17 August 2011

Đàn áp Đại đức Thích Thiện Phúc và Sư cô Thích Nữ Quảng Ý tại chùa An Cư

PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com


Đàn áp Đại đức Thích Thiện Phúc và Sư cô Thích Nữ Quảng Ý tại chùa An Cư
Đài Á châu Tự do phỏng vấn Hòa thượng Thích Thanh Quang và
Sư cô Thích Nữ Đồng Tâm về việc Công an Đà Nẵng bức tử mẹ Sư cô



2011-08-16 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 16.8.2011 (PTTPGQT) - Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế cũng vừa nhận được Bản Tường trình của Đại đức Thích Thiện Phúc về sự phong tỏa, đàn áp, sách nhiễu Chùa An Cư nơi Đại đức trú trì. Đại đức Thích Thiện Phúc là Đặc uỷ Giáo dục kiêm Đặc uỷ Thanh niên của Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Bản Tường trình cho biết tình trạng y hệt như đã xẩy ra tại chùa Giác Minh trước ngày Lễ Vu Lan. Ba lần trong ba ngày 27.7, 29.7 và 31.7.11 Đại đức nhận được Giấy Mời về Ủy ban Nhân dân Phường Hải Bắc làm việc. Nhưng Đại đức từ chối làm việc vì Giấy mời không ghi rõ ràng làm việc về vấn đề gì.

Công an xô xác làm thủng đầu Sư cô Thích Nữ Quảng Ý
Công an xô xác làm thủng đầu Sư cô Thích Nữ Quảng Ý

Trong hai ngày 11 và 12.8.11, Công An các cấp thay nhau canh gác, bất cứ ai đến Chùa An Cư lễ Phật khi ra về đều bị ghi biển số xe.

Tối ngày 12.8, ông Nguyễn Hồng Hoanh, ông Trần Quý Ngọc là Công an Phường, ông Lê Kế là Tổ phó tổ dân phố và 3 công an đột nhập vào chùa gây náo loạn, nói là kiểm tra hộ khẩu. Phật tử Hồ Thị Kim Chung khi rời chùa bị công an theo đuổi về tới tận nhà đòi xét giấy tờ. Sau đó công an Trần quý Ngọc có số thẻ 354-153 ngang nhiên tịch thu chiếc xe Honda của cô Kim Chung không làm biên bản tịch thu xe dù bị phản đối. Đây là chiếc xe cô dùng hàng ngày đi làm lao động phổ thông nuôi hai cha mẹ già bệnh tật.

Sáng ngày 13.8, công an hùng hậu bố ráp chùa An Cư của Đại đức Thích Thiện Phước ở quận Sơn Trà, đuổi mọi Phật tử ra khỏi chùa không cho lễ Phật. Đồng thời tại xã Hòa Phước công an đến Tịnh thất bắt sư cô Thích Nữ Quảng Ý. Sư cô phản đối, mặc Y vàng ngồi trước bàn Tổ niệm Phật, nhưng công an vẫn xô xác, kéo lôi Sư cô xềnh xệch đưa ra xe, khiến tay chân và đầu trán Sư cô sưng vù, rớm máu.

Hiện Sư cô đã được trở về Tịnh thất, người nhà và bác sĩ đang lo thuốc thang điều dưỡng.

Trong khi ấy, công an đặt loa phóng thanh phát lại bài viết của ông Doãn Nguyên Hưng vu hãm, bôi nhọ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo kiêm Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế trên hai số 192, 193 báo "Công an Thành phố Đà Nẵng". Bài này được đem đọc trên Đài Phát thanh Nhà nước. Xin mời quý độc giả nghe một đoạn phát thanh này :

Đài Phát thanh Nhà nước vu hãm, bôi nhọ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo kiêm Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế

Và sau đây là đối chất không sợ hãi của một Phật tử với ông Khánh, Trưởng công an Phường, ông Trúc, Công an Quận, cùng hai công an Hường, Mẫn. Tất cả bốn công an này đều mặc thường phục đứng trước cổng chùa Giác Minh ngăn chận Phật tử không cho vào chùa dự lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy :

Phật tử đối chất với Công an trước cổng chùa Giác Minh

Trong bản Thông cáo báo chí phát hành ngày hôm qua, 15.8.2001, vì bất cẩn đã thiếu một đoạn về sự kiện Công an đàn áp, sách nhiễu trắng trợn khiến mẫu thân Sư Cô Thích Nữ Đồng Tâm ngất xỉu và qua đời khi đưa tới bệnh viện. Vậy hôm nay xin mời độc giả nghe lời kể của Sư cô trên Đài Á châu Tự do.


Giấy mời của UBND Phường An Hải bắc triệu Đại đức Thích Thiện Phúc đi làm việc
Giấy mời của UBND Phường An Hải bắc triệu Đại đức Thích Thiện Phúc đi làm việc

Đài Á châu Tự do đã làm cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Thanh Quang về sự trạng công an phong tỏa chùa Giác Minh và ngăn cấm Phật tử vào chùa cử hành Lễ Vu Lan Báo Hiếu hôm Rằng tháng Bảy vừa qua. Đài cũng phỏng vấn Sư Cô Thích Nữ Đồng Tâm về trường hơp mẹ Sư cô qua đời trong đợt sách nhiễu, đàn áp của công an ngay trước ngôi nhà của mẹ cô. Theo lời Sư cô thì "Chính quyền và công an đã giết mẹ tôi !"

http://queme.net/vie/news_detail.php?numb=1670


Dưới đây là bản chép lại cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Thanh Quang và Sư cô Thích Nữ Đồng Tâm của Đài Á châu Tự do phát về Việt Namtrong chương trình tối thứ hai, 15.8.2011 vừa qua :

Phỏng vấn Hòa thượng Thích Thanh Quang
và Sư cô Thích Nữ Đồng Tâm

Đài dẫn nhập : Theo báo động của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, gần hai tuần lễ qua, chùa Giác Minh ở Đà Nẵng bị Công an và các Tổ dân phố sách nhiễu không cho chùa cử hành Lễ Vu Lan Báo Hiếu vào ngày Rằm tháng bảy âm lịch, bằng cách gửi giấy mời triệu Tăng chúng đi làm việc, ngăn cấm Phật tử vào chùa, và đấu tố chùa Giác Minh "làm chính trị, chống phá nhà nước".

Để hiểu rõ hư thực, chúng tôi làm cuộc phỏng vấn Hòa thượng Thích Thanh Quang, trú trì chùa Giác Minh, Chánh ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên Viện Hóa Đạo . Xin mời quý thính giả theo dõi

Ỷ Lan : Kính chào Hòa thượng Thích Thanh Quang. Được tin Hòa thượng cho báo chí truyền thông biết chùa Giác Minh bị sách nhiễu, bắt chư Tăng đi làm việc, ngăn cấm Phật tử vào chùa trong mấy ngày vừa qua. Vây xin Hòa thượng cho biết hôm nay Rằm Tháng Bảy cũng là ngày lễ Vu Lan, chùa Giác Minh có được tự do hành lễ không ?

Hòa thượng Thích Thanh Quang : Dạ thưa cô, đặc biệt năm nay ngày Lễ Vu Lan tất cả các chốt công an đóng dày đặc. Hiện bây giờ công an còn vây chặt trước cổng chùa. Không có một tín đồ nào vào được trong chùa để lễ Phật. Trước ngày mồng 8 tháng 7 họ đóng hai chốt hai đầu của chùa Giác Minh. Tín đồ vào lễ Phật cúng ông bà và xin cầu siêu đi ra chưa đến khỏi cổng, thì có công an sắc phục đưa đùi thổi còi đón lại, và có bà người thường phục dẫn vào trạm văn phòng ở sát cạnh chùa làm việc.

Hoa quả cúng dường không dám đem đặt trước cổng ngoài. Mỗi sáng Tăng thẳng vào chùa. Đợi đêm khuya đem chúng phải ra mang vào chùa. Hoa quả cúng dường không dám đem đặt trước cổng ngoài. Mỗi sáng Tăng thẳng vào chùa. Đợi đêm khuya đem chúng phải ra mang vào chùa.
Hoa quả cúng dường không dám đem thẳng vào chùa. Đợi đêm khuya đem chúng
đặt trước cổng ngoài. Mỗi sáng Tăng phải ra mang vào chùa.


Họ hỏi tại sao đến chùa Giác Minh, tín đồ trả lời tôi thờ ông bà cha mẹ tôi nơi chùa này. Họ bảo phải đem ông bà đến chùa khác thờ. Nếu đến đây một lần nữa thì chúng tôi sẽ bắt vì chùa này phản động. Họ lấy số xe và xem giấy tờ. Biết địa chỉ số xe, điện thoại, công an đến tận nhà các vị đó, họ tuyên bố không được đến chùa Giác Minh, chùa Giác Minh là "phản động", là "trái pháp luật", là "chống nhà nước", làm cho gia đình họ phải hoang mang, lo sợ. Tất cả dân chúng trong nội thành Đà Nẵng đều biết rõ và sợ sệt.

Các đạo hữu dành giụm ít tiền mua hoa quả đem đến chùa cúng Phật. Họ sợ quá, 5 giờ sáng họ để trước cổng chùa để chùa ra nhận. Thậm chí lúc 20 giờ ngày hôm nay (chủ nhật 14.8.2011) vài người tín đồ đem sữa vào cúng cho hương linh họ thấy công an đông và công an theo chận họ là họ hoảng hốt vất sữa xuống sân và chạy.

Đài phát thanh Phường Bình Thuận đặt máy loa trước cổng chùa phát thanh yêu cầu nhân dân trong hai tổ 12 và 13 phải đề cao cảnh giác trước những hoạt động trái pháp luật của chùa Giác Minh.

Ỷ Lan : Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền tự do Tôn giáo, xin Hòa thượng cho biết lý do vì sao có sự đàn áp, sách nhiễu, hăm dọa đối với bản thân Hòa thượng và Tăng chúng chùa Giác Minh ?

HT Thích Thanh Quang : Dạ thưa cô, đối với Hiến pháp của Nhà nước là tự do tôn giáo, người có tôn giáo và không tôn giáo.

Người trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng như bản thân tôi là người đi tu ở chùa, chúng tôi luôn luôn làm theo đường hướng của Thầy tổ như Hòa thượng Thích Quảng Độ, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, vì chúng sinh đau khổ, vì nhân dân bị không nhà, bị mất đất, bị ngoại xâm giết chết trong khi làm nghề ở ngoài biển khơi. Giáo hội dưới sự lãnh đạo tối cao của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã vạch rõ những lợi hại của sự xâm lấn, bắt nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ, ngài đã kêu gọi toàn thể nhân dân hãy đoàn kết chống lại ngoại xâm, tức chống bành trướng của Trung quốc. Với sự kêu gọi đó nhà nước kết tội cho là "phản động", "trái pháp luật". Như thế chúng tôi hiểu rằng vì lòng yêu nước, thương dân, Giáo hội phải chống lại ngoại xâm. Vì vậy cho nên nhà nước phải tiêu diệt [chúng tôi].

Ỷ Lan : Xin cám ơn Hòa thượng Thích Thanh Quang.

Theo tin Phật tử tại chùa cho biết trong cuộc sách nhiễu, đàn áp, mẫu thân của Sư cô Thích Nữ Đồng Tâm đã ngất xỉu và qua đời khi chở đến bệnh viện. Sau đây là lời kể của Sư cô Thích Nữ Đồng Tâm :

Sư Cô Thích Nữ Đồng Tâm : Kính chào chị Ỷ Lan. Mỗi năm cứ vào ngày Phật Đản và ngày Vu Lan là công an, chính quyền, Mặt trận… các người đó họ không mặc sắc phục đâu, họ mặc thường phục, họ ngồi quanh nhà, ngồi bên quán nước, ngồi góc đầu này gốc đầu nọ theo dõi từ đầu ngày 14 mình đi đâu để chính ngày 15 là họ biết đứng ở chỗ nào họ chặn họ không cho mình đi đến trước cổng chùa. Vì vậy cho nên những ngày từ ngày 13 rồi 14 họ ngồi miết, mình đi đâu họ lẽo đẽo theo giống như cái đuôi phục vậy đó.

Mẹ Đồng Tâm rất hiểu cái điều này. Bởi vì mẹ đi mẹ cũng bị… ý thức chuyện quá đáng của chính quyền. Ngày Vu Lan cũng như ngày Phật Đản nhà Đồng Tâm có một truyền thống là ngày 14 chuẩn bị trong gia đình làm mâm cơm chay cúng Phật, Vu Lan cũng là ngày 14 mình làm trước để ngày 15 mình làm lễ trong chùa. Cho nên anh chị em tụ tập về.

Mẹ đang khỏe mạnh lắm chị Ỷ Lan ơi, Nhưng mà khi đứa cháu lên thăm bà nó, nó bé tí nó phải đón taxi nó về, thì taxi tới đón. Công an chạy tới đuổi taxi biểu không được dừng ở đây. Mẹ đứng trên lầu mẹ nói không được, tui phải dừng lại đón taxi cho cháu tui về. Nhưng nó đuổi, lệnh nên taxi họ phải chạy. Mẹ từ trên mẹ chạy xuống nói : mấy ông không được làm như vầy. Mẹ hiểu mà mẹ cũng buồn lắm, mẹ cũng lo cho Đồng Tâm, cho nên trong cái giận cái buồn đó, huyết áp mẹ cao rồi ngã trước mặt họ.

Đang ngồi là công an mặc bộ thường phục ngồi bên cạnh nhà là nhà bán cà phê. Ngồi từ sáng cho đến tối, chia phiên nhau ngồi ngày nào cũng như thế. Mẹ biết rất rõ nhưng mẹ không nói. Ngày này thấy quá đáng, con cháu người đón taxi về mà tưởng mẹ và Đồng Tâm đón taxi lên chùa, cho nên đuổi taxi đi không cho đi, không cho đón xe, còn nếu mình ra đi là lẽo đẽo đi theo.

Không cho mẹ Đồng Tâm và Đồng Tâm đến chùa, mà không phải từ ngày 14, 15 đâu mà nó đã ở chùa Giác Minh từ ngày mồng 10 tháng 7 là nó đã làm như vậy rồi. Bất kỳ ai đi vào chùa ra là bắt đầu mời vào đồn hỏi thăm, vu cáo chùa, sách nhiễu, cấm không được… nếu lần sau mà đến là xử lý. Còn ai quên giấy tờ là phạt trắng trợn, mặc dù họ xin để lỡ quên ở nhà. Không, về lấy lên cũng phạt trắng trợn như vậy.

Đây là một dã tâm đàn áp của nhà nước, chính quyền này đã giết mẹ của Đồng Tâm. Không phải là năm này đâu mà xẩy ra nhiều lắm rồi. Cho nên sự uất ức và sự cảm thấy mình bị tổn thương, mình bị đàn áp, mình bị… không còn coi ra con người ngay cả vấn đề đi lại cũng bị nó làm phiền não như thế.

Cho nên mẹ Đồng Tâm phải đến giờ, như ly nước tràn ly vậy, bị tức giận sự đàn áp, sự độc ác như thế cho nên mẹ mới lên… mẹ ngã trước mặt họ. Không có cứu được chị Ỷ Lan ạ. Đưa vô bệnh viện người ta nhồi mẹ Đồng Tâm như cái gì ấy.

Thưa quý Đài, thưa chị Ỷ Lan, đây là cái sự đàn áp, độc ác của cái chính quyền nhà nước Cộng sản. Đồng Tâm không ngờ một ngưới tu hành như mẹ Đồng Tâm và Đồng Tâm một con kiến cũng không giết, không có một tấc sắt trong tay thì làm gì. Tui chỉ cần một lòng tu đạo không theo bất kỳ ai hết, thì tại sao lại đàn áp tui như vậy ?

Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á châu Tự do tại Paris

16 August 2011

Hôn nhân khác tôn giáo

Hôn nhân khác tôn giáo

Trần Trọng Việt

Nhân bàn về vấn đề hôn nhân khác tôn giáo, tôi xin kể các bạn nghe một chuyện thật sau đây:


Tôi có anh bạn, người lương, chưa quy y tam bảo. Nhưng trong đời sống anh tin vào thuyết luân hồi, nhân quả của nhà Phật và anh có nhiều cảm tình với PG. Anh có 4 đứa con, 3 gái, một trai. Ba đứa con gái đầu đã có chồng là người lương với nhau, nên đám cưới chỉ tổ chức ở tư gia, không có vấn đề gì xảy ra.

Đứa con trai út của anh ta quen với một cô gái Công Giáo, anh không cản trở, nhưng không được vui. Cho nên hơn hai năm quen biết. Mỗi lần cô ta tới nhà chào "Dạ thưa Bác", anh ta chỉ "Ờ" một tiếng. Trước khi ra về, cô gái chào "Thưa Bác con về", anh ta cũng chỉ "Ờ" một tiếng, không hề nói thêm câu nào.

Cho đến một ngày, con trai anh xin cưới cô bạn gái. Anh chỉ đòi hỏi hai điều kiện: Một là đạo ai nấy giữ. Hai là: Khi có con, phải đợi cho đứa cháu đủ 21 tuổi nó muốn theo đạo nào là tùy ở nó. Không được bắt đứa bé vào nhà thờ rửa tội khi nó còn nhỏ.

Cha mẹ cô gái và cả ông cha xứ mời cậu con trai đến nhà thuyết phục. Nhưng cậu con biết nghe lời cha và vì vốn cậu ta cũng không ưa gì đạo CG. Nên cậu ta nhất định không theo đạo. Cuối cùng thì cha mẹ cô dâu phải đồng ý hai điều kiện bạn tôi đưa ra. Thế là bạn tôi đến nhà đàng gái để bàn chuyện hôn nhân.

Khi hai bên nói chuyện với nhau, thì ông sui gái vẫn cố vớt vát: "Tôi đồng ý là đạo ai nấy giữ. Nhưng khi tụi nó có con. Xin phép anh chị, cho chúng tôi ẵm cháu vào nhà thờ rửa tội cho nó". Bạn tôi trả lời:

" Khi tụi nó có con, thì đứa nhỏ là cháu ngoại của anh và là cháu nội của tôi. Theo phong tục VN thì cháu nội mặn hơn cháu ngoại. Nhưng bây giờ, chuyện mặn hay lạt tôi bỏ qua một bên, không bàn tới. Đức Khổng tử có dạy "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (Điều gì mình không muốn, thì đừng làm cho người khác). Anh không muốn cháu anh theo đạo khác thì anh cũng đừng bắt cháu tôi theo đạo khác khi nó chưa biết gì. Tôi chỉ muốn sự công bằng". Cuối cùng thì ông bà sui phải đồng ý điều kiện của bạn tôi đưa ra, và hai bên bàn qua chuyện tổ chức đám cưới.

Phía đằng gái đương nhiên là họ phải tổ chức lễ cưới ở nhà thờ. Mặc dù chưa quy y. Nhưng vốn thẳng tính, không muốn ai "chơi cha" mình. Cho nên bạn tôi đòi phải làm lễ  ở chùa trước và làm lễ ở nhà thờ sau. Bạn tôi đã vào chùa trình bày với Hòa Thượng và xin Hòa Thượng: "Đám cưới sẽ tổ chức ngày hôm đó. Nhưng giờ nào cử hành hôn lễ ở chùa thì xin HT cho phép con được quyết định" HT có hỏi lý do tại sao lại như vậy. Bạn tôi đã trình bày:

"Nếu tổ chức ở nhà thờ trước, theo kinh nghiệm con thấy có vài đám cưới thì phía CG họ luôn luôn cố tình làm trễ vài giờ để cho bên chùa chờ lâu quá, tự động giải tán, để cho con cái họ khỏi phải vào chùa. Chính bà sui của con cũng đã nói với con gái bà  ta (nó cũng khờ nên đã nói lại cho chồng nó nghe) là nếu vào chùa thì bà ta sẽ đứng ngoài cổng chùa, chứ không vào. Cho nên con xin thầy cho con quyền quyết định để khi họ đòi làm lễ ở  nhà thờ giờ nào thì con sẽ đòi làm lễ ở chùa trước họ 2 tiếng. Nếu họ vào chùa làm lễ thì con sẽ vào nhà thờ làm lễ với họ. Nếu họ không vào chùa thì con cũng sẽ không vào nhà thờ". Sư phụ đồng ý.

Như vậy thì, ngày đám cưới sẽ có tất cả 6 cái lễ sẽ diễn ra: Buổi sáng, đàng trai qua đàng gái rước dâu. Buổi trưa, làm lễ ở chùa rồi nhà thờ. Sau đó cô dâu và chú rể đi quay phim, chụp hình ngoài công viên. Buổi xế đằng gái đưa dâu qua đàng trai và buổi tối đãi tiệc ở nhà hàng……

Có lẽ thấy nhiều lễ quá, con cái mình không kham nổi và cái chính là không buộc được thằng rể theo đạo. Nên đàng gái đã tự động xin bỏ hai cái lễ ở chùa và nhà thờ. Để bù vào đó, bà sui (qua con gái và rể) đề nghị cho một ông Linh Mục người Úc ra công viên để ký giấy hôn thú mà thôi, không có làm lễ..

Bạn tôi không chịu và nói. " Ký giấy hôn thú thì mời luật sự của chính quyền tới ký. Tại sao lại phải nhờ ông LM ký. Bất cứ làm gì mà dính tới ông Linh Mục thì phải vào chùa làm lễ với tao". Thế là cuối cùng, trong ngày cưới mời nhân viên chính phủ tới ký giấy hôn thú ngay sau vườn nhà trai.

Tôi kể ra chuyện này, mong tất cả mọi PT phải cứng rắn, giữ đạo của mình, mình chỉ đòi hỏi công bằng chứ có ép buộc ai đâu. Đừng để cho người ta bắt nạt mình. Tiếc rằng nhiều người Lương và Phật Tử chưa hiểu nhiều về thực chất các đạo Chúa (CG&TL), cứ nghĩ rằng đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy người ta ăn hiền ở lành nên đã quá dễ dãi với họ, nhiều người cứ nghĩ sai lầm rằng: Hễ lấy người đạo Chúa thì phải theo đạo của họ. Tại sao lại có chuyện kỳ quái, bất công như vậy?


Trần Trọng Việt

13 August 2011

Hòa thượng Thích Thanh Quang khẩn trình về tình hình đàn áp chùa Giác Minh ở Đà Nẵng nhân Đại lễ Vu Lan


PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất BP 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) Tel.: Paris (1) 45 98 30 85<br> Fax : Paris (1) 45 98 32 61 E-mail : ubcv.ibib@free.frPHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com


Hòa thượng Thích Thanh Quang khẩn trình về tình hình
đàn áp chùa Giác Minh ở Đà Nẵng nhân Đại lễ Vu Lan


2011-08-12 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 12.8.2011 (PTTPGQT) - Viện Hóa Đạo vừa chuyển đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tin khẩn việc công an đàn áp, sách nhiễu, hăm dọa chư Tăng, Phật tử chùa Giác Minh nhằm cấm chỉ không cho cử hành Đại lễ Vu Lan hôm chủ nhật sắp tới, tức Rằm tháng bảy, 14.8.2011.

Chùa Giác Minh nơi đặt trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, và Tổng vụ Thanh Niên thuộc Viện Hóa Đạo. Hòa thượng Thích Thanh Quang là Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên. Hòa thượng cũng là Viện chủ chùa Giác Minh, nơi địa đầu đàn áp ở miền Trung của nhà nước Cộng sản.

Vu Lan là lễ Báo hiếu cha mẹ nhiều đời trong truyền thống Phật giáo, cũng là ngày Rằm Xá tội Vong nhân mà dân tộc Việt Nam cử hành tự ngàn xưa. Thế nhưng nhà đương quyền Cộng sản thông qua bàn tay công an ngăn cấm không cho chư Tăng, Phật tử được cử hành Lễ Vu Lan tại chùa Giác Minh để báo hiếu cha mẹ, ông bà như người dân Việt thể hiện bao nhiêu thế kỷ qua.

Theo bản Khẩn trình số 1 của Hòa thượng Thích Thanh Quang, thì mục tiêu sách nhiễu, đàn áp, hăm dọa nhắm vào việc cấm chư Tăng Ni, Phật tử đến chùa Giác Minh vào dịp lễ Vu Lan, chủ nhật tới. Bằng 5 bước sau đây, cuộc đàn áp, sách nhiễu mở ra :

1. Ngày 2.8.11, lợi dụng tổ chức Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, ông Hùynh Tấn Phong, Tổ trưởng Phường Bình Hiên, quận Hải châu, thành phố Đà Nẵng đạt Giấy mời toàn thể tăng chúng chùa Giác Minh. Thế nhưng khi tới nơi, Phường quay ra đấu tố chùa Giác Minh, quy kết chùa "phản động, làm chính trị, chống phá nhà nước"... Cuối cùng ra lệnh buộc Tăng chúng phải rời khỏi chùa sang xin ở chùa khác. Nếu không xin được cán bộ sẽ xin giúp, bằng không thi hành nhà nước sẽ có biện pháp xử lý.

2. Qua hôm sau, 3.8.11, triệu tập họp Tổ Dân phố để tuyên truyền vu khống chùa Giác Minh "làm chính trị, chống phá nhà nước". Rồi ra lệnh cho bà con Phật tử không được đến chùa Giác Minh. Những ai gửi hương linh, tro cốt người thân đã mất ở Giác Minh phải di dời sang chùa khác trong thành phố. Nếu không thực hiện được việc này ở chùa khác, nhà cầm quyền sẽ gửi giúp.

3. Bắt đầu từ ngày 9.8.11, mở cuộc sách nhiễu, áp lực đồng bào Phật tử nhằm ngăn chận Phật tử các nơi về chùa Giác Minh. Công an giao thông, công an phường, an ninh, lực lượng xung kích túc trực suốt ngày đêm ở tất cả các con hẽm vào chùa, đặt máy quay phim ở trụ sở đối diện chùa, quay hình tất cả bà con phật tử vào ra, đặc biệt quay biển số xe. Mọi Phật tử vào chùa cúng dường, thắp hương cho ông bà, cha mẹ, con cái đã mất, hoặc vào chùa quy y, cầu an, cầu siêu cho người thân, khi bước ra khỏi cổng chùa liền bị giữ lại đưa về trụ sở tra hỏi, sách nhiễu, tuyên truyền vu cáo chùa rồi ra lệnh không được đến chùa này, không được mang đồ thực phẩm hoa quả đến cúng. Nếu còn tiếp tục nhà nước sẽ không dung tha.

Khi Phật tử hỏi vì sao cấm như vậy, cán bộ trả lời "đây là lệnh cấp trên, phải thi hành". Vì vậy có nhiều Phật tử muốn cúng dường chùa phải chờ đêm khuya lén lút mang đến để ngoài cổng chùa rồi chạy gấp đi.

Hoa quả cúng dường không dám đem đặt trước cổng ngoài. Mỗi sáng Tăng thẳng vào chùa. Đợi đêm khuya đem chúng phải ra mang vào chùa. Hoa quả cúng dường không dám đem đặt trước cổng ngoài. Mỗi sáng Tăng thẳng vào chùa. Đợi đêm khuya đem chúng phải ra mang vào chùa.
Hoa quả cúng dường không dám đem thẳng vào chùa. Đợi đêm khuya đem chúng
đặt trước cổng ngoài. Mỗi sáng Tăng phải ra mang vào chùa.


4. Những anh chị em Huynh trưởng Gia Đình Phật tử sinh hoạt tại các quận huyện, trong và ngoài tỉnh thành đều bị gọi đi "làm việc", ngồi nghe cán bộ vu cáo, mạ lỵ hàng Giáo phẩm lãnh đạo GHPGVNTN và Tăng chúng chùa Giác Minh đủ điều. Chiến dịch ly gián này cốt làm mất lòng tin, và ngăn cấm anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh không được đến chùa tham gia sinh họat với Giáo hội. Trường hợp đã xẩy ra cho các Huynh trưởng Chiến, Đủ, Phong, chị Hà, chị Thu.

Ngoài ra, chùa An Cư của Đại đức Thích Thiện Phúc cũng lâm tình trạng bị lực lượng công an điều động canh giữ ngày đêm, kể từ hôm 4.8.11, mà mục tiêu ngăn cản đồng bào Phật tử đến chùa thăm Đại đức nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu.

5. Ngày 10.8.11, tức mồng 9 tháng 7 âm lịch, nhà cầm quyền cộng sản và Ban Tuyên giáo Đà nẵng gửi giấy mời đến tất cả các chùa trong thành phố, huy động giới Tăng Ni trong Giáo hội của Nhà nước làm cuộc đấu tố chùa Giác Minh, bôi nhọ và vu cáo hàng lãnh đạo GHPGVNTN, đồng thời đấu tố anh chị em Huynh trưởng Gia Đình Phật tử lâu năm theo Gíao hội Thống nhất. Mục tiêu "tạo" cái gọi là "đồng thuận của Phật giáo Nhà nước" chống lại sự hiện hữu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong lòng dân, và tổ chức Gia Đình Phật tử Việt Nam trực thuộc GHPGVNTN.


Một số Giấy mời gọi là tham dự Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, nhưng thực chất Đấu tố chùa Giác Minh
Một số Giấy mời gọi là tham dự Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, nhưng thực chất Đấu tố chùa Giác Minh

Một số Giấy mời gọi là tham dự Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, nhưng thực chất Đấu tố chùa Giác Minh
Một số Giấy mời gọi là tham dự Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, nhưng thực chất Đấu tố chùa Giác Minh

Một số Giấy mời gọi là tham dự Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, nhưng thực chất Đấu tố chùa Giác Minh
Một số Giấy mời gọi là tham dự Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, nhưng thực chất Đấu tố chùa Giác Minh

12 August 2011

Hòa thượng Thích Nhật Ban bị hành hung




GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
BAN ĐẠI DIỆN TỈNH ĐỒNG NAI
                         
Phật Lịch :2555                                                                                          Số :36 BĐD/VP/TB

THÔNG BÁO KHẨN

Kính Gửi: Chư Tôn Đức và Quý Đồng Bào Xa Gần Trong Ngoài Nước.
            
Tôi HT.Thích Nhật Ban, Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Đồng Nai, trụ trì chùa Ba La Mật, ngụ tại Ấp Long Khánh, xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xin thông báo.

Hòa thượng Thích Nhật Ban bị đánh

Ngôi chùa Ba La Mật bị dột nát


Chính quyền CA Đồng Nai không cho sửa chữa
mà còn nhiều lần hành hung Hòa Thượng Thích Nhật Ban



Vào lúc 12g đêm 11 rạng 12/08/2011, khoảng 15 Công An huyện Long Thành, CA thành phố Biên Hoà và tỉnh Đồng Nai đã đột nhập vào chùa Ba La Mật đập phá cửa đòi kiểm tra hộ khẩu khi trông thấy 1 vị tu sĩ đi vào chùa viếng thăm tôi.

Tôi trả lời "Từ ngày chính quyền bắt giam  tôi 4 năm về trước, lúc đó tôi đang trú ngụ tại  Đầu Phật Đài, dốc 47, sau khi mãn án chính quyền phá vở tịnh thất, đưa tôi về chùa Ba La Mật, đất đai hơn 2 mẫu, giấy tờ chủ quyền tôi còn đầy đủ, chính quyền chưa trả đất lại, còn ở nơi đây chính quyền không cấp Hộ Khẩu thì kiểm tra cái gì?"

Công An lấy giấy vị Tu sĩ nói trên và  ra lệnh "Sáng ngày mai mời Ông Thích Nhật Ban đến cơ quan nhận giấy, không cần vị tu sĩ nói trên đi nhận".

Rõ ràng đây là âm mưu gây cản trở sự đi lại của tôi vào ngày mai đến chùa Liên Trì của HT.Thích Không Tánh tham dự Lễ Vu Lan.

Xin thông báo đến Chư Tôn Đức và Quý Đồng Bào xa gần trong ngoài nước được tri tường./.

Kính báo

Thích Nhật Ban

Ngược đãi sông Đồng Nai

Ngược đãi sông Đồng Nai


Sông Đồng Nai nuôi sống hơn 20 triệu dân nhưng đang mắc quá nhiều "bệnh" và hiện vẫn tiếp tục bị… vắt kiệt sức



Sông Đồng Nai cung cấp nguồn nước  sinh hoạt cho hơn 20 triệu dân của 11 tỉnh, thành ở lưu vực sông. Nhưng con người đã trả ơn dòng sông đó như thế nào? Thủy điện chằng chịt, ô nhiễm do xả thải đang vắt kiệt sức dòng sông.

"Siết cổ" thượng nguồn

Thượng nguồn sông Đồng Nai đang gánh một mạng lưới quy hoạch thủy điện khá dày đặc. Dòng chính sông dài 620 km, có đến 15 nhà máy thủy điện lớn, nhỏ, trong đó, một số nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động như

 
 Đại Ninh,
 Đa Nhim,
Trị An,
Đồng Nai 2...  nhưng vẫn chưa có quy chế vận hành liên hồ giữa các thủy điện. Hai chi lưu sông Bé và sông La Ngà có 11 công trình thủy điện. Bên cạnh đó, dòng chính sông  Đồng Nai còn "gánh" thêm khá nhiều công trình xây dựng khác: 406 hồ chứa, 371 đập dâng - cống, 134  trạm bơm và hệ thống thủy lợi...
 
Rừng đầu nguồn bị "cạo trọc", còn dòng chính sông Đồng Nai bị công trình thủy điện Đồng Nai 4 "siết cổ"

Theo  Giám đốc Trung tâm Phát triển Bền vững Tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu - Liên hiệp Các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), mật độ công trình dày đặc khiến sông Đồng Nai đang và sẽ thay đổi lớn về cơ cấu dòng chảy tự nhiên theo chiều hướng bất lợi: Tăng khả năng đe dọa lũ mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô. Ngoài ra, việc phá các rừng đầu nguồn để xây công trình đã khiến hệ sinh thái,  sinh cảnh khu vực thượng và trung lưu hệ thống sông Đồng Nai bị phá vỡ. Dòng sông Đồng Nai ngày xưa nước xanh trong nhưng hiện nay đục ngầu. Tuy chưa có một nghiên cứu cụ thể về tình trạng đổi màu dòng sông nhưng nhiều giả thuyết đưa ra đều nghiêng về việc phá rừng, đất bị rửa trôi theo nước lũ chảy xuống dòng sông.
Khảo sát mới nhất về tình hình hoạt động thủy điện trên sông Đồng Nai của tỉnh Đồng Nai cho thấy hàng loạt hồ thủy điện phải ngưng hoạt động do thiếu nước. Hồ Trị An và một số thủy điện gần hạ nguồn không đủ nước để hoạt động  vì thủy điện Đồng Nai 2 tích nước chuẩn bị chạy  nhà máy, ngay cả thủy điện Đồng Nai 3 nằm phía dưới cũng chứa  không đủ nước nên không thể chạy  các tổ máy phát điện. Kéo theo các hệ lụy là tình trạng thiếu nước thường xuyên trên sông Đồng Nai và xâm mặn phía hạ lưu ngày càng trầm trọng.   

    Đầu năm 2011, các nhà máy nước tại Sàigon đã "la làng" vì độ mặn quá cao. Chẳng hạn, độ mặn đo từ Nhà máy Nước Tân Hiệp (cung cấp nước cho

TP) lên đến  270 mg/lít (độ mặn cho phép chỉ 250 mg/lít), sau khi bơm nước rửa mặn từ hồ Dầu Tiếng, độ mặn vẫn còn đến 258 mg/lít.

"Đầu độc" hạ nguồn

Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC) thuộc Hội Bảo vệ Thiên nhiên môi trường Việt Nam vừa công bố nghiên cứu sức chịu tải của sông Đồng Nai. Kết quả cho thấy từ đập thủy điện Trị An đến cửa Soài Rạp, dòng sông gần như không còn khả năng chịu đựng ô nhiễm. Cụ thể, không còn khả năng tiếp nhận nước thải chứa các chỉ tiêu vượt ngưỡng: TSS, COD, BOD, amoniac, ni-tơ và phosphor, trong khi đoạn sông này  tiếp nhận nước thải từ các nhà máy, KCN, làng nghề. Riêng đoạn sông từ hợp lưu sông Sài Gòn đến cửa Soài Rạp còn chịu ảnh hưởng của nước triều: Khi nước triều dâng cao, khả năng tiếp nhận ô nhiễm gần như không còn nhưng lại là lúc phải tiếp nhận quá nhiều tải lượng ô nhiễm.
 
Rừng đầu nguồn bị "cạo trọc", còn dòng chính sông Đồng Nai bị công trình thủy điện Đồng Nai 4 "siết cổ". Ảnh: Thu Sương

Bên cạnh đó,  kết quả dự tính  diễn biến ô nhiễm lưu vực sông Đồng Nai giai đoạn 2015- 2020 cho thấy ô nhiễm do chất thải không ngừng gia tăng từ 1,04 - 2,61 lần ở tất cả các loại nước - khí- chất thải rắn. Các địa phương có thải lượng ô nhiễm tăng nhanh và nhiều nhất là TPSG, Đồng Nai và Bình Dương. Ngoài các nguồn ô nhiễm nội tại, 3 địa phương này còn gánh chịu một lượng thải ô nhiễm lớn từ thượng nguồn đổ về. Tuy nhiên, đến nay, sông Đồng Nai vẫn chỉ được "chẩn bệnh" một phần ngắn mà chưa được "khám tổng quát" 620 km và các chi lưu. Chưa kể, dòng sông này đêm ngày vẫn đang bị "móc ruột" khối lượng cát lớn.


Nhiều phương án "cứu" sông Đồng Nai đã được đưa ra nhưng vẫn chưa có sự thống nhất do thiếu tổng chỉ huy trong việc điều động, phân công các địa phương trong việc bảo vệ lưu vực sông. Hiện nay, có hai  tổ chức quản lý liên quan đến lưu vực sông Đồng Nai là Ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Đồng Nai thuộc Bộ NN-PTNT và Ủy ban Bảo vệ Môi trường lưu vực sông Đồng Nai, nhưng hai tổ chức này chưa có sự phối hợp nhịp nhàng.

 

Mặt khác, ngay chính 11 tỉnh, thành nằm trong lưu vực sông cũng đang phân vân giữa việc bảo vệ rừng đầu nguồn, giảm ô nhiễm dòng sông với các dự án phát triển kinh tế. Trong khi đó, Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên-Môi trường) được giao nhiệm vụ thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai, 24 dự án với tổng kinh phí hơn 700 tỉ đồng được đưa ra trong quy hoạch nhưng lại không được các địa phương, nhà khoa học đồng tình vì dự án quá dàn trải, trong khi các nguyên nhân đe dọa sông Đồng Nai vẫn chưa được phân tích đầy đủ, rõ ràng./.

TỔNG HỢP

10 August 2011

HỌC THUYẾT DARWIN, PHẬT GIÁO VÀ THIÊN CHÚA GIÁO

HỌC THUYẾT DARWIN, PHẬT GIÁO VÀ THIÊN CHÚA GIÁO

Tiến sĩ Amarasiri Weeraratne
Thích Nữ Liên Hòa dịch

Lời người dịch: Nguyên tác tiếng Anh của bài khảo cứu ngắn này: Darwinism, Buddhism and Christanity được đăng trong tạp chí The Maha Bodhi, Sri Lanka, Tập 82,  số 11 & 12, Nov - Dec 1974, trang 443 – 446 của Amarasiri Weeraratne, nhà nghiên cứu Phật học nổi tiếng ở Tích Lan.

Thật ra, bài viết này đã được viết và đăng tải trên văn đàn cách đây khá lâu. Do đó, bài viết cũng không có gì mới mẻ đối với trào lưu nhận diện lại bản chất thật của các tôn giáo trên thế giới ngày nay. Tuy nhiên, khi đọc lại bài khảo cứu này, người dịch nhận ra một vài điểm khá lý thú. Khoa học càng lúc càng đưa ra nhiều bằng chứng để xác minh những gì được  gọi  là "mặc khải" của Chúa trong Thánh Kinh, một bộ Kinh mà trước đây một phần nhân loại bị đào tạo buộc phải tin tưởng là "không thể nào sai lầm." Dù bị phản đối, chống báng, hăm doạ, thậm chí bị mất mạng, các nhà khoa học vẫn miệt mài làm việc và nói lên tiếng nói đúng với nguyên lý vận hành của vũ trụ như thế nào.

Trước đây gần ba thập niên, Amarasiri Weeraratne đã mạnh dạn nhận định lại giá trị của học thuyết Tiến Hóa, ông phân tích rạch ròi đâu đúng đâu sai. Chúng ta cũng nên nhớ rằng, khoảng thời gian đó, văn hóa Thiên Chúa giáo của Tây phương đang tấn công sang hướng Á Châu, thế mà  Amarasiri Weeraratne vẫn không ngại trình bày quan điểm của mình. Tiếng nói của ông góp thêm sức mạnh vào dòng thác vạch trần những sai lầm, tội lỗi của một tôn giáo tự tôn là "thiên khải", "cao quý", để rồi đến ngày 12 tháng 3 năm 2000, Giáo Hoàng John Paul II, đại diện cho "Hội Thánh" Gia Tô đã phải xưng thú những đại tội của tôn giáo mình trước thế giới.

Phật giáo với học thuyết "Duyên Khởi" đã thiết lập nền tảng cho sự sinh khởi của vũ trụ. Các pháp nương nhau mà tồn tại, nương nhau mà hoại diệt. Không một đấng "Sáng Tạo" nào tạo dựng nên thế giới đầy chiến tranh, giết chóc, hận thù, bạo động, khủng bố, cuồng loạn lan tràn khắp nơi như lịch sử của quá khứ và hiện nay đang tiếp diễn.  Mặc dầu bài viết của tác giả chưa khai  triển hết học thuyết "Duyên Khởi" của Phật giáo để soi sáng vấn đề vũ trụ, vì chỉ dựa vào một Kinh trong nhiều bài Kinh đề cập đến sự hình thành thế giới mà khai triển vấn đề. Nhưng dù sao nó cũng thể hiện được phần nào đúng với tinh thần của Phật giáo, nên người dịch xin chuyển ngữ sang tiếng Việt và xin gởi đến quý độc giả.

*********

Chỉ hơn một trăm năm kể từ khi nhà bác học Darwin công bố học thuyết "Sinh vật tiến hóa", khám phá mở ra một kỷ nguyên mới này đã làm lung lay nhiều triết thuyết căn bản của nhiều tôn giáo và nhiều trào lưu cách mạng hoá tư tưởng ở phương Tây. Các giáo sĩ Thiên Chúa giáo ở Anh Quốc bị đánh động và đã công kích lại Darwin và học thuyết Tiến Hóa của ông. Darwin mạnh dạn và kiên định đối mặt với nhiều trận tấn công cuồng tín và kém hiểu biết như vậy. Nhiều thế lực dùng tiền hòng bắt ông im tiếng đều bị thất bại. Giám mục Wilberforce là mũi nhọn, dẫn đầu các cuộc  công kích cuồng tín này. Luận điểm của Giám mục cho rằng nếu thuyết Tiến Hóa là đúng sự thật thì câu chuyện về sự tạo dựng trong phần mở đầu của Thánh Kinh phải sai. Các giáo sĩ tin rằng Darwin đã sai lầm, còn Thánh Kinh là những lời dạy của Chúa không thể sai được.

Tuy nhiên, nhiều ngành khoa học khác nhau như Địa chất học, Cổ sinh vật học, Nhân loại học, Động vật học, Phôi học, Sinh vật học, v. v… đã đưa ra bằng chứng xác minh và củng cố học thuyết của Darwin. Học thuyết của ông giải thích nguồn gốc sự sống trên thế giới thỏa đáng hơn bất kỳ học thuyết nào mà con người đã biết đến. Tất cả các khám phá khoa học có giá trị đã xác minh cho học thuyết này, và với thời gian các khám phá đó đã  khẳng định thêm giá trị của nó. Sự đối lập của những người cuồng tín dần dần bị bào mòn khi họ đối diện với sự tiến bộ của khoa học. Hiện nay, phần lớn, nhiều giáo phái thuộc Thiên Chúa giáo đã dừng lại cuộc chiến chống lại sự tiến hóa, và vài giáo phái đã cố gắng thoát khỏi giáo điều của họ dưới ánh sáng của tri thức khoa học. Họ nói:  "Dù cho chấp nhận thuyết Tiến Hoá", thì "cũng có một năng lực nào đó vận động các năng lực này." "Một năng lực nào đó" phải được xem là Thượng Đế với những thuộc tính như toàn năng và toàn bi. Một công trình nghiên cứu về học thuyết tiến hóa chỉ ra rằng điều này không phải vậy. Do đó, luận điệu này không những không thỏa đáng mà còn không tự biện hộ được và không thể đứng vững được khi khảo sát kỹ lưỡng. Ngày nay, thế giới khoa học và giới nghiên cứu đều đánh giá cao học thuyết của Darwin. Tất cả sinh viên đang theo đuổi ở cấp Đại học và hậu Đại học trong lãnh vực khoa học đều tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.

Mặc dù học thuyết Tiến Hóa của Darwin đã làm cho nền tảng của nhiều tôn giáo vùng Xê-mít (Semite) bị sụp đổ, và khiến cho Thiên Chúa giáo bị điêu đứng, nó vẫn không gây  tổn thương hay có ảnh hưởng bất lợi gì cho Phật giáo. Đức Phật không dạy thế giới này do một đấng Thượng Đế tạo dựng hay con người chỉ  là sự sáng tạo đặc biệt của Thượng Đế. Từ "satva" (có nghĩa là chúng sanh) chỉ chung cho con người, loài vật, chư thiên, và tất cả mọi loài có sự sống. Vì vậy, đạo Phật không phân biệt con người với động vật như Thiên Chúa giáo. Trong Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Aggañña Sutta) [1], đức Phật  đề cập đến đời sống con người có liên hệ đến quá trình tiến hóa này. Do đó,  quan điểm này không có gì  lạ lẫm hay hấp dẫn đối với hàng Phật  tử, và vì vậy học thuyết Tiến Hóa này được chấp nhận như là một khám phá khoa học, không hề mâu thuẫn với giáo lý căn bản của đạo Phật. Trong bài viết ngắn này, tôi muốn biện minh vấn đề làm thế nào ba chân lý nền tảng, đó là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), và Vô ngã (Anatta) tạo thành giáo lý trọng tâm của đức Phật.  Ba chân lý này được xác định, soi sáng  và ủng hộ bằng những chứng cứ của khoa học. Đây là vấn đề làm cho Phật tử cảm thấy hết sức hào hứng và thoả mãn.

Thánh Kinh dạy rằng thế giới và sự sống trong đó, loài vật cũng như con người được Thượng Đế tạo ra trong vòng 7 ngày. Nhiều loài khác như những sinh vật dưới nước, các loài chim bay trên không, loài bò sát, và động vật bốn chân được nói là do Thượng Đế tạo ra riêng lẻ. Do đó, người phương Tây nghĩ rằng những loài này hoàn toàn khác, không có mối quan hệ với nhau. Họ cũng tin rằng con người cũng được Thượng Đế sáng tạo bằng hạt bụi của trái đất mà Thượng đế đã thở ra. Vì vậy, họ tin tưởng con người là một sáng tạo riêng lẻ và không có liên hệ gì với các loài động vật về mặt sinh học.
Darwin đã chỉ ra đời sống bắt đầu với một cơ thể đơn bào trong đại dương và phát triển qua nhiều giai đoạn tiệm tiến như thế nào. Ông viện dẫn bằng chứng khoa học để bảo vệ luận điểm của mình. Luận điểm  này chứng minh rằng tất cả loài động vật có một nguồn gốc chung và phát triển từ hình thái này đến hình thái khác nhờ vào các biến đổi sinh học. Nhờ đó, người ta đã khẳng quyết rằng động vật không phải là loài động vật không thay đổi được, mà cũng không phải doThượng Đế tạo ra, mà chúng tiến hóa dần dần từ dạng thức thấp nhất của sự sống, và ngay bây giờ chúng cũng vẫn đang tiến hóa liên tục dưới nhiều dạng  thức khác nhau. Đời sống của con người quá ngắn ngủi để theo dõi trọn vẹn quá trình tiến hóa này. Các loài động vật và thực vật sống cách đây hàng triệu năm, nay không còn nữa. Nhiều loại cây cỏ và động vật sống hàng triệu năm trong tương lai sẽ khác so với hiện nay. Trường hợp con người cũng vậy. Do đó, định luật "Vô thường" (anicca) không những ứng dụng cho các đối tượng vô tình mà còn áp dụng cho các loài động vật hữu tình. Lời đức Phật: "Sabbe sankhàrà aniccà"  (Tất cả hành đều vô thường)  lại càng được khẳng định và soi sáng nhờ các bằng chứng khoa học.

Thánh Kinh dạy rằng thế giới này và tất cả sự sống trên thế giới được đấng Thượng Đế đại từ, đại lực tạo ra.  Nhưng khi nghiên cứu quá trình tiến hóa, chúng ta thấy mọi loài đều phải chịu đau khổ. Kẻ mạnh đàn áp kẻ yếu là chuyện xảy ra phổ biến trong quá trình sống và tiến hóa. Sự tồn tại ở đây có nghĩa là sự kiếm ăn và tránh bị ăn. Do đó, cả trái đất này ở khắp  mọi nơi, ngay cả trên đất liền, trên không trung hay trong biển cả đều từng bị đẫm ướt máu của sinh vật bị giết. Nhiều động vật thời cổ bị tiệt chủng bởi vì chúng không thể chống lại nổi các loài dã thú ăn thịt. Các loài bò sát lớn đã bị tiệt chủng có thể xem như những điển hình. Chúng để lại các bộ xương và từ những bộ xương này, người ta đã tái hiện hình thù của chúng. Các loài động vật ăn thịt lẫn nhau là cách tự điều chỉnh của thiên nhiên đối với các loài dã thú. Nếu không thì  trái đất sẽ đầy dẫy những côn trùng và nhiều loại sinh vật khác, không còn ngay cả  một inch (2,54 cm) đất dành cho con người.  Thú vật luôn sống trong tình trạng sợ hãi các loài dã thú có khả năng giết và ăn thịt chúng. Không có một người trí thức nào, những người có khả năng suy luận, những người không bị niềm tin làm cùn mòn lý trí của mình lại   chấp nhận rằng Thượng Đế đã   vạch ra một kế hoạch sát hại đẫm máu như vậy lại là một đấng từ ái ! Niềm tin vào đấng Sáng Tạo, vào Thượng Đế và những thuộc tính nhân ái của Thượng Đế đã bị sụp đổ. Tuy nhiên, Phật ngôn: "Sabbe Sankhàra Dukkhà" (Tất cả hành đều khổ) lại được thẩm định như một chân lý dưới ánh sáng khoa học. Tại sao Thượng Đế đầy quyền năng và nhân từ tạo ra những chúng sanh tiến hoá ngang qua tiến trình khổ sở và chậm chạp đầy đau thương nhiều thế kỷ như vậy? Tiến trình phát triển này là một cuộc dò dẫm mù lòa trong bóng tối và mọi loài sống trong đau khổ. Quan điểm cho rằng đây là công trình của Thượng Đế toàn năng và nhân từ không còn đứng vững nữa. Quả thực nếu có một Thượng Đế như thế, Ngài nên tạo  dựng mau chóng, không có những đau khổ mò mẫm mù lòa tăm tối này. Sự sống của muôn vật nên được hạnh phúc và không bị khổ đau. Nhưng  khi giáp mặt với sự bất toàn của quá trình tiến hóa và khổ đau đính kèm đó, quan niệm cho rằng có một Thượng Đế nhân ái đứng sau tiến trình này đã bị đánh đổ. Trước thời Darwin, những tín hữu Ky-tô có lẽ đã hỏi "Làm thế nào thế giới có mặt mà không có một đấng Sáng Tạo?" Darwin đã chỉ ra thế giới này xuất hiện như thế nào. Học thuyết của Darwin không chỉ tranh luận mà còn hạ bệ lời nói "không thể sai lầm" của Thượng Đế trong Thánh Kinh. Như vậy, nền tảng của Thiên Chúa giáo và những tôn giáo hữu thần khác bị xói mòn và bị sụp đổ khi công trình nghiên cứu thuyết Tiến Hóa này được công bố.

Thánh Kinh dạy rằng con người là một sinh vật đặc biệt, nó tách biệt khỏi thế giới động vật. Nhiều nhà thần học cho rằng con người có một linh hồn mà động vật không có. Bertrand Russell đã nêu lên nghi vấn "Trong suốt quá trình tiến hóa lâu dài, từ một cơ thể đơn bào cho đến con người, linh hồn đã xuất hiện ở giai đoạn nào?" Không có câu trả lời nào cho vấn đề này, và điều này cho thấy rằng quan điểm về linh hồn chỉ là một ảo tưởng. Sinh vật học bảo rằng trong cơ thể con người có 182 cơ quan dấu tích của loài thú còn sót lại, chúng không còn hoạt dụng nữa, nhưng chúng là vết tích của nhưng giai đoạn tiến hóa trong quá khứ. Không tính tới các cơ quan bên trong, các cơ quan như đuôi ở phần cuối bộ xương, và lông trên cơ thể cũng cho thấy chúng ta có mối quan hệ họ hàng với loài vượn không đuôi.

Không những con người mà các sinh vật thấp hơn thế giới động vật đều có các cơ quan còn sót lại, nhưng những cơ quan này không còn hoạt dụng nữa. Điều này chứng minh rằng các loài động vật được phát triển từ các loài động vật bậc thấp. Ngành Phôi học cho biết phôi của con người và động vật lặp đi lặp lại nhiều giai đoạn tiến hóa khác nhau trong suốt quá trình thai nghén. Do vậy, chúng ta biết được con người là một sinh vật có liên quan với những động vật linh trưởng (con tinh tinh) và không phải là một sinh vật đặc biệt có linh hồn bất tử gì cả. Các công trình nghiên cứu hiện đại đã phát hiện những động vật linh trưởng như vượn có sức hiểu biết như đứa bé tuổi lên ba. Sự khác nhau giữa con người và những loại khỉ không đuôi cấp cao đâu có liên quan gì đến linh hồn. Chúng chỉ khác nhau ở chỗ con người có bộ não phát triển hơn, có khả năng hiểu biết nhiều hơn. Đây là sự thật xác chứng lời đức Phật dạy "Sabbe dhammà anattà" (mọi pháp đều không có thực thể).

"Thuyết Tiến Hóa đối lập với giáo điều của Thánh kinh về bốn điểm. Thứ nhất nó xác định lại quan điểm của các nhà địa chất về tuổi của trái đất. Nhiều nhà thần học Ky-tô-giáo đã ước tính tuổi của trái đất là 6000 năm bằng cách tính các thế hệ từ thời ông Adam đến Chúa Jesus như được trình bày trong Phúc Âm. Chúng ta thấy điều này không tương ứng với những khám phá của khoa học, và do đó, hiện nay các tín hữu Thiên Chúa giáo đã từ bỏ quan điểm này. Thứ hai, học thuyết Darwin cho chúng ta biết con người tiến hóa từ động vật chứ không phải là từ hạt bụi do Thượng Đế thổi ra. Thứ ba, học thuyết Tiến Hóa loại bỏ quan niệm phụ nữ được hình thành từ một cái xương sườn của người nam. Và thứ tư, học thuyết tuyên bố cây cỏ, động vật phát triển cùng một lúc và sự tiến hóa này bắt đầu vào khoảng thời gian nào đó sau khi hệ mặt trời hình thành. Theo phần "Sáng Thế Ký" của Kinh Cựu Ước, Thượng Đế đã tạo ra cỏ, hạt giống, và cây trái vào ngày thứ ba; mặt trời, mặt trăng và các vì sao được tạo ra vào ngày thứ tư; những loại cá như cá voi và các sinh vật dưới nước khác cũng như các loài chim chóc được tạo vào ngày thứ năm; thú vật trên đất liền vào ngày thứ sáu." Do đó,  một khi lời dạy trong Thánh kinh bị bác bỏ và hạ bệ, chủ nghĩa Darwin đã làm cho các tôn giáo hữu thần ở phương Tây bị mất ảnh hưởng.

Chúng ta không thể nói rằng quá trình tiến hóa được đề cập trong Kinh Khởi Thế Nhân Bổn hoàn toàn trùng khớp với học thuyết Darwin. Bài Kinh không minh họa các sinh vật tự thích nghi với môi trường sống để tồn tại như thế nào, các sinh vật đã phát triển các khả năng để sinh tồn, cũng như những sinh vật khác lại bị hủy diệt  ra sao như  khám phá của Darwin. Tuy nhiên, có những điểm tương đồng nổi bật. Những dạng thức của sự sống đầu tiên được trình bày trong kinh là vô tính. Chúng sống như dạng rong rêu trên lớp váng ở đại dương. Sau một thời gian dài, chúng phát triển thành hình thù và có màu sắc khác nhau. Khi lớp váng có mùi thơm biến mất, một loại nấm phát sinh và sinh vật phát triển những giới tính khác biệt. Tất cả chi tiết này tương hợp với học thuyết Darwin, nghĩa là vạn vật tiến hóa và phát triển trong một thời gian dài, sinh vật mới liên tục phát sinh và phát triển, sinh vật vô tính có mặt trước khi các loại sinh vật có giới tính xuất hiện. Lại nữa, sự phát triển của thực vật trong các lớp váng nối tiếp,  đó là nấm,  dây leo, và lúa; đó là quá trình tiến hóa của thực vật.

Có một vài điểm bất đồng, do đó chúng ta có thể kết luận rằng Kinh Khởi Thế Nhân Bổn  chứa đựng một nội dung khá lý thú, đó là sự pha trộn giữa "những khái niệm khoa học và thần thoại huyền bí". Chúng ta nên nhớ rằng Kinh Khởi Thế Nhân Bổn này được biên tập vào khoảng 500 năm sau khi đức Phật nhập vô dư Niết-bàn. Những học thuyết thịnh hành lúc bấy giờ có thể len lỏi vào bài Kinh. "Hoặc chúng ta đặt giả thiết rằng đức Phật đã dạy thuyết Tiến Hóa hoàn toàn giống với công bố của Darwin. Các đệ tử của đức Phật là những bậc hiểu biết trong các vấn đề liên quan đến tâm linh và đạo đức, và có lẽ không biết về khoa học như chúng ta ngày nay. Cho nên, chúng ta nên nghĩ rằng Kinh Khởi Thế Nhân Bổn đức Phật  mô tả thuyết Tiến Hóa không phải từ quan điểm khoa học, mà nhấn mạnh đến phương diện tiến hoá về đạo đức và tâm lý. Và ngược lại, nhiều vấn đề lớn có liên quan đến học thuyết Tiến Hóa ngày nay dường như không có gì quan trọng đối với người biên tập kinh điển thời  kỳ đầu, và do đó chúng được biên tập như thế hoặc vô tình bị thay đổi."[2]

Do đó, chúng ta thấy rằng tự thâm tâm của Phật tử không có gì ngần ngại khi chấp nhận học thuyết Tiến Hóa của Darwin. Người Phật tử đã tìm ra những nguyên tắc cơ bản của đạo mình.  Người Phật tử rất sung sướng khi thấy sự tiến bộ của khoa học càng lúc càng tiến đến những sự thật  được ủng hộ và thiết lập nhờ các bằng chứng của các lãnh vực mới của tri thức nhân loại mà đã được đức Phật tuyên thuyết.



[1] Kinh này nằm trong Trường Bộ, số 27. Bài Kinh này có nội dung tương đương với Kinh Tiểu Duyên, số 5 trong Trường A-hàm (ghi chú của người dịch). 
[2] Trích từ Buddhism, Science, and Antheism by Douglas M. Burns M. D.