18 October 2013

Ai thống trị Việt Nam ngày nay: Đảng Cộng sản hay là Hán Ngụy?

Bài viết của GS Stephen B. Young. Ông qúa thấu hiểu VN và cũng như sử Việt nói chung nên bài của ông qúa chi tiết mà một người VN chúng ta chắc chưa có một bài tương tự. Nhờ phổ biến rộng đến từng tầng lớp dân tại VN/ PQA.

Ông Young, người Hoa Kỳ, Luật sư, nói tiếng Việt, có vợ là người Việt, đã sang VN nhiều lần. Đọc kỹ bài viết, mọi người sẽ thấy cách hành văn của một người ngoại quốc viết tiếng Việt, tuy rất kinh điển v
à rành lịch sử Việt Nam.

Stephen B. Young, Global Executive Director of the Caux Round Table, is a lawyer and writer. He has served as Dean of the Hamline University School of Law and as an Assistant Dean at Harvard Law School
.


Ai thống trị Việt Nam ngày nay: Đảng Cộng sản hay là Hán Ngụy?

Stephen B. Young

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là "Đảng Cộng Sản Việt Nam".

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình.

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một "thứ đảng phái" vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa " theo ý hệ Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng "hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học". Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng " tổ chức anh chị em cán bộ phải giử quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ".

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình" chính nghĩa Mác-Lê." một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng "chính nghĩa Mác-Lê" để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảngthì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt
đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa! Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyẽn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng.  Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà nội bắt đầu lo sợ.  Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng
Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – " hoàng đế chính thuyết "– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ
tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là "Mỹ Ngụy" .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ "nhân bản, khoa học, khai phóng " …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo " hoàng đế chính thuyết ".

Như vậy làm Mỹ Ngụy là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và "dân ngụy." không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

17 October 2013

Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay TQ


Phan Châu Thành

Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn:

"Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?" Hắn cười: "Chắc là chưa đến ba ngày?!"
Tôi ngạc nhiên: "Sao chết nhanh vậy?" Hắn lại cười: "Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!"
"Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?"
"Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!"
Tôi thắc mắc: "Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?"
"Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!"

Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.

Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà:

"Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…"

"Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?"
"Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!"

Thế họ có ăn chung với các cháu không?"
"Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng."

"Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?"
"Chúng cháu được 35 ngàn đồng ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đồng ngày thôi…"

"Sao lại 28 ngàn thôi?!" Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đồng/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta…

Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên.

Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ. Xin kể câu chuyện thứ ba. Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn "du lịch- thám hiểm" ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).

Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các "dự án lớn" của Vinalines làm đến nới cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bở biển nữa. Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!

Câu chuyện thứ tư. Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiêu năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sắn sàng…

Câu chuyên thứ năm. Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà… Gặp nó tôi bảo:

- "Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!"
- Nó cười khẩy: "Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!" Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh: "A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở tài nguyên Môi trường mà…" Tôi nhăn mặt nghĩ: Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…

Tôi phán tiếp:
"Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quan còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi, Công chúng mày to quá!"

Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm: "Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!" (Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuế nó làm đương lên "trồng rừng". Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…).

Và câu chuyện cuối cùng. Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường Hồ Chí Minh mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi: "Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?" Tôi thở dài chua chát "Bố chịu!" Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình: "Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và không chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?"

Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai: "Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!"

Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt Nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi. Các chiến sĩ Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!

Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?

Chỉ còn một điều: Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không?


Phan Châu Thành

16 October 2013

Kế hoạch xây dựng thật hay đùa?



   
Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 14.10.2013

 Kế hoạch xây dựng thật hay đùa?

Trong 3 năm sẽ có 70 lô chung cư cũ được di dời, tháo dỡ (ảnh hưởng  lớn tới hơn 7.250 gia đình dân), trong đó 3 lô được sửa chữa và 61 lô được khởi công xây mới trong giai đoạn 2013- 2015. Đây là các lô chung cư đã xây dựng trước năm 1975, có nguy cơ sụp đổ cao.


     
      Cảnh hỗn tạp trong chung cư tại Sài Gòn.

       
         Những vết bong tróc trên hành lang chung cư rớt xuống bất cứ lúc nào, 
đe dọa tính mạng người qua lại hàng ngày.

Đó là dự thảo kế hoạch cải tạo, xây dựng lại các khu nhà ở cũ bị xuống cấp ở TP.Sài Gòn vừa được Sở Xây dựng TP Sài Gòn đưa ra lấy ý kiến các sở ngành liên quan. Cụ thể, theo kế hoạch này, trong năm 2013, TP Sài Gòn sẽ hoàn thành bồi thường, "giải phóng mặt bằng" 20 lô chung cư, ảnh hưởng tới gần 3.000 gia đình dân (xin nói rõ giải phóng mặt bằng có nghĩa là phá dỡ hết nhà cửa cùng các công trình xây dựng cũ thành khu đất trống trơn như sân đá bóng để lấy đất làm công việc khác); khởi công xây mới 7 lô chung cư với quy mô 1.850 căn nhà (hay còn gọi là căn hộ). Năm 2014, hoàn thành bồi thường 18 lô chung cư (ảnh hưởng tới 465 gia đình dân); khởi công xây mới 22 lô chung cư, quy mô 3.287 căn nhà. Năm 2015, hoàn thành bồi thường 32 lô chung cư, ảnh hưởng tới 3.789 gia đình dân; khởi công xây mới 32 lô chung cư, quy mô 4.734 căn nhà.

Những chung cư sẽ bị di dời

Tôi nghĩ nhiều bà con ở nước ngoài có thể có nhà bà con anh em bạn bè ở Sài Gòn, biết rõ hơn rất cụ thể về từng lô chung cư sẽ được tháo dỡ, dân sẽ phải di dời đến khu tái định cư mới. Xin "kê khai" rõ ràng rành mạch như sau:

Trong năm nay (2013) sẽ di dời xong một số chung cư và khởi công xây dựng 14 chung cư gồm: chung cư 72-86 Trương Quyền, chung cư số 2 Nguyễn Gia Thiều, 148 Nguyễn Đình Chiểu - 125 Pasteur (Q.3), chung cư Trúc Giang, lô Y chung cư Hoàng Diệu, Ngô Văn Sở (Q.4), chung cư 489-509 Gia Phú, chung cư 73/18G/17 Hồng Bàng (Q.6), lô K-L-M-N-O Nguyễn Kim, lô A-F-G Ngô Gia Tự (Q.10), lô chữ và lô số chung cư Thanh Đa (Q.Bình Thạnh), chung cư 350 Hoàng Văn Thụ (Q.Tân Bình), chung cư 231/9 Lê Văn Sỹ (Q.Phú Nhuận).

Trong năm nay cũng sẽ hoàn tất di dời các gia đình dân để tháo dỡ bảy chung cư: 128 Hai Bà Trưng (Q.1), 206/1-34 Trần Hưng Đạo, Nguyễn Văn Sửu (Q.5), lô A-B-C Phạm Thế Hiển và Bình Đông (Q.8), 319 Lý Thường Kiệt (Q.11), 40/1 Tân Phước (Q.Tân Bình); bồi thường và di dời các hộ dân tại bảy chung cư khác: bốn lô tại chung cư Cô Giang, chung cư Quốc Thanh (Q.1), 8/11 lô tại chung cư Nguyễn Thiện Thuật (Q.3), lô A-B-C chung cư Tôn Thất Thuyết (Q.4), 194 Đỗ Ngọc Thạnh, 3/1-13 và 23/1-17 Phù Đổng Thiên Vương (Q.5), lô K-T-S-U-V-X-Y chung cư Ngô Gia Tự.

Riêng hai chung cư 481 Lê Văn Sỹ và 18 Phạm Văn Hai (Q.Tân Bình) thì năm 2013 sẽ hoàn tất di dời các gia đình dân để tháo dỡ.

Có làm được không?

Như thế, bạn đọc đã có thể thấy được một núi công việc trong ba năm. Tính riêng trong năm 2013, chỉ còn 3 tháng nữa là hết năm, với bằng ấy chung cư phải tháo dỡ rồi bồi thường, tìm chỗ tái định cư cho hàng ngàn gia đình, rồi xây dựng tới 14 chung cư mới. Không hiểu các ông ở Sở Xây Dựng TP Sài Gòn, làm cách nào để có thể hoàn thành kế hoạch ấy? Chỉ cần một vài chung cư thôi đã là quá sức của Sở Xây Dựng rồi và cũng là vấn đề đau đầu với cả Ủy Ban Nhân Dân Thành phố. Các ông có nhìn thấy trước mắt cái chung cư ọp ẹp, nguy hiểm nhất Sài Gòn là chung cư 727 Trần Hưng Đạo không? Công việc làm từ gần mười năm trước, di dời một số dân, đền bù rồi để đó, cho tới nay, chung cư 727 Trần Hưng Đạo vẫn thế. Bao nhiêu trở ngại và bất ngờ xảy ra, mọi chuyện vẫn dậm chân tại chỗ. Tôi chỉ nói đến một thí dụ điển hình, chưa bàn tới những chung cư khác mà các vị muốn tu bổ, sửa chữa cũng chưa làm được.

Tất cả đều nằm trên giấy, trên lời đồn đại, nay tháo mai dỡ mốt đền bù… Chắc là các vị làm ra "kế hoạch" để hỏi ý kiến các ban ngành cho vui vậy thôi, cho có làm, ra cái điều có chú trọng tới dân chung cư có thể chết bất đắc kỳ tử vì nhà xây dựng quá lâu, nếu có sụt lún, vỡ toác thì các vị cũng… hết trách nhiệm vì đã có kế hoạch rồi nhưng không ai chịu làm, không ban ngành nào chịu giúp. Các vị khôn thật. Nhưng các vị có hiểu được nỗi lòng của dân ở chung cư không? Kế hoạch của các vị không thực hiện được chỉ mang lại nỗi thấp thỏm lo lắng cho dân ở chung cư mà quý vị liệt kê thôi.

Nỗi ám ảnh của dân chung cư

Dân chung cư, đầu tiên còn có nhiều gia đình bấn xúc xích vì cảnh phải lìa bỏ nơi làm ăn sinh sống, đi lại, học hành từ mấy đời nay. Nhưng bây giờ dường như người ta chán rồi, đọc báo thấy vậy thì bàn tán và người dân nghi ngờ các ông không làm nổi. Tuy vậy, đã là cuộc sống thiết thân, cũng chẳng ai thờ ơ được, ngoài mặt là vậy nhưng tự trong đáy lòng vẫn có nỗi ám ảnh do những kế hoạch của các quan mang lại.

Người dân đã không được sống yên ổn với giá cả, với suy thoái, với xăng dầu điện nước, với cướp bóc vây quanh, lại thêm một ám ảnh về cảnh phải bỏ nhà đi chỗ khác. Dù từ nay đến cuối năm chỉ còn 3 tháng nữa, nhưng biết đâu đấy, có một phép màu nào, các ông đến dỡ nhà thật thì làm sao? Có khi dỡ nhà, đưa dân đi chỗ khác rồi lại để đấy thì sao? Đi đâu, tất nhiên là không thể tái định cư giữa trung tâm thành phố rồi, không thể lấy cái sân banh Cộng Hòa hay sân Tao Đàn, sân Hoa Lư cho dân tái định cư được. Tất nhiên là phải ra tuốt ngọai ô rồi. Hóc Môn, Bà Điểm, Thủ Đức hay tuốt sau quận 7, quận 8…? Sang đó rồi làm gì để sống? Con cái đang học hành sẽ ra sao, điện nước sẽ thế nào, đường xá ngập lụt bao nhiêu phân, trộm ngày cướp đêm không tránh khỏi với những con đường tối vắng… Nỗi ám ảnh về những khu tái định cư, về những phiền toái rắc rối trăm thứ đang âm ỷ trong lòng người dân sống trong cả 70 cái chung cư mà các ông Sở Xây Dựng đang định phá đi xây lại. Phá đi mất bao lâu và xây lại mất bao nhiêu năm, rồi bao giờ lại được trở về với "đường xưa lối cũ"?

Tình cảnh hiện tại của người dân sống ở chung cư cũ

Tôi là một người dân sống trong cái chung cư cũ từ hơn hai mươi năm nay, chắc nhiều vị đã biết. Trong số 8/11 lô được "giải phóng" chắc sẽ có lô tôi đang ở. Tôi không kể lể nhiều về cái sự mất nhà, mất tất cả ở cư xá Chu Mạnh Trinh xưa, phải về ở căn nhà trên chung cư. Trải qua vài năm ở chung cư, tôi lại thấy mình may mắn hơn khi còn phải lang thang đi ở trọ hết xóm chợ Bàn Cờ đến khu chợ An Đông và còn hơn nhiều người chui rúc trong những khu nhà lá, khu ổ chuột, khu gầm cầu. Được ở chung cư đã là "sang" rồi, tôi chẳng mong gì hơn nữa. Tôi không kêu ca, phàn nàn gì vì những tiện nghi quanh mình. Tôi chỉ nói đến những mối hiểm nguy rình rập cho tất cả bà con xung quanh mình, có lẽ cũng phản ảnh được một phần tình trạng chung của những người dân đang sống trong các chung cư có tên trong 70 chung cư có tên trong "sổ đoạn trường" của các ông trong Sở Xây Dưng Sài Gòn như đã liệt kê ở trên.

Chung cư tôi đang sống được chính phủ Sài Gòn xưa xây dựng từ năm 1968, sau Tết Mậu Thân, xóm nhà bên kia đường Phan Đình Phùng, nay đổi tên thành đường Nguyễn Đình Chiểu bị cháy hết. Chính phủ bèn xây chung cư này bên đường Nguyễn Thiện Thuật, và chung cư mang cùng tên ở trong khu gọi là Khu Bàn Cờ. Những gia đình bị cháy được mua nhà trả góp ở chung cư này. Căn nhà tôi đang ở là của ông chú tôi đã mất, năm 1975 các con đều "ù té" chạy qua Mỹ. Ngay từ khi tôi mới được dọn về đây ở, đã thấy tường vách, trần nhà loang lổ vì thấm nước từ các căn nhà lầu trên xuống. Vài năm sau, đôi khi vôi trên trần nhà rớt lộp độp xuống giữa nhà. Tôi đã phải tốn công sửa lại, làm một lớp nhựa che kín trần nhà và ông Đằng Giao cho thợ lên dán giấy quanh tường, trông cứ như vách gỗ, cũng "coi được" lắm.

Nhà thường chỉ có 2 người nên cũng "rộng rãi" chán. Nhưng cứ đóng cây đinh vào tường treo tranh ảnh là thấy xi măng mủn ra như cát. Thỉnh thoảng nhà trên lầu để quên nước, chảy lênh láng, nước tí tách nhỏ xuống nhà, tường lại thấm nước ướt sũng. Nhưng nguy hiểm nhất là ngay trên lối đi lại hàng ngày ngoài hành lanh trước cửa, từng mảng bong tróc, thỉnh thoảng một đống vôi vữa xi măng rớt xuống ầm ầm, cái đầm hành lang bằng xi măng cốt sắt, nay đã lỗ chỗ, lắm chỗ há mồm rộng hoác khoe vài cái cọc sắt đen sì bị thời gian ăn mòn như ghẻ Tàu. Cái miệng xi măng lúc nào cũng có thể rớt xuống từng mảng lớn, đe dọa mọi người qua lại thường xuyên và nhất là lủ trẻ nhỏ vẫn thường chơi đùa trong hành lang. Nó đã từng rớt vài lần giữa ban ngày, nhưng tôi không hiểu tại sao vẫn chưa có ai bị thương hoặc lăn ra "đi tàu suốt". Mỗi lần ra cửa hóng gió, mọi người đều phải cẩn thận chú ý đứng vào khoảng nào tạm coi là an toàn nhất. Chỉ cần nhìn vào cây lõi sắt đã hoen dỉ, có chỗ thanh lõi sắt chỉ còn lại một nửa cũng có thể biết toàn bộ cốt lõi của chung cư này như thế nào. Chúng tôi thường ví nó long lay như hàm răng ông lão tám mươi.

Cuộc sống chung cư ban đầu còn sống chung với mấy anh xì ke ma túy, chích choác ngay đầu lối đi, trộm cắp vặt cũng xảy ra thường xuyên. Nhưng mấy năm sau này, các nhà ở cùng khu phố, chung tiền lại mắc đèn sáng choang ngoài hành lang nên mọi tệ nạn cũng đỡ dần. Trên những con đường nhựa vào chung cư thì bị lấn chiếm vô tội vạ. Lấn hết phần hè đường chưa đủ, lấn chiếm luôn xuống đường, đủ các thứ hàng quán mọc lên, cuộc sống trở nên hỗn độn.Trong nghị định của chính phủ cấm ngặt việc này, nhưng nghị định chỉ là những trang giấy, người thi hành "vướng mắc" gì đó không thi hành cũng huề cả làng. Chỉ cần đi từ cửa Trụ sở Ủy Ban ND Phường xuống vài chục thước là quý vị có thể thấy ngay những cảnh nhếch nhác này. Nhà ôm cột điện, ngã ba đường là quán cà phê, hàng quán lấn ra tới giữa đường, có khi chiếc taxi đi không lọt, đành xuống đi bộ…

Mặc dù nhiều gia đình đã phản ảnh tình trạng nguy hiểm này đến phường xã từ nhiều năm qua rồi, nhưng mọi chuyện đều trôi vào lãng quên, cho đến nay vẫn vậy. Có lẽ cơ quan có trách nhiệm còn đợi đến khi nào có người bị mảnh trần rơi trúng đầu nằm lăn quay ra mới chú ý đến chăng? Cũng như ngay trong tuần này một vụ sát hại người dã man đã đã xảy ra tại chung cư Nguyễn Kim. Kẻ giết người và người bị hại cùng ở trong một chung cư. Một chung cư chẳng khác gì chung cư tôi đang ở.

Cái chết được báo trước ở chung cư Nguyễn Kim

Một cô gái đang độ tuổi trăng tròn là nạn nhân của kẻ cuồng sát tại chung cư Nguyễn Kim, P7 Q10 TPSài Gòn vào chiều ngày 4/10 vừa qua. Hung thủ là Nguyễn Quang Mạnh (26 tuổi) một thanh niên lêu lổng, nghiện ngập ở căn nhà số 324 của chung cư. Mạnh nghiện đã nhiều năm. Không việc làm, nhà nghèo cha mẹ suốt ngày bù đầu vào cuộc mưu sinh, Mạnh sống như thú hoang giữa rừng. Kiếm được tiền, Mạnh mua thuốc để "phê". Bà con chung cư Nguyễn Kim rất phiền lòng về Mạnh. Nếu không có biện pháp cách ly, đưa Mạnh vào trung tâm cai nghiện chắc chắn sẽ có ngày xảy ra án mạng. Và cái ngày đó đã đến…

       
Chung cư Nguyễn Kim, nơi vừa xảy ra vụ giết người tàn ác. 
Vòng tròn trắng là căn nhà chị Nguyệt bị sát hại.

15h30 chiều ngày 4/10 vừa qua, chị Lê Thị Hồng Liên (34 tuổi) nhà ở tầng 2 chung cư, đi làm về Trong lúc đang sum họp cùng gia đình, có tiếng gõ cửa. Ngỡ là người mang hủ tíu, chị mở cửa thì bất ngờ Mạnh xuất hiện với con dao nhọn trên tay. Mạnh uy hiếp đòi chị đưa cho hắn 500.000đ.

     
      Bà Lê Thị Hồng Liên sau khi nộp cho tên cướp 400 ngàn,
thoát chết kể lại sự việc kinh hoàng.

Chị Liên chưa kịp phản ứng, hắn đã vung dao đâm chị. Nhát đầu hụt, nhát sau ngang thắt lưng nhưng chưa gây thương tích. Chị Liên chụp vội chiếc ghế thủ thế cũng vừa lúc con chị sợ quá khóc thét lên. Mạnh bước ra không quên buông lời đe dọa : "không được báo công an, tao sẽ trở lại để lấy tiền".

Mạnh bỏ đi được một lúc lâu rồi quay lại. Cả nhà chị Liên cùng nhau chặn cửa. Mạnh vừa đập cửa vừa đòi tiền. Chị Liên năn nỉ đừng xô cửa nữa và đưa qua khe cửa 400.000đ. Chị Liên kể: "Nó không lấy". Nó nói phải đủ 500.000đ mới được, tôi lại phải xuống nước năn nỉ: "chị chỉ còn bấy nhiêu thôi". Thế là nó cầm tiền và không quên…"ghi nợ". Còn 100 đó hôm nào phải trả. Cấm không được báo công an. Nếu báo tao giết cả nhà…

Tiếp tục gây án mạng ngay sau đó

Mạnh bỏ đi đến một căn nhà gần đó. Gõ cửa. Thấy là người quen ở chung cư, trong nhà mở cửa. Cánh cửa vừa mở, Mạnh chĩa dao vào bụng cô gái đòi tiền. Cô gái – là nạn nhân Lê Mỹ Nguyệt – nói "nhà không có tiền". Thế là hắm đâm nhiều nhát vào người Nguyệt. Bé Lê Mỹ Phụng sợ quá chạy vào buồng trong đóng cửa trốn. Sau khi bị đâm, chị Nguyệt chạy ra phía cửa sổ tri hô. Máu tuôn xối xả rơi xuống cả tầng dưới.

     
     Di ảnh chị Lê Thị Nguyệt bị sát hại khi vừa sanh được 19 ngày.

Tên sát nhân lôi Nguyệt vào trong đâm thêm nhiều nhát cho đến chết rồi ung dung trở về căn nhà của hắn trốn trên gác lửng. Lúc này cả chung cư náo loạn. Công an xuất hiện, tóm gọn tên giết người.

Mọi người vào nhà Nguyệt. Không ai cầm lòng được khi được biết Nguyệt đang trong thời kỳ ở cữ vì mới sanh con được 19 ngày.

Cái chết được báo trước chẳng may rơi vào Nguyệt. Hung thủ không phải người xa lạ mà chính là cư dân trong chung cư. Người dân nơi đây hết sức bàng hoàng. Điều họ lo lắng, tại chung cư này vẫn còn ít nhất 2 con nghiện đang nhởn nhơ. Liệu máu có còn tiếp tục đổ ở các chung cư khác nữa hay không? Thật ra tình trạng này cũng vẫn có ở các chung cư khác, nếu không là con nghiện thì cũng là những người mang bệnh tâm thần, những đại ca, đầu gấu, những đàn anh giang hồ hảo hớn cát cứ lộng hành, người dân sợ bị trả thù nên đành ngậm miệng làm ngơ cho yên.

Hãy nhìn lại những gì xảy ra ở chung cư 727 Trần Hưng Đạo

Người dân ở chung cư Sài Gòn, không ai không nhớ tới cái chung cư có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào, một chung cư thuộc loại nguy hiểm nhất thành phố. Thế mà từ mười năm nay, các ông "nhà nước thành phố" dù đã tốn rất nhiều công phu cũng vẫn hoàn toàn "vũ như cẩn".

     
      Hình ảnh chung cư cũ nát 727 Trần Hưng Đạo.

Tôi nhớ cách đây khoảng 7-8 năm, tôi đã đến chung cư này để tìm một ông đánh vi tính thuê cho mấy cuốn sách tôi không làm kịp. Ông này vốn là thứ công chức quèn, "ăn theo giải phóng" từ Bắc vào Nam, làm thư ký cho một sở rồi vài năm sau về hưu. Cho nên tôi không rõ là căn nhà của ông được nhà nước lúc đó "phân" cho ở hay ông cũng là dân đi "vồ", cứ thấy nhà không chủ là nhào vô ở hay nhà ông thuê lại của một anh cha căng chú kiết nào đó. Nhà ông ở trên lầu 3. Là dân ở chung cư đã quá quen với cái sự nhếch nhác rồi, vậy mà vừa bước chân vào đây tôi đã thấy sợ, cứ như lạc vào căn nhà ma. Ở mặt tiền, nhiều hạng mục đã bong tróc xi măng, lòi cả lõi sắt. Bên trong chung cư là cảnh hoang tàn, xập xệ, cầu thang sắt thoát hiểm từ lâu hoen rỉ, mục nát không ai dám đi. Càng lên càng thấy khung cảnh lờ mờ, chỗ nào cũng loang lổ vết bong tróc. Tôi đã từng tường thuật với bạn đọc từ những ngày đó. Đến nay mọi thứ còn tồi tệ hơn. Tôi không dám bén mảng đến chung cư này nữa, chỉ xin trích dẫn một đoạn ngắn của một người dân sống trong chung cư đó kể lại:

Chị Bùi Thị Vân, sống ở tầng ba, cho biết trần nhà và tường trong căn nhà của chị nhiều chỗ bị nứt, bê tông rớt liên tục. Hệ thống thoát nước cũng bị hư hỏng. Chị ngao ngán cho biết: "Sống ở đây không chỉ sợ nhà sập mà còn bất an vì những người nghiện thường xuyên vào chích ma túy công khai. Ban đêm tụi tôi chẳng dám ra khỏi nhà, thậm chí ban ngày cũng hạn chế đi một mình lên các tầng cao hơn, nơi phần lớn hộ dân đã di dời".

Theo Công ty Công ích quận 5, chung cư 13 tầng trên được xây dựng từ năm 1960, vốn là khách sạn cao cấp. Sau năm 1975, đây là nơi sinh sống của 530 gia đình dân. Đến năm 2008, khi chung cư xuống cấp trầm trọng, UBND TP chỉ thị cho các đơn vị liên quan khẩn trương di dời dân ra khỏi chung cư. Nhưng đến nay vẫn còn hơn 100 gia đình dân đang sống tại đây, chưa kể một số hộ đã di dời lại quay trở lại "tái chiếm". Ngoài ra còn nhiều người bên ngoài cũng vào thuê ở tạm.

Không đủ năng lực tài chính cũng nhào vô thực hiện dự án

Nguyên nhân chậm di dời dân khỏi chung cư 727 Trần Hưng Đạo để xây mới là do chủ đầu tư không đủ tiền thực hiện dự án. Ông Nguyễn Thành Phương, Giám đốc Công ty Công ích quận 5, cho biết: Ngoài dự án này, công ty (trước đây là Công ty Phát triển Nhà quận 5) còn được giao đầu tư xây dựng chung cư Soái Kình Lâm và hai chung cư thương mại (dự án Tản Đà - Hàm Tử và dự án 107-107B Trần Hưng Đạo). Tổng mức vốn đầu tư của cả bốn dự án lên tới 4.091 tỉ đồng.  Theo tính toán của Sở Tài chính, để thực hiện bốn dự án này, Công ty Công ích quận 5 phải có hơn 600 tỉ đồng, vượt quá vốn điều lệ hiện có (chỉ hơn 90 tỉ đồng)!

Bỏ qua những chi tiết lỉnh kỉnh của chủ đầu tư và nhà nước, chỉ biết toàn bộ cái gọi là dự án đó "đánh trống bỏ dùi". Ra lệnh cho người dân di dời rồi lại để đấy nên mới có chuyện nhiều gia đính đã ra đi nhưng thấy nhà mình vẫn chưa bị tháo dỡ, nhiều người dân cũng còn ở lại nên lại trở về "tái chiếm". Tình trạng lơ lửng đó kéo dài từ mười năm nay, cái "răng bà lão" của thành phố vẫn cứ long lay như cũ. Chưa biết bao giờ nó rụng. Ấy vậy mà các ông ở Sở Xây Dựng Thành Phố lại mới đưa ra cái kế hoạch làm lại tới 70 cái chung cư từ nay đến năm 2015 thì đáng sợ thật. Các ông làm kế hoạch thật hay đùa với dân đây?

Đến chung cư cao cấp cũng khổ

Nói về chung cư cấp cao và chung cư cấp thấp ở TP Sài Gòn và Hà Nội thì còn khối chuyện để cười ra nước mắt. Ngay chung cư cao cấp cũng khổ, bài báo có hạn, tạm thời tôi chi xin nêu một ý kiến của ông Trần Tiến đang ở chung cư cao cấp thổ lộ trên báo VNNet:

"Tôi ở căn hộ Sky Garden 3 Phú Mỹ Hưng, phải nói là rất tệ, hệ thống cửa từ không hoạt động, người ra vào tự nhiên, ngày nào về cũng phải thu gom các tờ quảng cáo đút qua khe cửa, rất nhiều người nuôi chó từ chó to (berge) đến chó nhỏ, chúng sủa và đi "vệ sinh" vô tư ở công viên, không khác gì trại nuôi chó. Lỡ để quên đồ trên xe khi gởi tầng hầm như nón bảo hiểm, áo mưa...là bị bốc hơi, mỗi block có hai thang máy, nhưng có khi cả hai thang máy đều gặp trục trặc hay mất điện, phải cuốc bộ lên mấy chục tầng, còn một thang máy trục trặc hỏng hóc là chuyện thường xuyên.Thôi chán quá không muốn kể nữa!".

Ông Trần Tiến đã chán không muốn kể thì chắc độc giả của tôi cũng chán, nên tôi không dám kể thêm dù căn nhà tôi đang ở cũng nằm trong kế hoạch được tháo dỡ, di dời trong năm nay hoặc hai năm nữa, tức là năm 2015, là hạn cuối cùng. Nhưng tôi vẫn cứ tin rằng cho đến khi tôi "hai năm mươi" vẫn còn "ngồi nhìn nải chuối và con gà khỏa thân" ở cái chung cư này./.

Văn Quang

09 October 2013

MỸ ĐÃ THẤY MẤT NAM VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 1961: LỖI LỚN LÀ DO CHẾ ĐỘ ÔNG DIỆM


(Bản Ghi nhớ NSAM 263 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
về quyết định rút 1,000 quân Mỹ vào cuối năm 1963)

 
Cư sĩ Nguyên Giác dịch

(LỜI NGƯỜI DỊCH: Một số người trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã nêu lên lý luận rằng, vì Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy trong năm 1963 đã đòi đưa quân Mỹ vào Việt Nam, nhưng bị Tổng Thống Diệm phản đối, nên Hoa Kỳ mới thúc đẩy các cuộc biểu tình của Phật Giáo để lật đổ ông Diệm hầu dễ đưa chiến binh Mỹ vào miền Nam VN. Từ đó, để "giải tội" cho ông Diệm, họ cũng đã phóng to thành kịch bản "ông Diệm bảo vệ quyền tự quyết" nên bị Mỹ xúi giục các tướng lãnh đảo chánh !

Lý luận trên hoàn toàn sai, hoàn toàn không đúng. Các hồ sơ giải mật gần đây cho thấy TT Kennedy đã thấy thua từ cuối 1961, nên thu xếp từ mùa xuân 1962 để giảm sự tham dự quân sự Hoa Kỳ trở về mức tương đương với đầu năm 1961. Và vào ngày 11 tháng 10-1963, TT Kennedy đã ra một lệnh bí mật để lập kế hoạch rút 1,000 cố vấn (trên tổng số gần 17,000) từ VN về Mỹ vào cuối năm 1963; hồ sơ mật này có ký hiệu là NSAM 263. Như vậy, rõ ràng TT Kennedy không những đã không muốn đem quân vào Việt Nam, mà ngược lại, còn quyết định trong 3 năm (1962-1965) sẽ rút quân khỏi miền Nam và chỉ duy trì sự hiện diện của 1,000 "cố vấn" Mỹ ở mức năm 1961 mà thôi.

[Do đó, đng thái "chng M" ca hai anh em ông Nhu-Dim trong năm 1963, cui cùng, ch là mt nước c chính tr t đu óc cung vĩ ca ông Nhu đ tháo g cuc khng hong ni b do "đi lp" ti min Nam gây ra (Pht giáo, Đng phái, Quân đi, Sinh viên, ...) VÀ to điu kin thun tin đ tiến đến tha hip vi min Bc mà thôi- NG].

Ngoài ra, Phật Giáo đã không tham dự gì với các diễn biến chính trị quân sự quan trọng trong quan hệ Mỹ-Việt đó, vì trận tổng tấn công các chùa do ông Nhu thực hiện đêm 20 rạng 21-8-1963 đã bắt hầu hết các vị sư lãnh đạo Phật Giáo.

Sau đây là bản Việt dịch 5 trang trong cuốn biên khảo "Death of A Generation" của GS Howard Jones, xuất bản bởi NXB Oxford University Press năm 2003, và cả bản Việt dịch hồ sơ NSAM 263. Cuốn biên khảo viết trong 15 năm, duyệt và góp ý bởi nhiều học giả, ghi lại thông tin có từ nhiều hồ sơ giải mật và các cuộc phỏng vấn riêng, cùng với các bản khai hữu thệ chưa phổ biến từ ba thư viện Tổng Thống và Trung Tâm Văn Khố Quốc Gia.
Sách này viết công phu và cẩn trọng vì tham khảo nhiều nguồn; Thí dụ, độc giả có thể xem cuối bản dịch này, trong chú thích số (9) -- khi nói về chiến lược Rostow trình lên TT Kennedy -- đã dẫn ra tới 7 nguồn khác nhau. Tất cả các chú thích nơi đây đều sẽ không dịch ra Việt ngữ, giúp người cần nghiên cứu có thể dựa vào chú thích để dễ dàng tìm ra tài liệu gốc Anh ngữ.

Qua các tài liệu và phân tích trong 5 trang nầy, ta có thể nhận ra các sự kiện sau:
- Năm 1960, John F. Kennedy nhậm chức Tổng Thống Mỹ. Tháng 4 năm 1961, ông chấp thuận đưa du kích quân (Lữ Đoàn 2506, do CIA huấn luyện) vào Vịnh Con Heo để lật đổ Fidel Castro và để chiếm Cuba nhưng hoàn toàn thất bại. Sau thảm bại này, TT Kennedy không hoàn toàn tin vào các nhận định của các tướng Hoa Kỳ và CIA nữa.
- Năm 1962, TT Kennedy sắp xếp để sẽ rút bớt quân Mỹ tại VN (xem trang 8). Kennedy tin rằng cải cách chính trị ở Việt Nam quan trọng hơn là chiến thắng ở chiến trường. Nhưng Việt Nam tất phảỉ thua vì chính sách của TT Ngô Đình Diệm làm mất lòng dân (xem chú thích 16).
- Bản ghi nhớ NSAM 263 đề ngày 11 tháng 10-1963, do Cố vấn An ninh Quốc gia (NSC) McGeorge Bundy chỉ thị sẽ rút quân Mỹ kể từ tháng 12-1963.
- Kennedy hỗ trợ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh VNCH, nhưng muốn đưa ông Diệm ra lưu vong.
- Dòng họ Ngô Đình Diệm kiêu kỳ và khó chịu tới nổi, Tòa Đại Sứ Mỹ chỉ thị cho tất cả các nhân viên sứ quán không được uống bất cứ thứ gì trong 3 giờ đồng hồ trước khi vào Dinh Tổng Thống để khỏi phải dùng nhà vệ sinh (xem trang 9).
- Thất bại trong Cuộc Chiến Việt Nam là do Tổng Thống Diệm và gia tộc họ Ngô (xem trang 9).
- Kennedy đã thấy Mỹ và chính phủ ông Diệm tất phải thua cuộc chiến từ cuối năm 1961 (xem trang 11).
- Kennedy sắp xếp việc rút quân bằng cách dự tính gỡ chức Ngoại Trưởng của Rusk (xem trang 11) và giữ thể diện cho Đảng Dân Chủ khi thua cuộc ở Nam VN bằng cách đưa Lodge (Cộng Hòa) vào chức Đại Sứ Mỹ ở VN (xem trang 12).

Cuối bản dịch này sẽ đính kèm bản scan của các trang 8-12 và bản gốc hồ sơ mật NSAM 263. Toàn văn dịch bởi Cư Sĩ Nguyên Giác.)
* *
*

BẮT ĐẦU BẢN DỊCH HỒ SƠ NSAM 263


Bạch Ốc
Washington

CHỈ ĐỌC THÔI Ngày 11 tháng 10-1963
BẢN GHI NHỚ HÀNH ĐỘNG AN NINH QUỐC GIA SỐ 263
GỬI TỚI:
Bộ Trưởng Ngoại Giao
Bộ Trưởng Quốc Phòng
Tham Mưu Trưởng Liên Quân
CHỦ ĐỀ: Nam Việt Nam
Trong một buổi họp ngày 5 tháng 10-1963, Tổng Thống [Kennedy] xem xét các khuyến nghị trong bản phúc trình của Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor trong chuyến đi khảo sát của họ ở Nam VN.
Tổng Thống chấp thuận khuyến nghị quân sự trong Phần I B (I-3) của bản phúc trình, nhưng ra lệnh rằng không đưa ra loan báo chính thức nào về việc thực hiện kế hoạch rút 1,000 chiến binh Mỹ về vào cuối năm 1963.
Sau khi thảo luận về các khuyến nghị còn lại trong bản phúc trình, TT Kennedy chấp thuận bản chỉ thị cho Đại sứ Lodge nguyên đã ghi trong bức điện văn số 534 do Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi (LND: Điện văn 534 này đề ngày 5 tháng 10-1963).
Ký tên:
McGeorge Bundy (Cố vấn An ninh Quốc gia)
Phó bản gửi để thực hiện:
Giám đốc Sở Tình Báo Trung Ương CIA
Giám đốc Sở Phát Triển Quốc Tế AID

Phó bản gửi để biết: Ông Bundy, Ông Forrestal, Ông Johnson, Hồ sơ lưu Hội đồng An ninh Quốc gia NSC.

Hồ sơ giải mật ngày 15 tháng 7-1977
Hết Bản Dịch NSAM 263

* *
*

BĂT ĐẦU BẢN DỊCH TRANG 8-12
của tác phẩm DEATH OF A GENERATION


■ Trang 8:

...Chủ nghĩa Cộng sản vồ lấy các nước chưa phát triển bằng cách trà trộn, nổi loạn, và mở ra cuộc chiến du kích. Để đối phó "bệnh" này, Rostow (Phụ tá Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Kennedy) đưa ra chiến lược phản kích đa tầng, tập trung vào việc tăng tính di động nhanh hơn để đánh các trận hạn chế, và một chương trình kinh tế đề ra để ngăn cản phiến quân Cộng sản xuyên qua các chương trình xây dựng đất nước.

Phương pháp rộng lớn như thế đòi các biện pháp cả quân sự và dân sự để cung cấp cho số lượng nhiều nông dân tại Lào và Việt Nam "một chỗ đứng trong hệ thống, một cảm thức về vai trò của họ trong đó, và một quyết tâm để hệ thống này tồn tại."

Một phương pháp linh động và tự chế như thế có thể hoàn tất lời hứa nêu lên trong bài diễn văn đăng quang của Tổng Thống Kennedy để giúp "những người sống trong các túp lều và các ngôi làng của một nửa địa cầu đang gian nan trong việc phá vỡ các tai ách nghèo khó tập thể." Chỉ khi làm được như thế, Hoa Kỳ mới tránh nổi việc tham chiến trực tiếp. (9)

Nhưng sự lạc quan trong giây phút đăng quang đã nhạt dần đi. Vào thời điểm Tổng Thống Kennedy bị ám sát, ông đã sắp hoàn tất một tiến trình để rút hầu hết lính Mỹ ra khỏi Việt Nam theo kế hoạch có tên "Comprehensive Plan for South Vietnam." (Kế Hoạch Toàn Diện cho Nam Việt Nam -- viết tắt, CPSV)

Thực sự, 1,000 chiến binh Mỹ đầu tiên sẽ khởi sự theo lịch trình rút khỏi VN vào đầu tháng 12-1963. (10)

Nên biết rằng, cách tiếp cận của TT Kennedy đối với Nam VN [cho đến năm 1963] đã dẫn tới việc đưa gần 17,000 lính Mỹ vào Nam VN, nhưng không chiến binh nào có quyền tác chiến trừ khi bị tấn công. Mục tiêu chính thức của họ vẫn là cố vấn, hỗ trợ, và hiện diện biểu tượng, ngay cả khi họ có mặt như thế đã dẫn tới một số lính Mỹ rơi vào trường hợp tác chiến, cho dù là với tư cách cố vấn quân sự, chuyên gia về tổ chức, phi công, hay chỉ đơn giản là nhân viên trong căn cứ.

Bạch Ốc đã cố gắng che giấu cuộc chiến bí mật tại VN nhằm ngăn cản bất ổn trong nội bộ Hoa Kỳ và để giữ mức hạn chế đối với cuộc chiến thực giữa những người Cộng sản và Thế Giới Tự Do. Nếu Quân lực VNCH đẩy lùi được Việt Cộng, và nếu Kennedy thắng cử lần nữa vào năm 1964, ông dự định tiếp tục chương trình rút quân Mỹ về từng giai đoạn, nhằm đưa hầu hết lính Mỹ từ VN về Mỹ trong năm 1965. Những lính Mỹ còn lại dự kiến sẽ chỉ còn 1,500 người, gồm toàn là cố vấn và như thế sẽ gần với con số ấn định trong Hiệp Định Geneva.

Nhưng, khi tình hình Nam VN tệ hại đi vào mùa thu 1961, TT Kennedy tin rằng, ít nhất có một lúc như thế, ông phải nhấn mạnh liệu pháp quân sự có sẵn trong lý thuyết chống nổi loạn. TT Kennedy cố gắng duy trì lằn ranh mỏng giữa nhiệm vụ hỗ trợ và tác chiến trực diện với Việt Cộng. Nhưng lằn ranh này mờ dần đi khi chiến binh Mỹ tại Nam VN đông thêm và gặp nguy hiểm hàng ngày.

Làm thế nào một cấp chỉ huy quân sự Mỹ có thể kềm chế lính của ông trong khi bị tấn công? Có thể nào mà việc tự vệ sẽ không dẫn tới một cuộc tấn công, mà việc tấn công đó đã Mỹ hóa cuộc chiến tranh này?

Vào mùa xuân 1962, Tổng Thống Kennedy tìm cách giảm mức tham dự quân sự của Mỹ trở về ngang mức của đầu năm 1961. Nỗ lực rút quân Mỹ về như thế đã khựng lại từ sau những cuộc biểu tình của Phật Tử vào tháng 5-1963, và rồi ngưng hằn sau khi TT Kennedy bị ám sát 6 tháng sau đó.

■ Trang 9:

Thất bại tại Việt Nam phần lớn là do Tổng Thống Diệm và gia đình của ông ta. Là một giáo dân Thiên Chúa Giáo La Mã trong một đất nước đa số là Phật Tử, Diệm thấy khó mà cãi lại các cáo buộc ông về lỗi truy bức tôn giáo.

Với kiểu cách lạnh lùng, kiêu kỳ và thiên vị, Diệm không bao giờ lộ ra bất kỳ khuynh hướng nào cho dân chủ, và đã chỉ ưa nắm quyền lực trong tay riêng cho ông và gia đình ông. Thực sự, ông Diệm thuộc loại quá khó để nói chuyện, đến nổi, để tránh việc phải sử dụng nhà vệ sinh, Tòa Đại Sứ Mỹ đã chỉ thị cho các viên chức là đừng có uông bất kỳ nước gì trong 3 giờ đồng hồ trước khi gặp ông Diệm.

Niềm tin của ông Diệm vào "Chủ nghĩa Nhân vị," phản ảnh cái nền tảng quan cách, thượng lưu của ông, và phản ảnh cái nghi ngờ thâm sâu của Diệm đối với những người ở ngoài gia tộc nhà Ngô -- kể cả [nghi ngờ] người Mỹ.

Khi các sĩ quan bất mãn thất bại trong cuộc đảo chánh dang dỡ cuối năm 1960, có phải đúng là gia đình của Diệm vẫn giữ lòng trung thành với nhau hay sao? Có phải là không chắc chắn rằng (ít nhất là với ông Diệm) Tòa Đại Sứ Mỹ và CIA trước đó đã chấp nhận [đảo chánh] miễn đừng sát hại ông Diệm?

Do vậy, ông Diệm (không có vợ) đã tìm lời cố vấn hầu như chỉ riêng từ người em là Ngô Đình Nhu, cũng lạnh lùng xa cách và như dường vô cảm như ông, vốn là người không giữ chức vụ hành pháp nào trong chính quyền, và cô em dâu là bà Ngô Đình Nhu, người đã trở thành "Đệ Nhất Phu Nhân" của ông Diệm.

Bà Nhu là người chỉ trích các nỗ lực đổi mới của Mỹ tại Nam VN bằng lời cay độc và sinh động; Bà Nhu là một cựu Phật Tử, đã cải đạọ sang Thiên Chúa Giáo La Mã, và ưa thích một xã hội khép kín dựa vào tiêu chuẩn đạọ đức nghiêm khắc mà riêng bà định ra. Bà Nhu đã nói, "Không chỉ ánh sáng mặt trời tới [khi mở cửa], mà cả nhiều thứ tệ hại cũng bay vào." (11)

Khi Kennedy lên ngôi Tổng Thống, Diệm trước đó đã thoát nhiều cuộc khủng hoảng từ khi giữ chức lãnh đạọ Nam VN năm 1954, khi Hoa Kỳ đỡ đầu chế độ của Diệm với viện trợ kinh tế và quân sự lớn lao, vừa sau khi quân Pháp thảm bại ở trận Điện Biên Phủ.

Trong một động thái sai mục tiêu bi thảm, chính phủ Kennedy vào năm 1963 đã hỗ trợ cuộc đảo chánh của các tướng lãnh chống ông Diệm, nghĩ rằng thay đổi chính phủ sẽ cải tiến nỗ lực chiến tranh và từ đó sẽ dọn đường để Mỹ rút khỏi Việt Nam. Khi các tướng lãnh Quân lực VNCH sửa soạn đảo chánh đầu tháng 11-1963, họ biết rất rõ là được Hoa Kỳ tán thành, dù không có hợp tác và tham dự trực tiếp. Dù vậy, Tòa Bạch Ốc vẩn mang trách nhiệm lớn. Tổng Thống Kennedy đã trở thành đồng lõa trong cuộc đảo chánh bằng cách tỏ dấu hiệu cho các tướng lãnh này thấy rằng ông Diệm sẽ không được Mỹ giúp đỡ.

Những tiếp cận trước đó từ các tướng lãnh VNCH với Hoa Kỳ xuyên qua CIA đã không được bảo đảm như thế, làm cho họ khựng lại kế hoạch hồi tháng 8-1963. Nhưng rồi các thông tin lộ ra cho thấy Nhu đã bí mật liên lạc với Bắc VN về việc kết thúc chiến tranh mà không tham khảo các quốc gia siêu cường nào hết. Số mệnh các tướng lãnh sẽ ra sao, khi họ đã lỗ liễu bất mãn với nhà Ngô như thế? Bàn tay tàn bạo của ông Diệm khi đàn áp Phật Tử cuối cùng kết hợp với tình hình quân đội VNCH dao động trong nỗ lực chiến tranh, với việc chính phủ Kennedy công khai chỉ trích chế độ Sài Gòn, và những tin đồn liên tục về những cuộc thương thuyết bí mật của Nhu với Hà Nội đã thúc đẩy các tướng lãnh phải đảo chánh và đã dẫn tới cái chết của cả ông Diệm và Nhu.

■ Trang 10:

Những lễ hội tưng bừng đón mừng các tướng lãnh ở Sài Gòn, khi dân chúng bày tỏ lòng biết ơn và ca ngợi họ đã lật đổ được nhà Ngô đáng ghét. Sự ổn định nội bộ như dường đã trở lại với Nam VN. Cuộc dàn quân đảo chánh của các tướng lãnh đã cho thấy hiệu quả, cho thấy niềm tin rộng rãi rằng họ sẽ dễ dàng đánh bại Việt Cộng.

Nhưng niềm vui này chỉ kéo dài khoảnh khắc. Quyết định của các tướng lãnh trong việc giết Diệm và Nhu đã làm chính họ chia rẽ thâm sâu, và dẫn tới hỗn loạn cay đắng ở Sài Gòn. Rồi thì, ba tuần sau đó, TT Kennedy bị giết – và chôn cùng với ông là CPSV (Kế Hoạch Toàn Diện cho Nam VN).

Các viên chức thân cận của TT Kennedy đã xác định ý định của ông muốn giảm sự tham dự của Mỹ tại VN. John Kenneth Galbraith, Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ và là bạn lâu năm và là người thân tín của TT Kennedy, nói rằng Kennedy đã quyết định đưa lực lượng quân sự đặc biệt của Mỹ ra khỏi VN. Hilsman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Viễn Đông Vụ) và McNamara (Bộ Trưởng Quốc Phòng) cũng nói thế, và như thế đã làm tăng mức bi kịch cho vụ ám sát TT Kennedy. (12)

Đặc biệt thêm là, lời khẳng định của Galbraith rằng, để xúc tiến việc rút quân Mỹ ra khỏi VN, TT Kennedy đã lên kế hoạch đưa McNamara thay Rusk trong chức vụ Ngoại Trưởng Mỹ, sau cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1964. Galbraith tin rằng Kennedy có ý định "Việt Nam hóa" cuộc chiến sau cuộc tái thắng cử dự kiến của ông -- để giảm sự tham dự của Mỹ trở về mức cố vấn như thời khi ông mới vào Bạch Ốc.

Trở ngại lớn nhất của TT Kennedy là quân đội. TT Kennedy bị 'phỏng' vì các viên chức Bộ Quốc Phòng (và CIA) trong thảm bại ở Vịnh Con Heo, và sau đó đã lưỡng lự không còn tin tưởng họ. Vào cuối năm 1962, TT Kennedy đã tìm ra một cách để duy trì sự kiểm soát quân đội Mỹ trong khi giảm từ từ viện trợ quân sự đặc biệt của Mỹ tại VN. Một cách để làm như thế, theo lời Galbraith, là đổi lãnh đạo ở Bộ Ngoại Giao Mỹ.

TT Kennedy đã xem Ngoại Trưởng Rusk như là "một chiến sĩ lạnh lùng, quyết tâm, và được trao cho, như ở Việt Nam, một giải pháp quân sự, hay, nói chính xác hơn, là không-giải-pháp." Thực sự, quan điểm của Rusk về dòng thác xâm lấn của Cộng sản tới từ kinh nghiệm của Tây Phương ở Munich năm 1938.

Rusk viết trong hồi ký, "Khi người ta nhìn các sự kiện buồn trong thập niên 1930's tại Châu Âu, tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ và các nền dân chủ Tây Phương, với chủ nghĩa chủ hòa và chủ nghĩa tự cô lập của chúng ta, và với sự lạnh nhạt của chúng ta đối với dòng thác xâm lấn đó, đều có tội để cửa cho bọn cướp vào."

Do dự duy nhất của TT Kennedy về dự định chuyển McNamara [thay Rusk] là, khi Bộ Quốc Phòng Mỹ không còn McNamara nữa, giới quân đội có thể sẽ lèo lái cuộc chiến. Galbraith nói rằng. Kennedy xem McNamara là người duy nhất có khả năng lèo lái Tham Mưu Trưởng Hoa Kỳ và Bộ Quốc Phòng Mỹ. (13)

Các nhận định đó của Galbraith có giá trị. Hilsman, cũng thế, nói rằng Kennedy "rõ ràng sắp rút khỏi VN" và rằng Kennedy dự định bình thường hóa quan hệ với Nam VN. Hilsman nói, một phương tiện để làm như thế là phải gỡ Rusk đi [khỏi chức Ngoại Trưởng].

■ Trang 11:

Mặc dù Rostow đã ra khỏi Bạch Ốc vào cuối năm 1961, Rostow cũng đã biết về một kế hoạch rút lính Mỹ về nước một thời gian sau đó. Thực sự, McNamara trước đó đã tin rằng vào mùa thu 1963, Mỹ sẽ rút nhiều ngàn "cố vấn" về lại Mỹ.

Thực sự, theo lời Galbraith, một sự thật lớn lao không được nói lên trong vòng cao cấp nhất của chính phủ Kennedy là, Hoa Kỳ không thể thắng nổi cuộc chiến, và nên thu về toàn bộ các trợ giúp đặc biệt đã đưa vào VN kể từ tháng 1-1961.

Khi được hỏi về lời khẳng định của Galbraith rằng TT Kennedy đã quyết định thay đổi người giữ chức vụ Ngoại Trưởng, Cựu Bộ Trương Quốc Phòng [McNamara] trả lời rằng TT Kennedy không yêu cầu ông vào thay chức [Ngoại Trưởng của Rusk] nhưng rằng "Robert Kennedy đã yêu cầu như thế." (14)

(LND: Robert Kennedy là em ruột của Tổng Thống Kennedy, giữ chức Bộ Trưởng Tư Pháp Mỹ từ 1961-1964, đồng thời là Cố vấn Bạch Ốc cho TT Kennedy từ 1961-1963.)

Tiết lộ của Galbraith đã đưa McNamara vào sâu thêm vào bóng mờ của Việt Nam. Mặc dù Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đã kêu gọi rút quân Mỹ về trong năm 1963, ông không nêu ý kiến đó khi Tổng Thống Johnson leo thang cuộc chiến sau đó vào cuối năm đó.

McNamara giải thích với tôi (GS Howard Jones) rằng vì Việt Cộng tăng tốc hoạt động và vì chỉ có hành động quân sự mới có thể giải quyết tình hình nguy cấp đó. Tuy nhiên, Hilsman nói rằng McNamara mang tâm thức "bất định" và "lẫn lộn" và không bao giờ có ý định rút lui. (15)

Vào tháng 12-1963, Tổng Thống Johnson đã làm những gì mà người tiền nhiệm đã khéo léo tránh né: Ông gắn bó sát hơn với quan điểm của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Mỹ về vấn đề Việt Nam.

Khi còn là Phó Tổng Thống, Johnson đã không có mặt trong các buổi họp bí mật ở Bạch Ốc về diễn tiến cuộc đảo chánh ở Nam VN, và khi biết sự liên hệ bí mật của chính phủ Kennedy, Johnson đã mạnh mẽ lên án quyết định đó. Khi lên giữ chức Tổng Thống, Johnson muốn cuộc chiến đừng rắc rối quá để khỏi ngăn trở việc ông thực hiện chương trình cải cách trên nước Mỹ.

Để lý luận, các sử gia sẽ do dự khi giả thiết về những gì có thể xảy ra tại VN nếu TT Kennedy còn sống. Rồi thì, tại sao khảo sát vấn đề này? Những người bi quan nói, Kennedy đã chết ở Dallas, như thế thật là là vô nghĩa khi chúng ta bàn về Kennedy có thể có chính sách gì khác tại VN để có thể ngăn cản cái chết của nhiều triệu người.

Tuy nhiên, không phải là chuyện giả thiết khi khảo sát chính sách của TT Kennedy về VN trong nỗ lực muốn tìm xem có hay không diễn ra một mô hình rút lui quân Mỹ về. Là một nhân vật chủ yếu trong vở bi kịch này, Kennedy lý luận rằng chỉ có người Nam VN mới có thể chiến thắng (hay thất bại) ở cuộc chiến này. Chính Kennedy đã lập đi lặp lại rằng ông định nghĩa thành công như là việc giảm khả năng của loạn quân Việt Cộng về mức độ mà chính phủ Sài Gòn có thể tự mình kiểm soát được để giữ an ninh.

Các hồ sơ củng cố cho cuộc nghiên cứu này cho thấy rằng TT Kennedy đã có ý định rút bớt sự tham dự quân sự đặc biệt của Mỹ tại Nam VN về còn mức tương đương đầu năm 1961 thôi. (16)

Sau khi liên tục nhận các bản báo cáo lẫn lộn (thắng/thua) về diễn tiến cuộc chiến, TT Kennedy đã chọn giaỉ pháp rút bớt quân Mỹ, dự kiến khởi sự từ cuối 1963 và, sau khi tái đắc cử vào mùa thu 1964, sẽ đưa số quân Mỹ giảm còn tương đương mức cố vấn quân sự của năm 1961 vào cuối năm 1965. Việc Kennedy bổ nhiệm Henry Cabot Lodge làm Đại sứ tại Nam VN vào mùa thu 1963 là sự kiện đáng nói.

■ Trang 12:

Là một nhân vật hàng đầu của Đảng Cộng Hòa, Lodge và Đảng Cộng Hòa sẽ chia sẻ trách nhiệm chính trị nếu có thất bại tại Việt Nam. Thực sự, Lodge trở thành người ủng hộ mạnh mẽ cho cuộc đảo chánh [tại Sài Gòn], liên lạc trực tiếp với TT Kennedy và làm cho việc này trong bản chất trở thành việc của lưỡng đảng [tức, Dân Chủ và Cộng Hòa].

Nghi ngờ khả năng của Nam VN [tức, chính phủ nhà Ngô] và chống lại việc quân Mỹ phải tham chiến, TT Kennedy đã tìm cách ngưng việc Mỹ hóa cuộc chiến trong một tiến trình mà TT Richard M. Nixon sẽ đặt tên là "Việt Nam hóa" chiến tranh.

Không phải ai cũng chấp nhận các khám phá trong cuộc nghiên cứu này (LND: mà kết quả là sách "Death of a Generation"). Câu chuyện kể lại trong các trang giấy này vẫn còn chưa lắng xuống, và khó mà bác bỏ. TT Kennedy lúc đầu đã cùng những người khác tham dự chiến lược tranh cãi là rút lui xuyên qua việc leo thang chiến tranh, nhưng đã sớm nhận ra rằng gỡ dần quan hệ quân sự mới đưa ra con đường khả thi duy nhất để ra khỏi vũng lầy. TT Kennedy lúc đó hỗ trợ cuộc đảo chánh trong một nỗ lực tính nhầm để đẩy tới kế hoạch rút quân Mỹ về, mà, vì các lý do chính trị, việc rút quân đó sẽ thực hiện trong nhiệm kỳ thứ nhì của ông ở cương vị Tổng Thống Mỹ.

TT Kennedy không đơn độc chịu trách nhiệm cho các sự kiện này. Tham dự của Mỹ tại VN trong nhiều năm trước khi ông vào Bạch Ốc đã đẩy Hoa Kỳ vào các vấn đề đối ngoại và đối nội của Nam VN.

Emmet John Hughes, cựu cố vấn chính trị và là người viết diễn văn cho TT Eisenhower, ghi nhận rằng Hoa Kỳ với tư cách quốc gia can thiệp không có thể "cứu nền tự do chân thực của nước khác mà không trở thành liên hệ một cách chủ yếu trong toàn bộ hành vi và định mệnh của quốc gia đó." Không có cách nào khác để tách biệt sự liên hệ về các vấn đề đối ngoại và đối nội. "Điểm cần thấy rằng để sắp xếp từ xa vào đời sống chính trị nội bộ của một nước đồng minh chính là 'can thiệp'. Đó là sự can thiệp của sự ưng thuận lặng lẽ." Sự liên hệ của Hoa Kỳ [với Việt Nam] đã quá sâu tới nổi Mỹ không thể thoát trách nhiệm về cuộc đảo chánh đó, bất kể những gì Mỹ đã làm hay đã không làm. (17)

Dù vậy, TT Kennedy không xuất hiện phù hợp với hình ảnh lý tưởng như trong vở bi kịch Camelot. Kennedy đã khuyến khích một cuộc đảo chánh ra ngoài vòng kiểm soát và dẫn tới cái chết của ông Diệm chứ không như dự tính là đẩy Diệm ra hải ngoại. Một số sử gia hiện đại nghi ngờ sự liên hệ của Kennedy với cuộc đảo chánh, nhưng họ không đẩy xa vấn đề vì chẳng bao lâu sau đó TT Kennedy lại bị ám sát.

Nếu Kennedy thoát chết và thắng cử nhiệm kỳ nữa, sẽ không có lý do nào để tin rằng ông sẽ thay đổi quan điểm của ông về việc muốn rút ra khỏi một cuộc chiến vốn đã trở thành một thảm bại tất yếu (to get out of a war that had become a lost cause – Dictionary.com dịch 'lost cause' là 'whose defeat is inevitable; a cause with no chance of success').

Có công bằng không, khi chỉ trích TT Kennedy đã hoãn một cuộc rút quân Mỹ vì lý do chính trị? Có phải Kennedy làm đúng khi nhận định rằng rút quân Mỹ trước cuộc bầu cử sẽ bảo đảm cho Đảng Cộng Hòa chiến thắng vì cáo buộc rằng Đảng Dân Chủ đã làm mất VN cũng như trước đó họ làm mất Trung Quốc?

Trong vở bi kịch của T.S. Eliot, tưạ đề Murder in the Cathedral (Ám sát trong thánh đường), Tổng Giám Mục người Anh ở Tổng Giáo Phận Canterbury là Thomas Becket (LND: chức này cũng là Giáo Chủ Anh Giáo) tuyên bố, "Cám dỗ cuối cùng là phản bội lớn nhất; Để làm điều đúng vì một lý do sai lầm." (18)

Nhưng động cơ có đáng nói không, nếu kết quả có thể cứu được một thế hệ [thanh niên Mỹ]?

9. Rostow to Rusk, Jan. 6, 1961, pp. 2–3, 8–9, President's Office File (hereafter referred to as POF), Staff Memoranda Nov. 1960–Feb. 1961—Rostow, box 64a, JFKL; Walt W. Rostow, The Stages of Economic Growth, A Non-Communist Manifesto (Cambridge, Engl.: Cambridge University Press, 1960); William J. Rust, Kennedy in Vietnam: American Vietnam Policy, 1960–1963 (New York: Charles Scribner's Sons, 1985), 31; JFK's Inaugural Address, Jan. 20, 1961, Public Papers of the Presidents of the United States: John F. Kennedy, 1961 (Washington, D.C.: Government Printing Office, 1962), 1; David Halberstam, The Making of a Quagmire: America and Vietnam during the Kennedy Era (New York: Alfred A. Knopf, 1964; revised ed., New York: Alfred A. Knopf, 1988); David Halberstam, The Best and the Brightest (New York: Random House, 1969); Neil Sheehan, A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam (New York: Random House, 1988).

10. Hedrick Smith, "220 G.I.'s Leave South Vietnam as Troop Reduction Gets Under Way," New York Times, Dec. 4, 1963, p. 1; "South Vietnam: The Break-Even Point," Newsweek, Dec. 2, 1963, p. 57; Hilsman, "McNamara's War," 161.

11. Hilsman, "McNamara's War," 158; Mme. Nhu quoted in Schlesinger, Thousand Days, 451. For background of Diem and family, see Denis Warner, The Last Confucian: Vietnam, Southeast Asia, and the West (New York: Macmillan, 1963), chap. 5, and Robert Scigliano, South Vietnam: Nation under Stress (Boston: Houghton Mifflin, 1964), 13–24.

12. Author's interview with Galbraith, March 28, 2001; author's interview with Hilsman, Sept. 17, 2001; author's interview with McNamara, March 5, April 17, 2001.

13. Author's interview with Galbraith, March 28, 2001; Galbraith to author, Oct. 10, 2001 (letter in author's possession); Rusk, As I Saw It, 83; author's interview with Hilsman, Sept. 17, 2001.

14. Author's interview with Hilsman, Sept. 17, 2001; author's interview with Rostow, Feb. 20, 2001; author's interview with Galbraith, March 28, 2001; author's interview with McNamara, April 17, 2001. Hilsman thought that President Kennedy might replace Rusk with McGeorge Bundy.

15. Author's interview with McNamara, April 17, 2001; author's interview with Hilsman, Sept. 17, 2001.

16. Other historians have made this argument before me, daring to speculate about what might have resulted in Vietnam had the bullets missed Kennedy. The three most deeply researched works on Kennedy and Vietnam are: John M. Newman, JFK and Vietnam: Deception, Intrigue, and the Struggle for Power (New York: Warner Books, 1992); Fredrik Logevall, Choosing War: The Lost Chance for Peace and the Escalation of War in Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1999); and David Kaiser, American Tragedy: Kennedy, Johnson, and the Origins of the Vietnam War (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 2000). Logevall most directly speculates about what might have been, but he bases his thoughts on sound reasoning. President Kennedy, Logevall maintains, had always been ambivalent about the war, never wavering from his desire to win but recognizing the danger of enlarging U.S. intervention without allied support and understanding the domestic political costs involved in taking over the war. Despite Kennedy's setbacks in foreign policy, he had earned sufficient credibility to permit him to change Vietnam policy after his presumed reelection in 1964. He knew that political reforms in Vietnam were more important than battlefield victories; he had no Great Society program to implement; and, having faced a number of crises while in office for three years, he had less need than Johnson to prove himself. The dire situation in Vietnam by late 1964 would doubtless have encouraged Kennedy to reduce the U.S. commitment. See Logevall, Choosing War, 395–400, and his essay, "Vietnam and the Question of What Might Have Been," in Mark J. White, ed., Kennedy: The New Frontier Revisited (New York: New York University Press, 1998), 43–48.

17. Emmet John Hughes, "A Lesson from Vietnam," Newsweek, Sept. 9, 1963, p. 17.

18. T. S. Eliot, Murder in the Cathedral (New York: Harcourt, Brace, 1935), 44.

ĐÍNH KÈM: Bản scan trang Bìa trướccác trang 8-12 của tác phẩm Death of A Generation.