OGM mà thôi.

Hồng y Peter Turkson, người Ghana, ngược lại, rất quan tâm và lo âu đến vấn đề quản lý và sử dụng không công bằng thực vật OGM đề giải quyết nạn đói trên thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh đến vấn nạn các công ty sản xuất hạt giống và thực vật OGM bị thúc đẩy bởi lợi nhuận hơn là vì lòng ham muốn cứu nhân loại thoát ra cảnh lầm than đói khổ. Ngài rất lo ngại về vấn đề OGM. "Chỉ cần nhìn vào các phúc trình mô tả việc làm thiếu y đức và có tính sát nhân của các công ty dược phẩm thì rõ. Trong trường hợp OGM, chúng ta phải đối đầu với một số lượng khổng lồ sở hữu trí tuệ( propriété intellectuelle) bị tập trung trong trong tay của một số ít tập đoàn."

Tương lai của nhân loại sẽ đi về đâu?

Đồng thời với việc mã số di truyền code génétique của người vừa mới được xác định, công nghệ

sinh học đã đem đến cho mọi người một niềm hy vọng tràn trề về viễn tượng cuộc sống vô cùng lạc quan và sung túc.

Rồi đây bệnh tật, nghèo đói, suy dinh dưỡng và ô nhiễm môi sinh sẽ không còn phải là vấn đề nan giải nữa…Sản lượng cây lương thực sẽ tăng cao, phẩm chất tối hảo nhưng không cần phải dùng đến nhiều nông dược trong sản xuất.

Tuy nhiên cũng có một số người vẫn còn hoài nghi, bi quan và lo sợ trước sự ra đời của các sản phẩm mới. Họ nghĩ rằng không có gì bảo đảm là công nghệ sinh học sẽ đem lại ấm no và hạnh phúc cho nhân loại hết.

Không ai có thể biết trước được ảnh hưởng về lâu về dài của những thực phẩm OGM trên sức khỏe của con người hết.

Chỉ có các đại tài phiệt về kỹ nghệ thực phẩm là kẻ trục lợi mà thôi.

 

Kết luận

Riêng tại Canada, năm 2001, Tổng Kiểm soát Viên Liên Bang (Vérificateur Général) trong phúc trình hằng năm đã phê phán và lưu ý chánh phủ cần phải rõ rệt hơn và trong suốt hơn (transparence) trong vấn đề kỹ  thuật sinh học.

Đồng thời với phúc trình bất lợi nầy, khả năng thẩm xét OGM của chính phủ cũng bị nghi ngờ bởi Société Royale du Canada sur les OGM. Tổ chức này khuyến cáo Santé Canada phải bạch nhựt hóa tất cả các tài liệu và kết quả thí nghiệm về OGM do giới kỹ nghệ đệ nạp để được thẩm xét.

Với những tin như vậy, không biết chúng ta nên mừng hay nên lo đây?


  Tham khảo:

-Ron Epstein. Genetic Engineering: A Buddhist Assessment;

www.dharmasite.net

http://www.dharmasite.net/KyThuatDiTruyen.htm

-Santé Canada. Les questions les plus demandées. Biotechnologie et aliments

génétiquement modifiés.

http://www.hc-sc.gc.ca/fn-an/gmf-agm/fs-if/faq_4-eng.php

-Carl K. Winter. Safety of Genetically Engineered Food; Univ. of Calif. Davis

http://ucanr.org/freepubs/docs/8180.pdf

-Rena Larranaga. GMO's Friend or Foe?

http://www.suite101.com/article.cfm/american_agriculture/29701

-WHO. 20 questions on genetically modified foods

http://www.who.int/foodsafety/publications/biotech/20questions/en/

      -The seed of deception

        http://www.seedsofdeception.com/Public/AboutGeneticallyModifiedFoods/index.cfm

       -The health risks of eating GMOs

          http://www.seedsofdeception.com/GMFree/CampaignforHealthierEatinginAmerica/HealthRisks/index.cfm?

-Bs Thú y  Nguyễn Thượng Chánh. Mặt trái của kỹ nghệ thực phẩm

http://tintuccaonien.com/docs/docs_4/4_1_205.htm

   Montreal, Oct 14, 2011

15 October 2011

Cuốn Sách Bị Bỏ Quên: Phật Giáo Tranh Đấu

Cuốn Sách Bị Bỏ Quên: Phật Giáo Tranh Đấu

Đây là "Tập tài liệu và hình ảnh trong vụ Phật Giáo tranh đấu từ Tháng 5 tới Tháng 11 năm 1963"(*) của tác giả Quốc Oai do nhà xuất bản Tân Sanh số 12 Bùi Viện, Sài Gòn, điện thoại 22.641 phát hành chỉ ít tháng sau khi chế độ độc tài gia đình trị của Ô. Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Quốc Oai là bút hiệu lúc bấy giờ của nhà báo Thanh Thương Hoàng đã từng đảm nhiệm các chức vụ: Chủ Bút tờ Phim Kịch (1963), Tổng Thư Ký nhật báo Chính Luận (1964-1965), Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả (1965). Quốc Oai chính là tên người con trai thứ tư của ông vừa chào đời. Tác giả có nhắc lại cuốn sách này trong phần giới thiệu các tác phẩm đã xuất bản tại Hoa Kỳ nơi tuyển tập truyện ngắn Cõi Đời Cõi Người (2011). Theo nhà văn Thanh Thương Hoàng thì lịch sử báo chí Miền Nam, từ trước tới giờ chưa có cuốn sách nào bán chạy đến như vậy. Sách vừa ra lò đã bán hết ngay 3000 cuốn, tái bản lần thứ nhất hết ngay 5000 cuốn và in lần thứ ba 10,000 cuốn cũng hết bay.

Là ký giả, ông có cơ hội thu thập các tài liệu, hình ảnh từ phía chính quyền, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, ký giả ngoại quốc, bản tin của các hãng thông tấn, các đoàn thể thanh niên, sinh viên và cá nhân tranh đấu thường gửi tài liệu tới báo chí để nhờ phổ biến. Đây là cuốn sách tổng hợp các tài liệu và hình ảnh xác thực, chứ không phải cuốn hồi ký phản ảnh chủ quan, thương ghét cá nhân.

Vào những ngày đầu của biến cố 30-4-75, tác giả tiên liệu những sách xuất bản ở Miền Nam thế nào cũng bị đem ra đốt hết cho nên nhân có bà chị từ Hà Nội vào thăm, tác giả đã gửi gấm cuốn sách này. Chính vì thế mà hơn 47 năm, tức gần nửa thế kỷ, cuốn sách vẫn sống sót và ngày hôm nay được nhắc tới như "Một Cuốn Sách Bị Bỏ Quên". Sau đó tác giả, theo quân-cán-chính, văn nghệ sĩ, đảng phái VNCH trình diện "học tập cải tạo" và bị giam giữ 10 năm. Phóng thích năm 1985, Thanh Thương Hoàng được Văn Bút Quốc Tế cũng như Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại gửi cho ít tiền để sinh sống. Nhưng chính vì thế mà ông bị Bộ Nội Vụ nghi ngờ ông là nhân vật quan trọng, nên không cho xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo chương trình tạm gọi là HO. Sau nhờ sự can thiệp của Ô. Robert L. Funseth cựu Phụ Tá Thứ Trưởng Hoa Kỳ – người cùng ký thỏa hiệp cho phép "Định Cư Tù Cải Tạo" với Thứ Trưởng Phạm Quang Cơ…mà năm 1999 ông được ra đi…như thế là rất trễ.

Ra tới hải ngoại, dù tuổi đã cao, năm nay đã hơn 80, Thanh Thương Hoàng vẫn theo đuổi nghiệp văn chương và viết rất khỏe. Ông đã cho ra đời tuần báo Đời ở San Jose. Nhưng vì thiếu quảng cáo nên báo phải đóng cửa vĩnh viễn. Riêng tại hải ngoại ông đã xuất bản các tác phẩm:

- Tập truyện Tiến Sĩ Lê Mai (1999)

- Người Mỹ Cô Đơn (tiểu thuyết Anh Ngữ năm 2000)

- Tập truyện Những Nỗi Đau Đời (2001)

- Tập Truyện Ông Tướng Tỵ Nạn (2005)

- Tập Truyện Dòng Suối (2009)

- Tuyển tập truyện ngắn Cõi Đời, Cõi Người (2011).

Là bạn viết văn, bạn vong niên, thấy tôi thỉnh thoảng có viết bài giới thiệu sách, tác giả hứa tặng một một bản sao của cuốn Phật Giáo Tranh Đấu. Có lẽ cũng phải mất gần hai năm, sau khi cho con về Hà Nội chụp lại…và ngày hôm nay cuốn sách đến tay tôi. Sách dày 245 trang bao gồm 8 Phần và Kết Luận.

Phần Thứ I: Tiêu Diệt Phật Giáo

Mở đầu phần này tác giả viết, "Một sự kiện hiển nhiên không ai có thể chối cãi được là tám mươi phần trăm dân chúng Việt Nam theo Phật Giáo. Từ lúc mới lập quốc, hơn bất cứ đạo giáo nào khác, Phật Giáo đã xuất hiện ở nước ta. Phật Giáo như một cây Bồ Đề to lớn, gốc rễ ăn sâu bám chặt và cành lá xum xuê trùm phủ kín mảnh đất Việt Nam. Dù giông to bão lớn, dù sấm sét dữ dội cũng không thể nào lật đổ cây Bồ Đề to lớn ấy được. Lịch sử và thời gian đã chứng minh Phật Giáo đóng góp một phần công lao rất lớn vào việc xây dựng đất nước, nòi giống. Biết bao vị chân tu từ xưa tới nay đã làm rạng danh đất nước. Dân chúng yêu kính và tôn sùng như những bậc Thánh." (*)

Bởi vì "Phật Giáo không ồn áo náo nhiệt, sôi nổi hời hợt bề mặt. Phật Giáo không phô trương thanh thế; không tổ chức thành một lực lượng để bảo vệ cũng như tranh đấu cho đạo. Phật Giáo không bao giờ chen lấn, áp đảo các đạo giáo khác, ngay như hồi Phật Giáo được nâng lên hàng Quốc Giáo ở các đời Lý, Đinh, v.v…(Lúc đó Khổng Giáo và Lão Giáo đã truyền sang nước ta từ lâu.) Phật Giáo lúc nào cũng chủ trương ôn hòa, bất bạo động theo đúng như giáo lý của Phật. Bởi những nguyên cớ ấy nên tới ngày nay mới có người coi thường, (hay quá sợ?) Phật Giáo và nhất định ra tay đàn áp, trừ diệt. Những kẻ đó chính là anh em nhà họ Ngô: những bạo chúa, hung thần của nước Việt Nam cuối Thế Kỷ Hai Mươi." (***) Để minh chứng, tác giả đã dùng "một số tài liệu chính xác về sự đàn áp Phật Giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm từ năm 1959 tại các Tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên." (*)

1. Tỉnh Quảng Ngãi:  "Chính quyền đã bắt hai Phật tử Hà Thừa và Đỗ Trọng cho "học tập" dài hạn tại Trại Cải Huấn. Ngày 12/10/1961 lại bắt thêm hai Phật tử Dương Khanh và Nguyễn Hữu Khánh (nhân viên trong ban trị sự Phật Giáo) đem về Trại Cải Huấn "học tập" dài hạn. Ngày 12/12/1961 Hội Đồng Xã Sơn Trung Sơn Trung đã tổ chức một lớp học tập về Thuyết Duy Linh trong bốn ngày tại Thôn Hà Nhai. Sau khóa học tập chính quyền địa phương đã bắt buộc các Phật tử phải bỏ Phật Giáo và ký giấy theo Thiên Chúa Giáo. Ngày 19/10 năm Tân Sửu (1962) Phật tử Phạm Thơ 52 tuổi vô cớ bị bắt đưa vào Trại Cải Huấn giam hơn 3 tháng. Viên quản đốc trại cải huấn rỉ tai cho ông Thơ biết nếu chịu bỏ Phật Giáo và ký tên theo Thiên Chúa Giáo thì sẽ được thả ngay tức khắc. Vì gia đình đông con lại nghèo và nhất là đương ở trong hoàn cảnh tù đày bất đắc dĩ ký giấy theo Thiên Chúa Giáo. Quả như lời viên quản đốc nói, một giờ sau ông được thả ngay. Nhưng sau khi đã được về với gia đình, ông Thơ không chịu được sự cắn rứt của lương tâm nên đã nhất định trở về với Phật Giáo. Ngày 20/11/1961 tại Xã Sơn Mỹ, Quận Sơn Tịnh một số Phật tử là Nguyễn Ngạt, Ngô Phong, Đỗ Hoài, Nguyễn Đài, Võ Trung, Nguyễn Văn Đường, Nguyễn Ký đã bị hai ông Lưu Truyên và Lê Đạt là người Thiên Chúa Giáo, đại diện cho chính quyền địa phương lạm dụng chức vụ của mình bắt những người nói trên phải rửa tội và đe dọa nếu không chịu nghe theo sẽ bị bắt đi trại cải huấn ba tháng. Ngày 20/8/1961 Khuôn Hội Phật Giáo Kim Sa thuộc Xã Sơn Kim, một số đạo hữu là: Hà Ngu, Phạm Phẩm, Trần Đến, Nguyễn Thị Lễ, Nguyễn Chẩn, Nguyễn Nhung đã bị ông thôn trưởng Hà Sơn Mai và hai cán bộ truyền giáo Thiên Chúa Giáo đến tận từng nhà bắt ký giấy theo đạo Thiên Chúa. Họ ngang nhiên đưa ra điều kiện nếu chịu ký giấy gia nhập Thiên Chúa Giáo sẽ được sống yên ổn làm ăn, còn trái lời sẽ bị ghép vào thành phần tình nghi là cán bộ cộng sản và sẽ bị bắt về trại cải huấn giam giữ. Năm 1960 Thày Thích Minh Tịnh tục danh là Lê Hồng Vân tọa chủ Chùa Phước Long ở Thôn Lộ Bàn, Xã Phổ Bình, Quận Đức Phổ, vô cớ bị bắt giam tra tấn cực kỳ dã man và bị vu khống là cán bộ cộng sản. Sau một thời gian tra tấn tù đày, Thầy Thích Minh Tịnh được trở về chùa mang theo nhiều vết thương và bệnh tật trên mình. Nhưng được ít lâu Thày lại bị bắt và bi vu khống là xâm phạm thuần phong mỹ tục (với phụ nữ). Đứng trước sự vu khống trắng trợn này người phụ nữ bị tình nghi dan díu với Thày Thích Minh Tịnh đã hơn một lần làm đơn kêu oan cho Thày lên tòa án do đấy Thày mới được phóng thích. Nhân Ngày Thành Đạo (tức ngày 13-1-1962) Chi Công An Quận Đức Phổ lại bắt Thày Thích Minh Tịnh, tra tấn cực hình rồi hạ ngục với tội mà họ tự dựng đứng lên là Thày tiếp tế cho Việt cộng." (*)

2. Tỉnh Bình Định: "Ngày 15/13/1961 tại Vức Diêm Vân thuộc Khuôn Hội Phước Thuận, Quận Tuy Phước, các Phật tử là Nguyễn Giang, Trần Tích Trần Cang bị ghi vào danh sách di dân mặc dầu những người này thuộc hạng giàu có nhất trong vùng. Nguyên do chỉ vì họ đã bỏ tiền làm chùa và là Phật tử. Ngày 12/12/1961 tại Thôn Quảng Vân, Xã Phước Thuận, Quận Tuy Phước những đạo hữu là Trần Thích, Trần Cũng, Trần Chim, Lê Có là những người giàu có nhất vùng nhưng bị bắt đi di dân chỉ vì họ là những người theo đạo Phật. Ngày 21/11/1961 ông Nguyễn Đức Chỉnh mang thẻ căn cước số T300048. A001077 tại Thôn Lạc Điền, Xã Phước Thắng, Quận Tuy Phước, công an tới nhà tịch thu thẻ căn cước và bắt buộc phải di dân, chỉ vì ông là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Ngày 15 và 16/11/1961 công an Xã Phước Thắng, Quận Tuy Phước đã thu giấy kiểm tra các đạo hữu ở các Khuôn Lạc Điền: Gia đình đạo hữu Nguyễn Vi 4 thẻ, gia đình Trần Ân 2 thẻ, gia đình Nguyễn Văn Cương 2 thẻ, gia đình Bùi Xuân Bình 4 thẻ, gia đình Trần Cao Thăng 1 thẻ; tại Vức Hội, Phổ Đồng: Gia đình Võ Lý Bá 2 thẻ, Nguyễn Bong 5 thẻ, Lê Thị Ngưu 3 thẻ, Võ Thị Phiếm 1 thẻ; Vức Hội An Lợi: Gia đình Lê Tòng 4 thẻ, Trần Khánh Đinh 2 thẻ, Phạm Thẩm 2 thẻ. Tổng số đạo hữu bị thu thẻ căn cước là 33 người. Những người này đều bị bắt đi di dân vì họ là Phật tử."

3. Tỉnh Phú Yên: "Ngày 24/6 năm Tân Sử, tại Xã Xuân Phước, Quận Đồng Xuân, có một ông thày đến giảng đạo Thiên Chúa tên là Tùng. Đã cấu kết với tên Phan Khằn là trưởng ban quản trị Làng Phước Hòa, bắt hai đạo hữu Trần Thư và Mai Phước Hữu. Ông Khằn lại còn đe dọa nếu không chịu rửa tội thì đừng trách là không nói trước. Ông Võ Oanh pháp danh Tâm Tiếng, 41 tuổi, thẻ kiểm ra số 20A.0664 cấp ngày 30/10/1955 tại Tuy Hòa và vợ là Lê Thị Bàn pháp danh Tâm Kính cùng ở Làng Trường Thạnh, Xã Hòa Vinh đều bị bắt ra quận giam ngày 24/1/1962 và buộc phải theo Thiên Chúa Giáo mới được tha. Bà Lương Thị Phượng 30 tuổi, kiểm tra số 31B.0030 tại Thôn Phú Thạnh, Xã Hòa Quang, ủy viên Tỉnh Hội Phật Giáo Phú Yên. Ngày 20/8/1961 có làm đơn nhờ Tỉnh Hội Phật Giáo Phú Yên can thiệp về việc chồng bà là ông Đặng Dương Oai bị Đặng Sĩ, dân vệ Xã Hòa Quang bắt đi mất tích vào hồi 8 giờ sáng ngày 21/1/1961 mãi tới nay không thấy tin tức. Nguyên do chồng bà bị bắt chỉ vì là người có công với Phật Giáo tại địa phương này. Theo đơn thưa của Ban Trị Sự Khuôn Hội Phật Giáo Hòa Vinh ngày 27/11/1961 v/v chính quyền địa phương đã bắt cóc thủ tiêu các hội viên dưới đây: a) Lê Đức Ngưng b) Võ Cho c) Một số hội viên không ở trong ban quản trị khuôn hội cũng bị hội đồng xã bắt và buộc phải theo Thiên Chúa Giáo mới cho về d) Bà Hà Thị Đam 60 tuổi nạp đơn lên Tỉnh Hội Phật Giáo Phú Yên xin can thiệp về việc chồng bà là Nguyễn Chuyển 60 tuổi bị hội đồng xã bắt đi đem chôn sống. Bà Nguyễn Thị Thiện làm đơn thưa về việc chồng bà là Đỗ Thìn bị bắt đi đem chôn sống. e) Ông Võ Xuân Chính cán bộ tư pháp Xã Xuân Phước, Quận Đồng Xuân hăm dọa và bắt giam Phật tử Lê Hồng Hải. Sau khi giam 17 ngày Chính buộc ông Hải phải theo Thiên Chúa Giáo mới toàn mạng sồng. g) Bà Hà Thị Voi, Xã Phước Hòa ngày 12/4/1961 cũng bị Võ Xuân Chính vu cho là Việt cộng và bắt ép phải theo Thiên Chúa Giáo mới toàn mạng sống. h) Ông Trần Kỷ 43 tuổi ở Làng Phú Xuân, Xã Xuân Phước bị Nguyễn Cù và Lê Ngọc Mai thuộc chính quyền địa phương bắt ép phải bỏ Phật Giáo để theo Thiên Chúa Giáo ngày 26/8/1961. i) Khuôn Hội Phật Giáo Xã Hòa Quang có những đạo hữu sau đây đã bị chính quyền địa phương thu thẻ kiểm tra và buộc theo Thiên Chúa Giáo: Trần Di thôn Mậu Lâm, Phan Đích thôn Thạnh Lâm, Ngô Thị Ràng và chồng ở Thạnh Lâm. k) Ông Đỗ Sửa bị Trần Văn Thiện và Lê Năng Đắc bắt tra tấn vu cho là Việt cộng, nếu theo Thiên Chúa Giáo sẽ được thả. l) Bà Nguyễn Thị Đôn và chồng Lê Trung Thành bị Trần Văn Thiện, Lê Năng Đắc, Dương Nhảy bắt giam và ép vào Thiên Chúa Giáo mới tha." Theo tác giả " Trên đây chỉ là hồ sơ đại cương của 21 vụ trong số 50 vụ của ba Tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên từ năm 1960-1961. Còn những năm về sau chưa kể tới…Dân tộc Việt Nam quen nhẫn nhục chịu đựng, nhưng sức người có hạn mà sự hà hiếp, đàn áp, khủng bố của chính quyền Ngô Đình Diệm ngày một gia tăng quá mức, nên trước sự mất còn của Đạo, họ phải vùng lên công khai chống đối lại bạo lực, chống đối lại cường quyền. Việc phải đến đã đến!" (*)

Phần Thứ II: Cuộc Tranh Đấu Phát Khởi tại Huế

Vụ hạ cờ Phật Giáo trong đại lễ Phật Đản tại Huế được tác giả dẫn chứng bằng công điện đánh đi vào lúc 5 giờ ngày 6/5/1963 theo chỉ thị của Ngô Đình Diệm và "bản sao bức công điện đã được Tỉnh Trưởng ký tên chuyển tới Thượng Tọa Thích Trí Quang vào hồi 20 giờ 30 ngày 6/5/1963: Trân trọng yêu cầu qúy liệt vị giáo hội thông báo cho các cơ quan phụng tự và các tín đồ thi hành đúng chỉ thị trên đây của tổng thống." Sau đó Thượng Tọa Thích Trí Quang được ủy thảo bức điện văn: một gửi cho Hội Phật Giáo Thế Giới, một gửi cho Ngô Đình Diệm và một gửi cho các tập đoàn Phật Giáo Việt Nam. Điện văn gửi Ngô Đình Diệm viết như sau "Phật Giáo rất xúc động nhận được công điện 9195 không cho treo cờ Phật Giáo Thế Giới trong đại lễ Phật Đản quốc tế. Chúng tôi không tin rằng quyết định đó phát xuất từ Tổng Thống. Thỉnh cầu Tổng Thống ra lệnh điều tra và thu hồi công điện trên. Trân trọng." (*)

Cả ba điện văn nói trên đều do Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo VN ký tên. "Nhưng ba bức điện văn này đã bị chánh quyền địa phương can thiệp không cho đánh đi. Viên Tỉnh Trưởng Thừa Thiên Nguyễn Văn Đẳng đã thân hành tới Chùa Từ Đàm mời Thượng Tọa Thích Trí Quang và hai thượng tọa nữa tới tư dinh Cố Vấn Miền Trung Ngô Đình Cẩn để hội kiến. Về phía chính quyền có Ngô Đình Cẩn, Bùi Văn Lương – Bộ Trưởng Nội Vụ, Nguyễn Văn Đẳng – Tỉnh Trưởng Thừa Thiên. Bùi Văn Lương chịu về Sài Gòn để gấp thỉnh cầu Ngô Đình Diệm thu hồi công điện số 9195, nếu không được khắp toàn quốc thì ít ra cũng phải ở Huế." (*)

Nhưng "Công việc chưa giải quyết xong thì ngay buổi chiều hôm đó 7/5/63 cảnh sát đi khắp Thành Phố Huế, tự tay triệt hạ cờ Phật Giáo và xé nát, lại còn công khai đánh đập chửi rủa, đe dọa bắt bỏ tù những tín đồ Phật Giáo có thái độ phản đối. Tất cả tượng Phật thờ trong nhà và đèn lồng treo ngoài cửa của các tư gia đều bị đập phá tan nát. Nhân dân khắp Thành Phố Huế sục sôi, căm phẫn. Họ ùn ùn kép tới Chùa Từ Đàm…Thượng Tọa Thích Trí Quang phải đứng ra dàn xếp mọi công việc. Thượng Tọa đề nghị ban tổ chức Lễ Phật Đản mời viên tỉnh trưởng Thừa Thiên hoặc đại diện tới Chùa Từ Đàm để giải quyết sự kiện trên nhưng chính quyền địa phương từ chối cuộc tiếp xúc này." (*)

Thượng Tọa Trí Quang phải cùng quý Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng Pháp Chủ Thích Huyền Tôn, Thượng Tọa Thích Mật Hiển, Thượng Tọa Thích Thanh Trí và mấy vị thượng tọa khác tới tỉnh đường để gặp viên tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng. Trong khi đó khoảng 5000 Phật tử tụ tập trước tòa tỉnh để nghe ngóng, chờ đợi phản ứng của chính quyền. Viên tỉnh trưởng giải thích là cảnh sát đã quá "sốt sắng" chứ thực ra ông ta chỉ ra khẩu lệnh khuyên đồng bào triệt hạ đèn và cờ Phật Giáo, nếu họ không nghe thì thôi. Thượng Tọa Trí Quang yêu cầu cho xe Thông Tin loan báo trước 21 giờ là cờ Phật Giáo không bị triệt hạ để cử hành đại lễ. Viên tỉnh trưởng bằng lòng. Sáng hôm sau 8/5/1963 là ngày đại lễ. Các Phật tử tập trung tại Chùa Diệu Đế để rước tượng Phật lên Chùa Từ Đàm là nơi cử hành Lễ Phật Đản. "Như mọi năm, vào lúc 20 giờ Ngày Phật Đản, đài phát thanh Huế sẽ dành riêng để phát thanh về Phật Giáo và các Phật tử sẽ đứng quanh khu đất trống của đài để nghe. Nhưng năm nay, mọi người tụ họp lại chờ đợi mãi mà đài phát thanh không nói gì. Mọi người xôn xao bàn tán tỏ vẻ bất bình. Thượng Tọa Trí Quang tới đài can thiệp nhưng không có kết quả. Chính quyền địa phương lo ngại, sợ biến thành cuộc biểu tình phản đối nên phải cho xe cứu hỏa tới xịt nước giải tán, sau dùng lựu đạn cay và bắn đạn mã tử. Nhưng ngọn lửa vì Đạo đang dâng lên ngùn ngụt. Tiếng la ó phản đối át tiếng súng." (*)

Thượng Tọa Thích Trí Quang yêu cầu viên tỉnh trưởng cho ngưng xịt nước để Phật tử yên ổn ra về thì "Viên Phó Tỉnh Trưởng Nội An Đặng Sĩ đã bất chấp quyền tỉnh trưởng, huy động xe tăng, thiết giáp ủi vào đám người vô tội, trong tay không có một thư khí giới nhỏ." (*)

Kết quả 08 em nhỏ đã bị giết hại. Quý vị có thể xem tấm hình thảm sát tại đài phát thanh Huế và hình gia đình nạn nhân đang cầu siêu tại chùa nơi trang 28 & 31.

Chuyện đáng lý ra có thể giải quyết êm đẹp nếu như Ngô Đình Diệm thật sự là tổng thống "anh minh". Nhưng "Máu người Phật tử đã đổ để tranh đấu cho ngọn cờ Phật Giáo được tung bay." (*) Và cuộc đấu tranh khốc liệt bắt đầu bằng: Bản Tuyên Ngôn của Tăng, Tín Đồ Phật Giáo Việt Nam do Hòa Thượng Thích Tường Vân – Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ký tên và được gửi cho Ngô Đình Diệm và Đại Biểu Chính Phủ Trung Nguyên – Trung Phần. "Sau  đó một phái đoàn Phật Giáo vào yết kiến Ngô Đình Diệm tại Dinh Gia Long nhưng kết quả cũng không đi tới đâu." (*) Trong tấm hình nơi trang 32 chúng ta thấy có TT. Ngô Đình Diệm, TT. Thích Tâm Châu, TT. Thích Thiện Hoa và một vị nữa đeo kính mát, không biết có phải là TT. Thích Thiện Minh hay không?

Rồi cuộc đấu tranh bắt đầu lan rộng vào Sài Gòn với sự kết hợp của nhiều tông phái Nam Tông cũng như Bắc Tông bằng sự ra đời của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo qua Bản Tuyên Ngôn ngày 25/5/63

"Đồng lòng:  Ủng hộ năm nguyện vọng tối thiểu và thiêng liêng nhất của Phật Giáo Việt Nam. Thệ nguyện đoàn kết đến cùng trong cuộc tranh đấu bất bạo động và hợp pháp để thực hiện những nguyện vọng ấy." (*)

- Tại Sài Gòn các vị thượng tọa chuẩn bị lễ cầu siêu cho những Phật tử bỏ mình ở Huế vào ngày 15-5-1963.

- Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế ra tâm thư gửi đồng bào toàn quốc "Chúng tôi báo nguy cho đồng bào toàn quốc sự kỳ thị tôn giáo đã đến giai đoạn trầm trọng và nỗi lầm than của tín đồ Phật Giáo Việt Nam cũng đã dâng cao…" (*) "Thấy phong trào Phật Giáo tranh đấu lan rộng và nhanh quá, chính quyền Ngô Đình Diệm liền ra mặt thẳng tay đàn áp Phật Giáo. Chúng dùng đủ mánh khóe, thủ đoạn để dẹp phong trào Phật Giáo đang ồ ạt dâng lên. Nào tung người vào trong nội bộ Phật Giáo để chia rẽ, xúi giục những gia đình có con em tử nạn trong vụ đàn áp ở Huế rút tên ra khỏi danh sách Phật tử, nào cho mật vụ tới các chùa chiền canh chừng, dò xét, hăm dọa theo dõi và khủng bố Phật tử." (*)

Phần Thứ III: Ngọn Lửa Thích Quảng Đức

Trong giai đoạn này, Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế lại ra tâm thư gửi sinh viên học sinh toàn quốc kêu gọi đấu tranh cho "Lý tưởng tự do, bình đẳng."

Rồi vào ngày 31/5/1963 Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế trong đó có: Đại diện các trường Đại Học Y Khoa, Đại Học Sư Phạm, Đại Học Văn Khoa, Đại Học Luật Khoa, Đại Học Khoa Học, Viện Hán Học, Trường Cán Sự Y Tế Điều Dưỡng, Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật, Trường Quốc Gia Âm Nhạc cùng ký tên gửi Tổng Thống và Chính Phủ VNCH kiến nghị 4 điểm trong đó "Yêu cầu Tổng Thống và Chính Phủ thực thi tính cách tự do dân chủ và bình đẳng thật sự là lý tưởng mà toàn thể thanh niên trí thức hằng thiết tha cầu đạt. Yêu cầu chính phủ tìm mọi biện pháp để đánh tan sự chia rẽ trầm trọng giữa dân tộc hiện tại do chính sách bất bình đẳng tôn giáo gây nên. Yêu cầu  chính phủ ra lệnh triệt để đình chỉ những mánh lới trẻ con thiếu trí thức của cán bộ đối với tín đồ Phật Giáo trong cuộc tranh đấu. Vì chính những mánh lới đó không lừa bịp được ai mà chỉ mất uy tín của cán bộ và của chính phủ." (*)

"Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn cố tình làm ngơ trước sự đòi hỏi nồng nhiệt và chính đáng của tăng, ni, Phật tử và thẳng tay đàn áp, khủng bố, bất chấp cả dư luận trong, ngoài nước." (*) Thế nên "Vào ngày 11/6/1963 Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự nguyện tự thiêu thân cúng dường Phật pháp, để làm động cơ thúc đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm phải giải quyết gấp rút 5 nguyện vọng của Phật Giáo và giải tỏa ba ngôi chùa ở Huế đang bị vây khốn." (*) Chúng ta có thể nhìn thấy tấm hình HT. Thích Quảng Đức đang đứng trang nghiêm trước sân Chùa Quan Thế Âm (trang 58), hình HT. Thích Quảng Đức ngồi kiết già giữa ngã tư Đường Lê Văn Duyệt & Phan Đình Phùng (trang 59), hình HT. Thích Quảng Đức ngồi uy nghi trong biển lửa (trang 60), hình ngài ngã xuống, thân thể cháy gần thành than nhưng tay vẫn giữ Ấn Tam Muội (trang 61) và hình ngài đang bình thản viết Lời Nguyền Tâm Huyết tại Chùa Ấn Quang gửi Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong đó lời lẽ thật cảm động "Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật Giáo Việt Nam ghi trong Bản Tuyên Ngôn. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật Giáo Việt Nam được trường tồn, bất diệt. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc." (*) 

Ngoài sự ngưỡng mộ và ngạc nhiên của toàn thế giới. Riêng tác giả đã nhận định như sau về việc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức "Trước sự hy sinh bảo vệ Phật Pháp vô cùng cao cả, hào hùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức, thiết tưởng khó có ngòi bút nào có thể viết nổi, cho dù viết cả ngàn trang vẫn không đủ lời để ca tụng cái đẹp thánh thần, ngàn năm có một đó." (*) Cảm nghĩ này giống như nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ Lửa Từ Bi:

Lửa! Lửa cháy ngất toà sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhòa lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc

Chỗ người ngồi: một thiên thu tuyệt tác

Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác.

Và chỉ nguyện được là rơm rác.

Sau đó nhục thân của Hòa Thượng được rước về quàn tại Chùa Xá Lợi. Hằng ngày không biết bao nhiêu đồng bào, Phật tử tới chiêm bái, phúng viếng. Vì "Ảnh hưởng của việc tự thiêu của Bồ Tát Thích Quảng Đức vộ cùng rộng lớn nên chính quyền Ngô Đình Diệm hoang mang, bối rối, sợ sệt. Chúng tăng cường cả một lực lượng khổng lồ cảnh sát, công an, mật vụ bao vây quanh Chùa Xá Lợi. Một tuần lễ sau, ngày 16/6/1963 hằng trăm ngàn Phật tử từ các nơi kéo về để chờ đưa linh cữu Hòa Thượng Thích Quảng Đức lên An Dưỡng Địa…và cảnh sát, công an, cảnh sát chiến đấu, mật vụ đã vây chặt các ngả đường và đàn áp bằng lựu đạn cay, ma- trắc." (*) Chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh chống trả của quần chúng Phật tử trên đường phố Sài Gòn, nơi các tấm hình ở các trang 65 & 66.

Phải đợi tới ngày hôm sau 17/6/1963 sau khi Bản Thông Cáo Chung được ký kết vào lúc 1:30 đêm ngày 16/6/1963, chính quyền Ngô Đình Diệm mới cho phép làm lễ rước linh cữu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức tới An Dưỡng Địa. Những dãy nhà hai bên đường, khi đoàn xe tang đi qua, dân chúng lén bày bàn, thắp hương, làm lễ vô cùng trang trọng, kính cẩn. Dưới sức nóng ngót 4000 độ, dù thiêu hai lần mà trái tim của ngài vẫn còn nguyên. "Cả thế giới đều xúc động, bàng hoàng về ngọn lửa và Trái Tim Bồ Tát Thích Quảng Đức nhưng chỉ có anh em họ Ngô là dửng dưng không xúc động lại còn tỏ ra căn uất. Trong một thông điệp kêu gọi dân chúng, Ngô Đình Diệm đã trắng trợn phủ nhận sư hy sinh cao cả của Bồ Tát Thích Quảng Đức lại còn gán cho là "một vụ mưu sát". Còn Trần Lệ Xuân – vợ Ngô Đình Nhu thì gọi là một vụ nướng người. Thiết tưởng tôi chẳng cần ghi thêm lời lẽ của họ nữa e làm bẩn mắt, rác tai bạn đọc"

Phần Thứ IV: Giai Đoạn Tranh Đấu Quyết Liệt

Do ảnh hưởng của cuộc tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức, chính quyền Ngô Đình Diệm miễn cưỡng phải làm bộ hòa hoãn và một cuộc họp kéo dài 3 ngày (14/6-16/6) tại Hội Trường Diên Hồng giữa Ủy Ban Liên Bộ do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cầm đầu và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo bao gồm: TT. Thích Thiện Minh- Trưởng Phái Đoàn. Đoàn viên gồm: TT. Thích Tâm Châu, TT. Thích Thiện Hoa, TT. Thích Huyền Quang (Thư Ký) và Đại Đức Thích Đức Nghiệp (Phó Thư Ký) và Bản Thông Cáo Chung ra đời với chữ ký (Khán) của Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Thích Tịnh Khiết và Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong đó có những điểm chính như sau:

- Tách hiệp hội có tính các tôn giáo ra khỏi Dụ Số 10

- Chính phủ sẽ lập một Ban Điều Tra để xét lại các hồ sơ khiếu nại của Phật Giáo

- Tất cả những ai có liên quan đến cuộc vận động thực hiện 5 nguyện vọng của Tổng Hội Phật Giáo đề ra bất luận ở đâu sẽ được Tổng Thống đặc biệt khoan hồng. (Đoạn này phải hiểu là tất cả những ai bị bắt vì tranh đấu cho Phật Giáo phải được thả ra)

- Chính phủ sẽ xác nhận lệnh sửa sai đã ban ra cho các cán bộ để thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo của chính phủ (Đoạn này phải hiểu là chính phủ đã thấy sai trước đây và ban hành lệnh sửa sai (chuyện này có thật không?) nay ban hành lệnh mới để "xác nhận" mệnh lệnh đó, tự hậu cấm không được làm sai nữa.)

- Những cán bộ có trách nhiệm về các vụ xảy ra từ ngày 8/5/1963 (tức từ ngày nổ ra vụ triệt hạ cờ Phật Giáo) bất kỳ thuộc thành phần nào cũng sẽ bị nghiêm trị, nếu cuộc điều tra đang tiến hành chứng tỏ lỗi của họ.

- Các gia đình nạn nhân ở Huế đã được trợ giúp kịp thời và có thể được trợ giúp thêm tùy theo gia cảnh từng người.

"Sau khi Bản Thông Cáo Chung được công bố, người người đều tưởng tất cả mọi việc sẽ diễn ra êm đẹp. Nhưng không! Ngô Đình Diệm vốn ngoan cố, quỉ quyệt, phản trắc đã ngấm ngầm truyền lệnh cho bọn tay sai trong toàn quốc triệt hạ bằng được Phật Giáo." (*) Sau đây là những biến động xảy ra sau ngày ký kết Bản Thông Cáo Chung:

- Ngô Đình Diệm và Ngô Trọng Hiếu dàn dựng lên cái gọi là "Giáo Hội Cổ Sơn Môn" và đánh điện tín cho Trung Tâm Điểm Phật Giáo Thế Giới tại Tích Lan vu khống Phật Giáo Việt Nam lợi dụng danh nghĩa để hoạt động chính trị, nhưng bị Trung Tâm Điểm bác bỏ với lập luận như sau "Chúng tôi cũng biết rằng tại Việt Nam cũng có một Tổng Hội Phật Giáo và theo như chỗ chúng tôi biết Tổng Hội này có đủ uy tín để đại diện và thay lời cho Phật tử ở Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng Tổng Hội Phật Giáo này không bao giờ làm những điều gì, hoặc thái độ nào có thể gọi là phản Phật Giáo." (*) Tổng Thư Ký W.P. Daluwatte ký tên. (Toàn văn thư phúc đáp nơi trang 81)

- Ngày 18&19/6/1963, chỉ ba ngày sau ngày ký Thông Cáo Chung, Phòng Thông Tin Sông Cầu (Phú Yên) đã tổ chức tại các Xã Xuân Phương và Xuân Lộc hai cuộc mít-tinh, lập kiến nghị lên án nặng lời việc làm của Phật Giáo. Ở Xã Nhân Hòa, Quận An Nhơn, Tỉnh Bình Định dân chúng cũng bị bắt buộc phải làm kiến nghị như thế.

- Chùa Phật Giáo ở Quảng Trị hiện còn đang bị phong tỏa và sự lùng bắt các cán bộ Phật tử, thanh niên Phật tử mạnh mẽ hơn lúc nào hết.

- Sự đi lại của tăng ni giữa các tỉnh và thủ đô bị chặn lại, mời trở lui hay xe đò từ chối bán vé vì có lệnh cấm của nhà chức trách địa phương.

- Tăng ni, Phật tử lui tới các Chùa Xá Lợi, Ấn  Quang, Giác Minh bị mật vụ biên số xe theo dõi tới tận nhà hăm dọa.

- Cao Xuân Vỹ – Tổng Giám Đốc Nha Thanh Niên dự định tổ chức một cuộc biểu tình đại qui mô với lực lượng Thanh Niên – Thanh Nữ Cộng Hòa yêu cầu tổng thống duyệt lại Bản Thông Cáo Chung.

- Nhiều cấp quân-cán-chính đã được chỉ thị nhân nhượng trước khí thế tranh đấu của Phật Giáo và đợi lệnh phản công.

Tất cả những tin tức này nằm trong thư tố cáo" Kính đệ Tổng Thống VNCH" do Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết ký này 26/6/1963 mà đoạn cuối bày tỏ sự tôn kính uy quyền của vị nguyên thủ quốc gia như sau "Tôi trân trọng kính xin Tổng Thống cương quyết tỏ rõ quyền uy lãnh đạo quốc dân của Tổng Thống, gạt bỏ mọi điều xàm tấu nguy hại và nhất định cho thi hành thẳng thắn Bản Thông Cáo Chung để cho toàn dân hân hoan ca ngợi, và đồng thời để xóa nhòa những ấn tượng không hay của những ngày qua mà quyền lợi tối cao của quốc gia dân tộc bắt buộc phải để cho trôi theo giòng nước của dĩ vãng. Xin Tổng Thống nhận lòng kính mến của tôi và toàn thể Phật Giáo đồ trong nước." (*)

- Ngày 12/7/1963 TT. Thích Thiện Minh đại diện cho Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo gửi thư cho Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ tố cáo:

1) Những vị phạm có tính cách công khai Bản Thông Cáo Chung: Như công an bao vây Chùa Xá Lợi ngay trước cửa Dinh Phó Tổng Thống. Cảnh sát và công an Quận Tân Bình ồ ạt bao vây Chùa Quan Âm của Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Ở Bình Định suốt ba đêm 24,25&26 nhiều loạt đạn bắn vào Tu Viện Nguyên Thiều suýt gây tai nạn cho các vị sư ở trong ấy. Tại Tỉnh Hội Khánh Hòa, có bàn tay bí mật đập phá khuôn kính và lấy đi hình ảnh của Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức, đốt chiếc xe của ông Trần Quang Ba là chiếc xe thường cho chùa mượn xử dụng. Chùa Quan Âm Quận Quảng Long, Tỉnh An Xuyên (Cà Mau) bị khủng bố bằng tạc đạn khiến tăng ni phải tản cư đi nơi khác. Hai tập đoàn Phật Giáo Miền Trung đã than phiền với ông Đại Biểu Chính Phủ tại Huế rằng công chức và quân nhân Phật tử bị cấm cản đi chùa ở nhiều nơi. Những người bị bắt trong cuộc vận động của Phật Giáo chưa được thả hết còn nhà sư Đặng Văn Cát thì mất tích luôn, mặc dù Phó Tổng Thống nói rằng chính quyền không hề bắt nhà tu hành ấy. Còn Ni Cô Trang Thị Thắm căn cước số 733.126 bị mất tích bỗng nhiên xuất hiện sáng ngày 12/7/1963 tay chân bị trói bằng giây thép và bỏ nằm trước cửa Chùa Huê Lâm.

2) Những vi phạm có tính cách nguyên tắc quan trọng: Công điện MẬT từ Phủ Tổng Thống đánh đi chỉ thị cho các cấp quân-chính "Phải tạm thời nhún nhường trước khí thế đấu tranh quyết liệt của bọn tăng ni và Phật Giáo phản động và chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới theo kế hoạch sẽ gửi đến sau." (*) Các tài liệu chính huấn cho tổ chức Thanh Niên Cộng Hòa nhục mạ và vu khống Phật Giáo lại được đài phát thanh quốc gia đọc đi đọc lại nhiều lần. "Tại sao cơ quan thông tin của chính phủ lại cho công bố những tài liệu chống báng lập trường của chính phủ và chủ trương tốt đẹp của Tổng Thống trong việc ký kết Bản Thông Cáo Chung?" (*)

Nơi trang 95 tác giả đã nói về cái chết của Nhất Linh vào ngày 7/7/1963 và thuật lại đám tang của nhà văn nổi tiếng trong Tự Lực Văn Đoàn này. Đây đúng là "trái bom nổ" vào thời kỳ căng thẳng và "đã gây một mối xúc động lớn cho tất cả các giới trong nước và ảnh hưởng rất lớn tới cuộc tranh đấu của Phật Giáo." (*)

Phần Thứ V: Tranh đấu thực thi Thông Cáo Chung

Do chính quyền Ngô Đình Diệm không thực thi những gì đã ký kết "Nhân dân trong nước nói chung, Phật tử nói riêng, sục sôi, căm hận đến tận cùng độ. Nhất là giới sinh viên học sinh ở Huế và Sài Gòn. Họ bỏ học để hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và phản đối hành động quỷ quyệt phản bội của cường quyền." (*)

- Ngày 16/7/1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ra tâm thư gửi quý đại đức tăng ni và đồng bào Phật Giáo kêu gọi "Quý liệt vị hãy cùng chúng tôi thề hy sinh đến người cuối cùng cho nguyện vọng chân chính của chúng ta và tung hô Phật Giáo Việt Nam Bất Diệt" (*)

- Nơi trang 103 quý vị có thể thấy tấm hình TT. Thích Tâm Châu và các tăng ni đang đứng biểu tình hơn hai tiếng đồng hồ trước tư dinh Đại Sứ Mỹ Nolting (người hết lòng bênh vực Ngô Đình Diệm, sau bị triệu hồi)

- Nơi trang 105& 106 hình ảnh chư tăng ni tuyệt thực tại Chùa Xá Lợi và Chùa Ấn Quang và nơi trang 107 hình ảnh của cuộc biểu tình khổng lồ của đồng bào tại Đường Phan Thanh Giản, khu vực Chùa Giác Minh cùng với công an, cảnh sát, mật vụ và kẽm gai giăng đầy.

- Rồi hình ảnh Phật tử đi thăm quý thầy, quý cô tuyệt thực rồi biến thành cuộc biểu tình với những biểu ngữ đòi chính quyền thực thi Bản Thông Cáo Chung. (trang 108)

- Nơi trang 111 quý vị có thể thấy hình Đại Đức Thích Quảng Độ đương giải thích cuộc tranh đấu của Phật Giáo trong khi đó xe thông tin của chính quyền oang oang nói chõ vào để quấy nhiễu và lực lượng công an, cảnh sát, mật vụ áp tới "Gậy gộc, báng súng tới tấp quất xuống đầu, xuống lưng những kẻ vô tội. Tiếng la ó, phản đối, kêu thét phản đối vang lừng. Một số tăng ni chịu chung số phận như các Phật tử: bị bóp cổ, bẻ gẫy tay, đánh vỡ đầu, máu me chảy ròng ròng ướt đẫm cả bộ áo tu hành." (*)

- Cùng ngày 17/7/1963 vào lúc 8:15 sáng, một cuộc biểu tình khác xảy ra từ Chùa Xá Lợi tới Chợ Bến Thành được mệnh danh cuộc biểu tình "đại tốc hành" bao gồm 400 tăng ni. Khi tới Chợ Bến Thành biểu ngữ "Yêu Cầu Chính Phủ Thực Thi Bản Thông Cáo Chung" được căng lên thì công an, cảnh sát chiến đấu vây chặt và bắt phải hạ biểu ngữ và cờ Phật Giáo xuống. Nhưng "tăng ni sẵn sàng chịu chết chứ quyết không hạ cờ Phật Giáo và biểu ngữ." (*) (trang 115) và "cảnh sát chiến đấu như đàn cọp dữ ào ào sấn lại đấm đá, đánh đập túi bụi vào đầu, vào mình các tăng ni. Rồi cứ hai, ba tên túm một nhà sư quăng lên xe hơi trong khi các vị này cố níu lấy tay nhau chống đỡ. Cuộc giằng co, níu kéo giữa lũ sát nhân và các nhà tu diễn ra gay go" thì Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành Trần Văn Tư xuất hiện và thi hành độc kế. Y làm bộ thân thiện, bắt tay một vị đại diện tăng ni rồi nói "Tôi lấy danh dự cá nhân và tư cách đại diện chính phủ xin thề với ông rằng chúng tôi sẽ đưa các ông về Chùa Xá Lợi. Nhưng khi quý tăng ni lên xe rồi thì đoàn xe phóng thẳng ra tới Đường Lục Tỉnh rồi phóng vụt tới An Dưỡng Địa nằm giữa cánh đồng hoang vắng có sẵn công an, cảnh sát và hàng rào kẽm gai chờ đón." (*)

- Vào ngày 18/7/1963 Ngô Đình Diệm đọc một bản thông điệp mục đích làm dịu cuộc đấu tranh của Phật Giáo "Tôi mong đồng bào hãy ghi nhận ý chí hòa giải tột bực của chính phủ…" (*)

- Ngày 19/7/1963 TT. Thích Tâm Châu gửi văn thư kính đệ Tổng Thống VNCH trong đó yêu cầu chính phủ giải quyết 05 điểm:

1) Phóng thích tất cả tăng ni, thiện tín, sinh viên, học sinh, Gia Đình Phật Tử bị bắt bất luận ở đâu trong khắp nước.

2) Tất cả các tăng ni bị bắt nhốt tại An Dưỡng Địa cần phải được trả về Chùa Xá Lợi đầy đủ.

3) Xin chính phủ can thiệp để các báo đăng hoặc các gia đình có người bị bắt hay mất tích mà chưa thấy trở về từ đây tới Chủ Nhật 21/7/1963 kịp thời thông báo cho Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo biết để chuyển đến chính phủ.

4) Xin chính phủ công bố danh sách và truy tố những cán bộ có trách nhiệm trong vụ đổ máu tại Đài Phát Thanh Huế 8/5/1963.

5) Xin chính phủ bồi thường xứng đáng cho các nạn nhân đêm 8/5/1963 và cuộc đàn áp ngày 4/6/1963 tại Huế. Văn thư nói tiếp "Kính thưa Tổng Thống: Toàn thể tăng ni chúng tôi trong Ủy Ban Liên Phái thà chết chứ không chịu để cho lòng tin tưởng của chúng tôi nơi thành tín của chính phủ bị thực tế đánh đổ một lần nữa." (*)

Tại nơi trang 125 quý vị có thể thấy hình ảnh chư tăng ni rời An Dưỡng Địa sau khi Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành Trần Văn Tư và Bộ Trưởng Ngô Trọng Hiếu và phái đoàn báo chí trong và ngoài nước tới.

Những tin tức về cuộc tranh đấu của Phật Giáo trong những ngày qua đã được các Đài VOA, BBC, các hãng thông tấn AP và Stars And Stripes truyền đi và họ đã dùng những danh từ như "kỳ thị tôn giáo". Đài VOA trong buổi phát thanh lúc 12:30 ngày 18/7/1963 cho biết trong cuộc họp báo ngày Thứ Tư, một ký giả đã hỏi TT. Kennedy "Chúng tôi xin Tổng Thống cho biết những nỗi khó khăn hiện giờ giữa Phật Giáo đồ ở Việt Nam và chính phủ Việt Nam có làm trở ngại gì đến nhiều năm viện trợ của Mỹ trong công cuộc chiến đấu chống Việt cộng tại đó không?" (*) Và TT. Kennedy đã trả lời "Tôi hy vọng cuộc tranh chấp này sẽ được giải quyết ổn thỏa, vì lẽ chúng ta muốn thấy có một chính phủ vững vàng ở Việt Nam Cộng Hòa để tiến hành cuộc chiến đấu duy trì độc lập quốc gia của họ." (*)

- Ngày 27/7/1963 Sư Bà Diệu Không, thân mẫu nhà bác học Bửu Hội – đại sứ tại nhiều nước tại Châu Phi mở cuộc họp báo tại Chùa Xá Lợi tuyên bố sẽ noi gương Bồ Tát Thích Quảng Đức để cúng dường Phật pháp. Trong khi đó khoảng 100 người tự xưng là thương phế binh biểu tình dùng máy phóng thanh chĩa vào chùa phản đối và cho rằng Phật Giáo đã bị cộng sản lợi dụng. Một số "thương phế binh" còn nhẩy lên tường rào cao, đạp lên đầu mấy sư đang đứng phía trong, ném tung vào chùa nào là truyền đơn, hình vẽ chiến sĩ đóng khung…ung dung kéo đi diễn hành trên nhiều đường phố trước mắt cảnh sát và cảnh sát chiến đấu đang giữ trật tự cho họ trước chùa. Quý vị có thể thấy tấm hình chụp thương phế bình ngồi trên xe xích-lô biểu tình trên đường phố nơi trang 140.

- Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo ra tâm thư gửi anh em thương phế binh đã biểu tình trước Chùa Xá Lợi trong đó có những đọan như sau: (trang 142 & 143)

"Chúng tôi không lầm thì trong số anh em tàn tật vì đã hy sinh cho quốc gia, đã có trên 80% Phật tử."

"Chúng tôi chỉ phản đối những kẻ chủ trương dợi dụng chiêu bài chống cộng để bắt tội những người này, kẻ nọ là thân cộng, là không chống cộng để nhằm tiêu diệt họ dưới nhiều hình thức trong đó có Phật Giáo."

"Chúng tôi cực lực lên án âm mưu dùng xương máu toàn dân để xây dựng ngai vàng của một nhóm."

- Ngày 30/7/1963 hằng vạn đồng bào và tín đồ đã kéo tới Chùa Xá Lợi nhân lễ chung thất (49 ngày) của HT. Thích Quảng Đức. Cũng trong ngày hôm đó một bản Tuyên Ngôn do TT. Thích Tâm Châu ký tên đã ra đời trong đó có đoạn "Kiểm điểm lại cuộc vận động nói trên đến nay chỉ mới được giải quyết trên giấy tờ và bằng lời nói. Nhưng trên thực tế chưa có một thực thi cụ thể nào khả dĩ làm dịu nỗi đau khổ triền miên của toàn thể Phật Giáo đồ Việt Nam. Ngược lại những thực tế đau lòng ngày càng dồn dập làm cho Phật Giáo đồ mất hết tin tưởng. Dù vậy Phật Giáo đồ Việt Nam quyết định không lìa bỏ tinh thần thuần túy tôn giáo bằng cách áp dụng nghiêm chỉnh phương pháp bất bạo động để đưa phong trào tới mức thành công." (*)

- Ngày 12/8/1963 tại Chùa Xá Lợi, nữ sinh Mai Tuyết An tự chặt cánh tay trái của mình để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo với tấm hình nơi trang 149.

Phần Thứ VI: Sáu ngọn lửa bi hùng tiếp nối ngọn lửa Thích Quảng Đức

- Đại Đức Thích Nguyên Hương tự thiêu và để lại Trần Tình Thư gửi Hòa Thượng Hội Chủ và Quý Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, Tín Đồ Phật Giáo trong và ngoài nước, phát nguyện tự thiêu để "Phản đối tình trạng bắt bớ, khủng bố các tăng, ni, tín đồ Phật Giáo và để hòa nhịp với sự đau buồn của các Phật tử bị thiệt mạng và đang bị thương trong thời gian tranh đấu vì chính pháp." (*) Và bức thư gửi "Tía Má" (Bố Mẹ) ở Phan Thiết, trong đó có đoạn "Tuy thể xác đã vãng nhưng linh hồn con lúc nào cũng nhớ tới tía má. Đến đây con xin ngừng bút, đây là nét cuối cùng của con tiễn biệt tía má, con xin tía má nhận lòng thành kính của con." (*)

- Đại Đức Thích Thanh Tuệ  tự thiêu ở Huế ngày 13/8/1963

- Ni Cô Diệu Quang ba ngày sau tức ngày 15/8/1963 tự thiêu trước Chi Hội Phật Học Ninh Hòa.

- Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu 71 tuổi, tự thiêu tự thiêu tại Huế lúc 4 giờ sáng ngày 16/8/1963 trước sự hộ niệm của chư vị hòa thượng, đại đức, tăng ni và rất đông Phật tử.

- Ngày 5/10/1963 Đại Đức Thích Quảng Hương tự thiêu trước bồn binh Chợ Bến Thành. Khi ngọn lửa bùng lên được mấy phút thì xe cứu hỏa chạy tới xịt nước và đem nhục thân của đại đức đi. Hiện nay chưa ai biết thi hài của đại đức chôn ở đâu.

- Đại Đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu trên vỉa hè đối diện với Nhà Thờ Đức Bà (Sài Gòn) vào lúc 10 giờ sáng ngày 27/10/1963 để lại ba bức thư gửi Hòa Thượng Hội Chủ, Ngô Đình Diệm và Ô. U Thant- Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc.

Phần Thứ VII: Giai đoạn chót cuộc đàn áp Phật Giáo

- Ngày 18/8/1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo tổ chức lễ cầu siêu cho những vị tử đạo tại Chùa Xá Lợi. Khoảng mười vạn người, đủ mọi thành phần đã tham dự buổi lễ này. "Có người cả quyết rằng trong giờ phút này chỉ cần một lời hô của các vị thượng tọa là đám người sẽ bùng bùng kéo tới thẳng Dinh Gia Long đạp bình địa ngay tất cả. Nhưng nhờ sự điều khiển khéo léo, tài ba của của các vị thượng tọa, đại đức nên buổi lễ không xảy ra điều gì đáng tiếc…nên tới 6 giờ chiều, tất cả bằng lòng giải tán."(*)

- Vì Chùa Xá Lợi là nơi tập trung các nhân vật đầu não của Phật Giáo như: HT Hội Chủ Thích Tịnh Khiết, TT. Thích Tâm Châu, TT. Thích Thiện Minh, TT. Thích  Trí Quang, TT. Thích Thiện Hoa cùng các Đại Đức Thích Đức Nghiệp, Thích Quảng Độ, Thích Giác Đức, Thích Hộ Giác cùng Sư Bà Diệu Không cho nên "anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu quyết định cho lực lương đặc biệt tấn công chùa để bắt chư hòa thượng, tăng ni đem đi." Cuộc tấn công hung hãn khởi đầu vào lúc 0:30 khuya ngày 20/8/1963. "Trong lúc một số tăng ni tìm cách thoát cuộc bao vây của cường quyền vượt bức tường bên hông chùa để sang khu vực USOM nhưng bọn cảnh sát đã hay kịp. Những loạt đạn tuôn ra. Vài thây người ngã gục trong đêm tối. Tuy vậy cũng có hai vị thoát được sang địa phận USOM xin tỵ nạn." (*) Cả Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết cũng bị xô ngã mang vết thương nơi mắt. Cuộc tấn công chấm dứt lúc 2:15 sáng. Năm chiếc xe cam-nhông hốt tăng ni về nhà giam.

- Sáng 21/8/1963 Ngô Đình Diệm ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn quốc. Nhưng cuộc tấn công vào Chùa Xá Lợi như đổ thêm dầu vào lửa – một tính toán hoàn toàn sai lầm của anh em Ngô Đình  Diệm.

- Sáng ngày 22/8/1963 sinh viên các trường Đại Học Y Khoa, Cao Đẳng Kỹ Thuật, nổi dậy hưởng ứng cuộc đấu tranh của Phật Giáo. Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu cạo trọc đầu, từ chức để hưởng ứng cuộc đấu tranh.

- Sáng ngày 23/8/1963 sinh viên, học sinh khắp nơi kéo tới Đại Học Luật Khoa để bầu ủy ban tranh đấu.

- Cùng ngày vào lúc 10 giờ sáng sinh viên học sinh tổ chức cuộc biểu tình tai bùng binh Chợ Bến Thành và nữ sinh Quách Thị Trang 15 tuổi đã bị bắn chết và 10 người khác bị thương.

- Cũng trong thời điểm này học sinh các trường Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long, Võ Trường Toản bỏ học, không chịu vào lớp biểu tình phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm. Tại nơi trang 198 chúng ta thấy hình học sinh Chu Văn An biểu tình tại sân trường, cầm cờ Phật Giáo và dùng khăn bịt miệng để phòng ngừa hơi cay. Hình nữ sinh Trưng Vương biểu tình phản đối đàn áp tôn giáo. Tại nơi trang 188 chúng ta thấy tấm hình học sinh Chu Văn An vẽ phấn trên bảng "Ngô Đình Nhu là con quỷ cái. Nhu Diệm độc tài." (*), hình cảnh sát chiến đấu leo lên tường để gỡ những biểu ngữ đả đảo chính quyền Ngô Đình Diệm của học sinh.

- Ngày 24/8/1963 Ủy Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Học Sinh ra mắt tại Đại Học Luật Khoa trước mấy ngàn sinh viên. "Điều đáng nói là trong buổi này có cả sự hiện diện của GS. Vũ Văn Mẫu, GS. Vũ Quốc Thúc và GS. Nguyễn Văn Bông và được hoan nghênh nồng nhiệt." (*)

- Mỗi ngày hàng ngàn sinh viên học sinh bị bắt đưa đi giam tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

- Ở Huế hằng ngàn sinh viên học sinh đã kéo tới ở ngay trong Chùa Từ Đàm để hợp sức với chư tăng ni.

- Ngày 19/9/1963 Liên Hiệp Quốc quyết định ghi vào chương trình nghị sự vấn đề chính phủ Ngô Đình Diệm vi phạm nhân quyền.

- Hồi 0:30 ngày 24/10/1963 phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới Việt Nam để điều tra, Đại Sứ Raman Pazhwak đại diện A Phú Hãn (Afghanistan) làm trưởng đoàn. Phái đoàn đã tiếp xúc với Ô. Nguyễn Ngọc Thơ, Ngô Đình Nhu và viếng thăm Chùa Xá Lợi, Chùa Giác Lâm và tiếp xúc riêng với từng vị thượng tọa, đại đức. Trong dịp này Hòa Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết đã gửi mật thư cho đại sứ trưởng phái đoàn Liên Hiệp Quốc trong đó có những đoạn như sau:

a) Ngày lễ Chúa giáng sinh, tất cả các công sở phải treo đèn kết hoa; hơn thế nữa trước Tòa Đô Chánh Sài Gòn, một trong những hang đá nguy nga đồ sộ được dựng lên bởi toàn lực của cơ quan quân đội cũng như dân chính mà phần lớn là những Phật tử, đài phát thanh trong ba ngày liên tiếp dùng để truyền thanh các buổi thánh lễ và những bài thánh ca, Tổng Thống đọc thông điệp hiệu triệu tất cả quốc dân hướng về ngày đó.

b) Nhà thờ được xây cất tự do bởi sự khuyến khích của viện trợ của chính phủ nhưng Phật Giáo muốn xây chùa chiền phải được phép của chính phủ và điều này rất khó khăn.

c) Trong quân đội có nghành Tuyên Úy Thiên Chúa Giáo trong khi đó 70% binh sĩ Phật tử không có Tuyên Úy Phật Giáo.

"Mục đích của chính phủ hiện tại là muốn biến Miền Nam Việt Nam thành một nước Thiên Chúa Giáo, nên đã thành lập một tổ chức mênh danh là Công Giáo Tiến Hành hoạt động rất mạnh trên toàn lãnh thổ với nhiều kế hoạch rất tinh vi nhắm tiêu diệt Phật Giáo mà tôi xin đơn cử một vài điển hình dưới đây" (*)

a) Đến từng gia đình Phật tử nghèo túng khuyên rửa tội theo Thiên Chúa Giáo bằng cách giúp cho một số tiền, gạo hoặc tìm cho việc làm.

b) Mở các khu dinh điền và khu trù mật gồm toàn những người theo Thiên Chúa Giáo rồi khuyến dụ Phật Giáo đến lập nghiệp và theo đạo, nếu ai không đi sẽ bị đe dọa đủ điều.

c) Lập các Ấp Chiến Lược ở miền quê, bắt dân chúng phải dỡ nhà, tập trung vào một chỗ, tất cả các chùa chiền cũng phải dỡ đi, nhưng khi vào Ấp Chiến Lược chỉ được cất nhà mà không được phép tái lập chùa, trong khi đó thì trong Ấp Chiến Lược được tự do xây cất nhà cửa. Nếu các chùa không chịu dời vào ấp thì nhà sư trụ trì đó bị nghi là lừng khừng.

- Ngày 23/8/1963 Luật Sư Trần Văn Chương (thân phụ Trần Lệ Xuân) – Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ đánh điện từ chức vì chính phủ đàn áp và nhục mạ Phật Giáo.

- Ngày 19/9/1963 Giáo Sư Nguyễn Thanh Thái, một Việt kiều ở Pháp "đã hành động một cách phi thường" (*) bằng cách thản nhiên lấy một con dao găm tự rạch ngực cho máu chảy rồi lấy một cái chén nhỏ bằng bạc, hứng máu viết thư gửi Ô. U Thant – Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tố cáo những tội ác của chính phủ Ngô Đình Diệm. Viết xong ông giơ cao lên cho mọi người nhìn và nói lớn: "Đây là máu của nhân dân quật khởi chống một chính phủ vi phạm nhân quyền." (*)

Phần Thứ VIII: Dư luận thế giới

Bao gồm các báo chí khắp nơi như tờ Straits Times Mã Lai, Tờ Nanyang Siang Pan viết bằng Hoa Ngữ tại Singapore và Miến Điện.

Tại Cao Miên Thủ Tướng Căm Bốt đã bày tỏ thiện cảm với Phật Giáo Việt Nam. Thái Lan các báo chí tại Vọng Các đều đều đăng tải các tin tức liên quan đến những biến cố ở Huế. Trung Hoa Quốc Gia, rồi Lời Hiệu Triệu của Ô. Hội Trưởng Hội Phật Giáo Thế Giới tại Ngưỡng Quang, Miến Điện, Nhật Bản, Ấn Độ, Ai Lao, Đại Hàn, Indonesia, Hongkong.

Tại Hoa Kỳ, báo News and World Report viết như sau "Người Mỹ ở Sài Gòn cho biết cuộc sinh sự với các nhà lãnh đạo Phật Giáo của Ô. Diệm là một lỗi lầm tệ hại nhất từ xưa tới nay…khiến cho vai trò của Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam lâm vào tình trạng khốn quẫn." (*)

Rồi tới các báo chí ở Thụy Sĩ, Anh Quốc, Úc Đại Lợi, Pháp. Riêng tờ Neak Cheat Niyum ra ngày 30/6/1963 trong bài xã luận nhan đề "Bước Đường Cùng Của Sự Dối Gạt" đã viết " Ông Ngô Đình Diệm với những anh em ông ta và người em dâu bất khả xa lìa, đã dùng hai tuần lễ cuối cùng để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tới, những người cuồng tín nhất trong bọn đã nhận được vũ khí và tất cả phải tức khắc ra tay trước khi Phật Giáo đồ thực hiện chủ trương tạo một Thánh Barthelemy như của Gia Tô Giáo. Nói riêng thì tập đoàn này không thể vì cớ gì lùi bước được nữa vì chúng tôi lượm được những tin này tại các trung tâm Gia Tô Giáo người Âu ở Nam Việt Nam." (*)

Tại Bruxelles (Bỉ) Linh Mục Pire- người đoạt giải Nobel về hòa bình, gửi Ô. U Thant – Tổng Thư Ký một bức thư yêu cầu ông gấp rút mở cuộc điều tra tại chỗ để làm sáng tỏ vấn đề.

Tờ Washington Post viết "Phật Giáo đồ khắp Á Châu sẽ có cảm tưởng rằng dù sao Hoa Kỳ cũng dung túng sự kỳ thị tôn giáo. Đó là một cảm nghĩ sai lầm, nhưng trót là bạn của một chế độ độc tài, áp bức nên Hoa Kỳ dù sao cũng bị ảnh hưởng." (*)

Tờ New York Times số ra ngày 19/6/1963 viết "Tình hình ở Sài Gòn đã đến giai đoạn giống hệt như những ngày cuối cùng của Ô. Lý Thừa Vãn tại Hán Thành." (*)

Tờ Sunday Examiner của Thiên Chúa Giáo xuất bản ở Hongkong viết "Mong rằng những người tuy khác đạo giáo nhưng phải tôn trọng giá trị về tôn thờ đạo giáo của họ, và đó là tinh thần bình đẳng tự do con người." (*)

Nữu Ước UPI "Trong khi chính phủ đang cần sự tin tưởng của dân chúng hơn bao giờ hết thì chính phủ lại đang mất sự ủng hộ của tín đồ Phật Giáo chiếm ba phần tư tổng số dân chúng tại Miền Nam Việt Nam." (*)

UPI Hoa Thịnh Đốn ngày 19/7/1963 đưa tin "Hôm Thứ Năm, Thượng Nghị Sĩ Wayne L. Morse nói rằng ông sẽ không đồng ý cho một đô-la nào nữa để ủng hộ cho một chế độ độc ác tàn bạo của TT. Ngô Đình Diệm tại Miền Nam Việt Nam." (*)

Tờ Christian Science Monitor trong bài " Sự Đau Khổ Tại Miền Nam Việt Nam" đã viết "Chế độ gia đình trị của TT. Ngô Đình Diệm đang tự đào hố chôn mình." (*)

Phần Kết Luận:

Không dông dài, trong phần kết luận, tác giả đã kết thúc ngắn gọn như sau:

"Cuộc tranh đấu thần thánh của Phật Giáo Việt Nam đã góp một phần không nhỏ vào cuộc Cách Mạng ngày 1/11/1963 của Quân Đội VNCH lật đổ cường quyền họ Ngô. Phật Giáo đã tô đậm nét vàng son hào hùng vào lịch sử dân tộc.

Phật Giáo đã nói lên tiếng nói bất khuất của dân tộc trước cường quyền. Việc bảy tăng ni châm lửa tự thiêu để tranh đấu cho sự sồng còn của Phật Giáo Việt Nam đã khiến cho cả thế giới cúi đầu kính phục sự hy sinh cao cả, sự can đảm phi thường của người Việt nói chung và Phật Giáo nói riêng.

Ánh sáng của đạo Từ Bi đã khuất phục được cường quyền, đó là bài học vô cùng quý báu để loài người từ nay về sau lấy đó làm gương.

Cuộc tranh đấu của Phật Giáo từ ngày 8/5/1963 tới ngày 1/11/1963 đã mở kỷ nguyên mới cho Phật Giáo Việt Nam: Kỷ nguyên của tranh đấu bất bạo động mà chiến thắng được cường quyền." (*)

http://daovanbinh.cattien.us/?p=582

(California Tháng 8, 2011)

Cước chú:

(***) Ngô Đình Diệm được liêt kê trong cuốn History's 100 Most Evil Despots & Dictators (100 Bạo Chúa và Các Nhà Độc Tài Gian Ác Nhất Trong Lịch Sử) của Nigel Cawthorne do Barnes & Noble xb năm 2006. Nigel đã luận tội Ngô Đình Diệm nơi trang 167 "He sought to prove anti-Communist credentials by brutal repression" ("Ông ta  tạo thành tích chống Cộng bằng đàn áp dã man.") Và nơi trang 168 "Meanwhile he ruthlessly repressed political dissenters and religious factions, and installed member of his familiy in important jobs" ("Trong khi đó ông ta đàn áp không nương tay các nhà đối lập chính trị và tôn giáo đồng thời đưa gia đình nắm giữ những chức vụ quan trọng.")

(*) Những chữ in nghiêng là phần trích dẫn.

Quý vị muốn có bản chụp của cuốn sách  xin liên lạc với tác giả theo địa chỉ:

Thanh Thương Hoàng PO. Box 51625 San Jose, CA 95151-9998. Điều kiện thế nào, tùy tác giả.