07 January 2012

Đọc Như Két - Nghe Như Kẹt


Đọc Như Két - Nghe Như Kẹt

Đinh Tấn Lực


Thông điệp đầu năm 2012 của TT Nguyễn Tấn Dũng rõ là có gây một số hiệu ứng nhất định.

Kẻ hồ hởi cho rằng đây là phút cựa quậy lột xác của TT, sau đận vặn mình lột áo về lời tuyên bố biển đảo trước Quốc Hội sáng ngày 25-11-2011 vừa qua.

Người hồ nghi thì dù chẳng tin bánh đúc có xương, nhưng cũng rán gửi gắm niềm hy vọng to bằng hạt cải là biết đâu tay TT (vốn ghét giả dối) lần này nói thật.

Đứa hồ đồ thì vội vội vàng vàng cắt dán ngay vào email chuyển tiếp cùng khắp, không kịp vỗ tay, cứ như người đánh số đề nằm chiêm bao thấy cứt.

Còn tay hồ thỉ tang bồng (từng sưu lục một tủ hồ sơ toàn tập về căn bệnh bất lực mãn tính có tên là Nhà Nước) lại nhếch môi cười nhạt rồi phán câu ngắn gọn: Đọc như két (mà) Nghe như kẹt.

Bảo rằng "đọc", là vì hắn khó lòng mường tượng ra được tay TT này có khả năng viết nổi một bản văn rộn ràng/rổn rảng cỡ đó, rồi cũng không chắc là hiểu đứa nào chấp bút cho đó nó nói gì, và chỉ gật đầu ký duyệt.

Còn vì sao bảo "kẹt"? Đừng vội vu khống là hắn đang văng tục bằng thổ âm địa phương. Ý hắn là tay TT này kẹt thiệt, tợ như một chiến sĩ tuyến đầu run tay kéo cơ bẩm mà đạn đếch chịu lên nòng ấy.

Cũng chẳng phải hắn nhận định bâng quơ bằng giọng điệu văn kiện hội nghị như TT. Có cơ sở đậm đà màu sắc dân dã cả đấy.

Trong toàn bài 4.451 từ của TT, độc nhất chỉ có 1 từ "nông dân" là nói về dân, trong đoạn văn mơ mộng/mượt mà và rất đỗi nên thơ là "gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống nông dân". Còn tuyệt đại bộ phận nhân dân, là đối tượng nhận thông điệp và đồng thời là chủ thể của nền kinh tế, thì hoàn toàn không có một vị trí/vai trò nào trong bản văn nói trên.

Ngược lại, nó chất chứa 32 từ "PHẢI", nghĩa là dẫy đầy 32 thứ "kẹt" cần giải quyết cấp bách, mà không ai thấy đâu cách giải quyết, chưa nói tới cách giải quyết khả thi, trong khung cảnh chính trị độc đảng bất lực và trong tình hình khủng hoảng kinh tế toàn diện hiện nay.

*

Ứng vào tình hình thời sự, nghe chừng cái thông điệp đầu năm này khen khét mùi Russian Rambo  tẩm Vodka của Thủ tướng Vladimir Putin bên Nga.

Từ đầu thế kỷ, Putin đã từng hứa hẹn với dân Nga 3 điều:

Ổn định xã hội;
Tăng trưởng kinh tế;
Vẹn toàn lãnh thổ.

Sau 8 năm làm tổng thống và gần 4 năm làm thủ tướng (để hội đủ điều kiện tranh chức tổng thống nhiệm kỳ tới), Putin không ngờ là dân Nga đã nhận chân ra 3 điểm:

Putin ổn định xã hội bằng kỹ năng KGB và một guồng máy thư lại sống bằng tham nhũng;
Putin tăng trưởng kinh tế chủ yếu bằng bán tháo tài nguyên sẵn có và trên đà cạn kiệt của Nga;
Putin bị Tây phương phong cho tước hiệu là "tay đồ tể của Chechnya" (Vladimir Putin is the butcher of Chechnya).

Đó là lý do mà dân Nga, nhân cớ gian lận bầu cử quốc hội (Duma) vừa qua, đã xuống đường phản đối/la hét/ngắt lời/mắng nhiếc Putin. Đến mức Putin phải cử người thay mặt cho những lần xuất hiện mới đây. Và ngay cả những tay đại diện đó cũng bị dân Nga mắng nhiếc thậm tệ không kém. Rõ là dân Nga muốn chấm dứt triều đại Putin. Rõ là "Đã đủ rồi!". Bởi, ngay cả giới doanh nhân, và đặc biệt, giáo hội Cơ Đốc Chính Thống cũng chính thức lên tiếng, là lần đầu tiên trong lịch sử một thế kỷ cận đại của Nga.

Đài truyền hình nhà nước cắt ráp đoạn la ó ngắt lời Putin bằng tiếng vỗ tay. Tuy nhiên giới blogger Nga đã chiếu clip nguyên thủy lên mạng Youtube và đạt con số hơn nửa triệu lượt người xem trong vòng 24 tiếng. Blogger Alexei Navalny cho rằng đó là "điểm kết thúc một thời đại".

Cũng không phải vô cớ mà người ta bảo hương hoa lài tỏa đi 2 ngả, về phía Á Đông, và về phía Nga.

Quay nhìn lại xứ mình, cả 3 điểm nói trên đều có phần tương thích.


Ổn định xã hội ư? Cứ đọc từng giuộc tin "nóng" hằng hà mỗi ngày trên dàn báo chính quy, hay nghe cụm từ "vãi luyện" đã thành tiếng lóng thời thượng, tất rõ. Nhà nước này đang đặt cược sinh tử vào hệ thống sai nha (chính quy lẫn giả dạng xã hội đen) cùng một băng đảng thư lại (còn đảng còn tiền) để vét cú chót trong những ngày mạt vận của một nhà nước xưng xưng là pháp quyền mà phải sử dụng các biện pháp lén lút  bắt cóc, triệu tập thường xuyên, vu khống bằng truyền hình thủ đô, trả thù cá nhân, tùy tiện áp án rồi tự ý chồng án lên án vừa mãn, buộc dân làm giấy cam kết, vu nạn nhân tự tử, đe nẹt giới cầm bút dưới nick Tom Cat, bắt giam ký giả chống tham nhũng…

Nhà nước này sợ hãi ngọn đuốc sống Mohamed Bouazizi và hương hoa lài đến mức bưng bít/úp chụp dư luận về những vụ tự thiêu ở Đà Nẵng gần đây và ở Hà Nội mới đây, bằng những lý cớ vu vơ rất mực trẻ con, dù biết rằng chẳng ai tin nạn nhân chỉ vì thiếu nợ mà chọn lấy cách chết đau đớn tột cùng trước công chúng để gióng lời phẫn uất như thế.


Tăng trưởng kinh tế ư? "Sau hơn 20 năm thực hiện  đường lối đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"… mà cả nước vẫn chưa chế tạo được 100% chiếc xe đạp. Nợ công đã vượt ngưỡng phân nửa tổng sản lượng nội địa. Lạm phát lên quá 23%. Giá sinh hoạt tăng vọt như hỏa tiễn Bắc Triều Tiên…

Từ thời Nguyễn Tấn Dũng nhậm chức, toàn bộ các tập đoàn kinh tế/tổng công ty đồng loạt biến thành sân sau của phủ thủ tướng, trong đó, "quả đấm thép" Vinashin vỡ nợ và bị kiện ở nước ngoài, theo sau nó là một dãy các đại công ty than, điện, xăng dầu, điện thoại v.v… Và đó là cốt lõi của lời trần tình trong thông điệp đầu năm: "Thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa đồng bộ, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ. Thị trường đất đai còn nhiều vướng mắc. Thị trường tài chính phát triển không cân đối, thị trường trái phiếu còn sơ khai, thị trường chứng khoán thiếu chiều sâu, chưa trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế, đang dồn gánh nặng lên thị trường tín dụng, làm cho thị trường này rất dễ bị tổn thương. Thị trường khoa học công nghệ chậm phát triển. Thị trường lao động tuy đã khá hoàn chỉnh nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp cùng với sự bất hợp lý về tiền lương giữa các khu vực đang là rào cản lớn cho việc chuyển dịch lao động đến những lĩnh vực thiết yếu trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Giá cả một số hàng hóa và dịch vụ chưa bù đắp được chi phí, chưa theo cơ chế thị trường, làm cản trở việc thu hút nguồn lực và công nghệ cao cho phát triển".


Vẹn toàn lãnh thổ ư? Riêng điểm thứ ba này thì Nguyễn Tấn Dũng còn phải học từ Putin rất nhiều. Cho dù mang tiếng đồ tể, nhưng ít ra, Putin không quỳ lạy trong ống tay áo của một ai. Nghĩa là không chỉ đặc dụng bàn tay sắt với mỗi dân Nga. Và không chỉ nói suông cho qua truông, trong lúc dồn sức dập nát lòng yêu nước của dân mình.

Ngoài ba điểm vừa kể thì, không tính kỹ năng mị dân và gian xảo, cả hai thủ tướng còn thêm một điểm tương thích thứ tư: Tự đánh bóng.

Putin mông má mặt mũi đột nhiên trơn tru, căng phồng như xóm tài tử Hollywood, hóa ra chàng cũng thích chích thẳng botox vào mặt. Chàng còn làm nhiều phim tư liệu quay cảnh ở trần cưỡi ngựa, mặc áo da đi môtô khủng… và thuê nhiều ban nhạc rock "tự phát" viết các bản như "Em yêu Putin". (30 năm trước thì chắc tựa đề đã là "Ai yêu bác Putin hơn các em nhi đồng" ?).

Trong lúc đó, TT Nguyễn Tấn Dũng của ta được tới những  2 công ty xử lý rác viết báo ca tụng, một ở Đức và một ở Hàn. Chuyện thật mà nghe cứ như điển tích thời đại… bới rác ra thủ tướng. Rồi sau ngày Steve Job của hãng Apple qua đời, TT nước ta lại đột nhiên chỉ mặc kiểu áo cổ rùa. Quả là khoảng trống vĩ nhân cần được gấp rút lấp đầy. Có kẻ thân cận với TT còn cho biết cặn kẽ lý do: "Steve sản xuất được mấy thế hệ 'iMac' rồi chết. Trong khi TT từng đối phó trước biết bao chiến dịch 'ai mách?', với đủ loại tố cáo tham nhũng và bất tài, mà vẫn vững vàng nắm ghế thủ tướng và bắn một thông điệp rần rật những 32 cái PHẢI".  Ai hơn ai?

*

Kết luận 1: Xem ra, 32 cái "PHẢI" của thông điệp này còn thiếu cái "PHẢI" thứ 33 mà cả nước Việt Nam đang mong mỏi, đó là PHẢI có đủ tự trọng để bước xuống khi biết mình vô năng.


Kết luận 2: Entry này không phân tích sâu vào nội dung văn kiện "thông điệp", vì một lý do duy nhất: Tác giả để dành đó cho một lời thách thức công khai:

Blogger Đinh Tấn Lực thách thức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đối chất về cách giải quyết khả thi 32 cái "PHẢI" trong bản "thông điệp", trên bất cứ diễn đàn công luận nào, kể cả các hệ thống Paltalk tiếng Việt hoặc các đài truyền hình Việt ngữ, bất luận ở đâu, vào bất kỳ ngày giờ nào mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chọn lựa, trong mùa Tết Nhâm Thìn đang thập thò chạm ngõ.


Hãy thử làm người (tử tế) một phen xem sao, Dũng này!


06-01-2012




Chú thích: Các dòng chữ in nghiêng trong nháy được trích nguyên văn (cả lỗi chính tả) từ văn kiện thông điệp để đời của TT Nguyễn Tấn Dũng.

Trung Quốc sử dụng chuyện làm ăn với Mỹ để thu thập thông tin tình báo như thế nào?



Trung Quốc sử dụng chuyện làm ăn với Mỹ để thu thập thông tin tình báo như thế nào?

Gabrielle Pickard
Minh Khôi chuyển ngữ

Ông Peter Grie nói: "Các hoạt động tình báo [sử dụng] người của Trung Quốc chủ yếu dựa vào việc thu thập thông tin lẻ tẻ từ rất nhiều người. Đây là cách làm gián điệp kiểu Trung Quốc" .

Mặc dù Trung Quốc bị nghi ngờ đã có một lịch sử lâu dài về hoạt động gián điệp ở Hoa Kỳ để thu thập kiến thức và sự hiểu biết về các bí mật công nghiệp và quân sự, những năm gần đây, người ta tin rằng chính phủ Trung Quốc đang tiến hành các hoạt động gián điệp ở các nước khác ngày càng trở nên phổ biến.

Theo báo cáo thường niên năm 2009 của Ủy ban Đánh giá Tình hình Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung, gửi tới Quốc hội Mỹ, hoạt động gián điệp và các cuộc tấn công mạng của Trung Quốc chống lại các tổ chức kinh doanh và chính phủ Mỹ hiện là một mối quan ngại lớn.

Bà Larry Wortzel, phó Chủ tịch Ủy ban nói rằng: "Ngoài việc làm tổn hại đến lợi ích của Mỹ, các hoạt động gián điệp trên mạng cũng như [sử dụng] con người, giúp Trung Quốc có những đột phá trong phát triển kinh tế, công nghệ và quân sự".

Hoạt động tình báo của Trung Quốc

Năm 2006, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã công bố một tài liệu không phân loại trên trang web, có tựa đề "Báo cáo gửi quốc hội về các hoạt động gián điệp của Trung Quốc chống lại Hoa Kỳ".

Tài liệu đề cập đến việc Trung Quốc sử dụng các tổ chức thương mại cho các hoạt động tình báo, nhấn mạnh rằng, trong 20 năm qua, Trung Quốc đã "thiết lập một năng lực tình báo đáng chú ý tại Mỹ, thông qua sự hiện diện thương mại".

Tài liệu còn cho biết, mặc dù đa số các tổ chức thương mại Trung Quốc tại Mỹ là hợp pháp, vẫn có một số tổ chức là bình phong cho các hoạt động thu thập tình báo, và rằng những tổ chức thương mại này đóng một "vai trò đáng kể" trong việc tìm kiếm bí mật về công nghệ thương mại và công nghệ độc quyền của Mỹ cho Trung Quốc.

Báo cáo của CIA nói rằng: "Mặc dù một tổ chức thương mại có thể không tham gia trực tiếp trong việc thu thập các thông tin/ công nghệ, nhưng có thể nó cung cấp thông tin cho những người thu thập, cả chuyên nghiệp lẫn không chuyên. Những người thu thập thông tin chuyên nghiệp thường liên kết với một trong những đơn vị tình báo của Trung Quốc, trong khi những người không chuyên thường thu thập cho chính họ. Những người thu thập thông tin này vào nước Mỹ để thu thập các thông tin nhạy cảm và/ hoặc các thông tin bị hạn chế về bí mật [các sản phẩm, dịch vụ] độc quyền/ thương mại, họ đóng vai trò như một người liên lạc với những người làm tình báo ở Trung Quốc".

Nói cách khác, bản báo cáo là lời cảnh báo tới các doanh nghiệp Mỹ, rằng, ngay cả một công ty Trung Quốc đang làm ăn chính đáng, vẫn có thể có những người thu thập thông tin tình báo được thuê làm việc bên trong công ty đó. Nhưng những ai đang thực sự làm việc cho chính phủ Trung Quốc, với mục đích để có sự trao đổi bí mật công nghệ Hoa Kỳ?

Các công ty Trung Quốc đe dọa bí mật độc quyền thương mại

Công nghệ đó không nhất thiết chỉ là các bí mật quân sự, mà còn là những bí mật độc quyền thương mại mà chính phủ Trung Quốc có thể tận dụng để thiết lập một công ty mới, có thể sản xuất ra các sản phẩm y hệt, với chi phí thấp hơn nhiều, và như vậy sẽ có giá rẻ hơn nhiều, đẩy các công ty Mỹ ra khỏi thị trường.

Tài liệu này còn cảnh báo rằng, Hoa Kỳ chủ yếu nhắm vào việc theo đuổi của Trung Quốc để có được các thông tin nhạy cảm và các thông tin bị hạn chế về bí mật thương mại trong chính phủ Mỹ, các tập đoàn tư nhân Mỹ, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, và những người có liên quan đến công việc nhạy cảm và những việc hạn chế.

Với sự hiểu biết rộng rãi, cũng như những nghi vấn về các hoạt động tình báo đó của Trung Quốc ở Mỹ, tại sao FBI không ngăn chặn, để không xảy ra những hoạt động như thế?

Như ông Peter Grier đã nói: "Các hoạt động tình báo sử dụng con người của Trung Quốc chủ yếu dựa vào việc thu thập thông tin lẻ tẻ từ rất nhiều người".

Do chiến thuật gián điệp của Trung Quốc như thế thường khá dè dặt, như tài liệu của CIA đã đề cập là "mang tính đơn lẻ", nên rất khó cho FBI để điều tra sự việc, hoặc sử dụng các công cụ phản gián.

Năm 1996, Đạo luật Do thám Kinh tế đưa các hành vi tham ô hoặc trộm cắp các bí mật thương mại trở thành tội ác liên bang. Mặc dù đặc tính "dè dặt" của việc Trung Quốc có thể lợi dụng chuyện làm ăn với Mỹ để thu thập thông tin tình báo như thế nào, nhưng vẫn có nhiều vụ bắt giữ theo đạo luật năm 1996.

Bắt giữ theo đạo luật gián điệp kinh tế

Năm 2010, ông Chung Đông Phàm (Dongfan Chung), cựu kỹ sư Boeing gốc Hoa, đã bị bắt và đã bị Tòa án Liên bang Hoa Kỳ, khu miền Trung California, do đánh cắp bí mật thương mại của Boeing, liên quan đến tên lửa Delta IV và chương trình tàu con thoi trong không gian của Mỹ. Ông Chung đã bị tuyên án 16 năm tù và ông là người đầu tiên bị kết án dựa theo Đạo luật Do thám Kinh tế năm 1996.

Những thiệt hại về thông tin bị đánh cắp như thế, có khả năng nhắm vào nước Mỹ thì gia tăng. Do đó, việc mở đầu cho đạo luật như thế và thời gian mà ông Chung bị kết án, đánh dấu mức độ nghiêm trọng của loại tội phạm này.

Năm 2002, một báo cáo của hãng Cox lưu ý rằng, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang sử dụng các công ty quốc doanh để mua các thiết bị công nghệ cao của Mỹ với mục đích [phát triển] công nghệ.

Theo báo cáo của Cox, Trung Quốc đã đánh cắp thông tin thiết kế liên quan đến bảy loại vũ khí nhiệt tâm tối tân nhất của Mỹ. Báo cáo nói rằng những bí mật đã bị đánh cắp này cho phép Trung Quốc "… đẩy nhanh tiến độ thiết kế, phát triển và thử nghiệm vũ khí hạt nhân của họ".

Có được kiến thức về những thông tin tuyệt mật như vậy, thế hệ kế tiếp về vũ khí hạt nhân của Trung Quốc có thể so sánh được với sự hữu hiệu của vũ khí nguyên tử Mỹ.

Mặc dù trái ngược với báo cáo của CIA cho rằng, các phương pháp gián điệp trong kinh doanh của Trung Quốc là "dè dặt và đơn lẻ về bản chất", nhưng những vụ trộm cắp thông tin tuyệt mật do Cox báo cáo cho thấy: "… không phải những vụ việc biệt lập, mà là kết quả của nhiều thập niên hoạt động tình báo do Bộ An Ninh quốc gia tiến hành, chống lại các phòng thí nghiệm vũ khí của Mỹ".

Là quốc gia dẫn đầu trong việc phát triển công nghệ mới, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là mục tiêu của Trung Quốc và Nga, sử dụng nhiều phương pháp gián điệp khác nhau, nhất là chiến thuật gián điệp mạng làm phương tiện đánh cắp thông tin công nghệ và thương mại đã được phân loại.

Do vậy, các công ty Mỹ cần nhận biết những thủ đoạn đó, không chỉ để bảo vệ mạng lưới và cơ sở hạ tầng, mà còn để bảo vệ công việc làm ăn với những tập đoàn công ty và các doanh nghiệp có vẻ "hợp pháp" từ Trung Quốc.

Những công ty này luôn là mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với an ninh kinh tế và thương mại của Mỹ.


Gabrielle Pickard

Tác giả: Bà Gabrielle Pickard là một nhà báo tự do, viết các bài mà báo chính thống bỏ quên không viết. Bà cố gắng mang đến cho độc giả những tin tức mà họ không bao giờ để ý là có những tin tức đó. Bà Gabrielle Pickard có 71 bài viết đăng tải trên Top Secret Writers.

2012: Bàn cờ chính trị thế giới mới


2012: Bàn cờ chính trị thế giới mới

Nguyễn Hưng Quốc

Năm 2012 này sẽ đánh dấu nhiều sự thay đổi quan trọng trên thế giới, trong đó, quan trọng nhất là sự thay đổi của bàn cờ chính trị toàn cầu.

Trước, từ đầu thế kỷ 20, và đặc biệt, từ 1945, suốt thời chiến tranh lạnh (1945-1990), trung tâm của bàn cờ chính trị thế giới là châu Âu. Lúc ấy, mâu thuẫn chính trị chính của thế giới là mâu thuẫn giữa khối tư bản chủ nghĩa, đứng đầu là Mỹ, và khối xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô. Tuy có lúc, điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh ấy là Việt Nam, nhưng sân khấu chính trị vẫn thuộc về Mỹ và Âu châu. Giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh lạnh, qua Kế hoạch Marshall, chính phủ Mỹ đã đổ ra 18 tỉ đô-la để giúp 16 quốc gia Âu châu phát triển cơ sở kinh tế, xã hội và kỹ thuật để có thể đương đầu với Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa. Từ đó, quan hệ với châu Âu trở thành cột xương sống trong mọi chính sách đối ngoại của Mỹ. Tất cả những đồng minh chiến lược quan trọng nhất của họ đều ở châu Âu. Lực lượng quân sự quan trọng nhất của họ nằm ở châu Âu. Kho vũ khí nguyên tử lớn nhất ở ngoài Mỹ cũng nằm ở châu Âu. Người ta đo lường thời tiết chính trị thế giới qua từng cơn ho và từng cơn sổ mũi ở châu Âu. Chứ không phải ở Việt Nam, nơi có lúc có đến nửa triệu quân lính Mỹ và đồng minh tham chiến.

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, khối xã hội chủ nghĩa sụp đổ, thế giới lại đối diện với một nguy cơ mới: nguy cơ khủng bố toàn cầu, chủ yếu xuất phát từ các lực lượng Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông. Thế là Trung Đông biến thành trung tâm của bàn cờ chính trị thế giới. Mỹ đổ quân vào đánh Afghanistan và Iraq, mở đầu cho hai cuộc chiến tranh dài đằng đẵng kể từ sau chiến tranh Việt Nam. Quan hệ giữa Israel và một số quốc gia láng giềng có lúc sôi lên sùng sục. Súng ống đạn dược được đổ vào Trung Đông. Tiền bạc cũng đổ vào Trung Đông. Mọi con mắt đều tập trung vào Trung Đông. Mỹ không còn khả năng để giải quyết bất cứ một mâu thuẫn nào khác ngoài hai cuộc chiến họ đang tiến hành.

Cuối cùng, năm 2011, chiến tranh ở Iraq kết thúc. Chưa ai biết sau này số phận của Iraq sẽ ra sao, nhưng, về phía Mỹ, ít nhất cuộc chiến tranh kéo suốt tám năm của họ đã khép lại. Saddam Hussein bị bắt và bị treo cổ. Iraq có chính phủ mới và có vẻ như có thể tự đứng vững được. Trong khi đó, chiến tranh ở Afghanistan vẫn tiếp tục. Nhưng Mỹ cũng đang cố gắng giảm dần các gánh nặng của họ. Đó là chưa kể sau cái chết của Osama bin Laden (ngày 2 tháng 5 năm 2011), Mỹ có thể có lý do để rút dần ra khỏi một cuộc chiến mà càng ngày chiến thắng càng trở nên mù mịt.

Thoát ra khỏi hai cuộc chiến tranh ở Trung Đông, Mỹ bắt đầu trở về thực tế với những mâu thuẫn mới nảy sinh từ sự xuất hiện của một siêu cường mới: Trung Quốc. Liên tục trong nhiều tháng cuối năm 2011, giới lãnh đạo Mỹ, từ Tổng thống đến Bộ trưởng Ngoại giao đều tuyên bố: Mỹ sẽ trở lại châu Á. Và sẽ ở lại châu Á.

Châu Á, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới thời hiện đại, trở thành trung tâm của bàn cờ chính trị. Thế cờ này đã manh nha từ cuối 2011 và chắc chắn sẽ là hiện thực vào năm 2012.

Đó là điều không thể tránh được. Trước hết là về phương diện kinh tế. Trong khi kinh tế Mỹ vẫn ngổn ngang đầy những khó khăn, kinh tế châu Âu ngập chìm trong khủng hoảng không biết lúc nào mới thoát, kinh tế của phần lớn các nước Á châu vẫn tiếp tục phát triển, trung bình hơn 5% trong suốt ba mươi năm qua. Dự đoán của Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) vào tháng 9 năm 2011 cho biết đà phát triển ở Á châu, không kể Nhật Bản, trong năm nay sẽ vào khoảng 7.5%. Theo cái đà này, vào năm 2050, tức chưa tới 40 năm nữa, tổng sản phẩm nội địa (GDP) ở châu Á sẽ tăng từ 30 ngàn tỉ đô-la hiện nay lên đến khoảng 230 ngàn tỉ đô-la ($234 trillion), chiếm hơn một nửa tổng thu nhập nội địa trên toàn thế giới.

Gắn liền với kinh tế là con người. Cũng theo dự đoán, năm 2050 trên thế giới sẽ có khoảng 8 tỉ người, trong đó có 5 tỉ sống ở châu Á.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều học giả gọi thế kỷ 21 là "thế kỷ Á châu". Cách đây hơn 10 năm, vào buổi rạng đông của thế kỷ 21, nói thế, nhiều người còn thấy nghi hoặc. Bây giờ thì chuyện đã thành hiển nhiên. Không thể nào khác được.

Ở châu Á, phát triển với tốc độ nhanh nhất là Trung Quốc. Không những nhanh mà còn khá liên tục. Các cuộc khủng hoảng kinh tế, từ kinh tế Á châu đến kinh tế toàn cầu hầu như không ảnh hưởng gì mấy đến sự phát triển của Trung Quốc. Nhiều người đã nói đến những nguy cơ rình rập bên trong nền kinh tế Trung Quốc, từ việc xây dựng, nhất là nhà cửa quá nhiều và quá nhanh, đến việc duy trì trị giá đồng nguyên quá thấp, khoảng cách chênh lệch càng lúc càng lớn giữa người giàu và người nghèo cũng như giữa thành thị và nông thôn, nạn tham nhũng cũng như bộ máy hành chính quan liêu, v.v… sẽ dẫn Trung Quốc đến khủng hoảng. Tuy nhiên, đó chỉ là những sự tiên đoán. Lịch sử không phải lúc nào cũng đi đúng quy luật.

Nếu đà phát triển này cứ tiếp tục thì không bao lâu nữa kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Cách đây vài ba chục năm, một số người cũng đã tiên đoán kinh tế Nhật sẽ qua mặt Mỹ. Cuối cùng, điều đó không thành sự thật. Tuy nhiên, điều tôi muốn nhấn mạnh là: ở thời điểm ấy, không mấy người xem sự phát triển của Nhật là một đe dọa lớn. Lý do: Nhật, dù sao cũng là một đồng minh thân cận của Mỹ và Tây phương. Kể từ sau đệ nhị thế chiến, Nhật hầu như từ bỏ hẳn mọi tham vọng chính trị trên sân khấu thế giới. Không có quốc gia nào, kể cả những nước vốn là nạn nhân của Nhật trong thập niên 1940, lo ngại về sự bành trướng của Nhật.

Bây giờ, với Trung Quốc thì khác.

Khác về ý thức hệ. Khác về thể chế chính trị. Và đặc biệt, khác về tham vọng. Trước, Nhật Bản chỉ muốn cạnh tranh với Mỹ về kinh tế; còn về quân sự và chính trị thì vẫn tiếp tục nằm trong quỹ đạo của Mỹ. Bây giờ Trung Quốc không hề giấu giếm tham vọng cạnh tranh với Mỹ về mọi phương diện. Mà không những với Mỹ. Với các nước láng giềng ở châu Á, Trung Quốc cũng sẵn sàng giơ nanh vuốt ra đe dọa. Trong cuộc hội nghị của East Asian Cooperation ở Bali cách đây mấy tháng, 15 trong tổng số 18 nước hội viên thẳng thắn tuyên bố là họ lo lắng trước cách hành xử của Trung Quốc ở Nam Hải.

Các nước Đông Á lo lắng. Mỹ cũng không thể không lo lắng.

Phản ứng trước sự lo lắng ấy là một thế trận mới bắt đầu được manh nha từ năm 2011 và sẽ triển khai dần dần trong năm 2012 này với sự hình thành của các khối liên minh mới.

Thứ nhất là liên minh giữa Mỹ, Úc và Ấn Độ với việc chính phủ Úc đồng ý cho lính Mỹ đến tập trận và đồn trú trên lãnh thổ Úc cùng lúc với việc bãi bỏ lên cấm xuất cảng uranium sang Ấn Độ vốn có hiệu lực từ lúc Ấn Độ, bất chấp lệnh cấm của Liên Hiệp Quốc, bắt đầu phát triển vũ khí hạt nhân.

Thứ hai là liên minh quân sự giữa Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản. Trước, quan hệ giữa Nhật và Ấn Độ khá lạnh lẽo. Bây giờ, hai nước đã bắt đầu bàn đến việc hợp tác về an ninh trên biển, hơn nữa, còn dự định tập trận chung lần đầu tiên vào năm 2012. Ngoài ra, hai nước cũng sẽ tổ chức các cuộc Đối thoại Chính sách Quốc phòng (Japan-India Defense Policy Dialogue) trong năm nay.

Tất cả những liên minh chiến lược mới ấy đều nhắm vào một mục tiêu chính: Trung Quốc.

Với tư cách là người Việt Nam, điều đáng cho chúng ta lo nghĩ nhất là điểm này: Khi châu Á biến thành trung tâm của bàn cờ chính trị mới, không chừng một lúc nào đó, Việt Nam sẽ trở thành một điểm nóng trên bàn cờ ấy. Nơi bùng nổ của các mâu thuẫn chết người trên thế giới.

Như những gì đã xảy ra trong thời chiến tranh lạnh.

Nguyễn Hưng Quốc

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/ban-co-chinh-tri-moi-01-04-2012-136678723.html
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

06 January 2012

VN chưa có tầng lớp trí thức đúng nghĩa?!



Thư bạn đọc
VN chưa có tầng lớp trí thức đúng nghĩa?!

Trương Phước Trường


Phản hồi nhân đọc bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Chu Hảo trên BBC, mà Diễn Đàn đã giới thiệu trong mục "Thấy trên mạng" ngày 2.1.2012

"Với đúng định nghĩa về trí thức mà tôi hiểu, thì thực sự chưa hình thành ở Việt Nam từ sau năm 1954 và sau năm 1975 cho tới bây giờ"
"... Khả năng độc lập tư duy, khả năng dám bảo vệ chính kiến của mình, khả năng dự báo và tạo ra dư luận lành mạnh trong xã hội chưa có nhiều. Và tôi nghĩ đấy là điều đáng thất vọng"

Giáo sư Chu Hảo nói với Quốc Phương của BBC. chủ nhật, 1 tháng 1, 2012.

Nếu"trí thức" được định nghĩa theo các tiêu chuẩn như trên, tức là: (1) khả năng độc lập tư duy,(2) khả năng dám bảo vệ chính kiến của mình,(3) khả năng dự báo và tạo ra dư luận lành mạnh trong xã hội"thì có lẽ phải đi tìm trí thức, không phải trong các tổ chức chính trị, các giai tầng xã hội, các nền văn hoá trên cơ bản đã không có sự khuyến khích và tôn trọng sự độc lập tư duy nói trên. Đưa ra một ví dụ đơn giản: ngay cả trong cơ cấu của một trường đại học mà trên lý thuyết rất là "tự trị",nhưng nếu luôn luôn có sự giám sát, kiểm soát, quản lý, từ các tổ chức chính trị bên ngoài đại học xen vào thì khó lòng mà có sự "độc lập tư duy". Nói chi đến các tổ chức, các viện nghiên cứu không thuộc vào đại học và nằm dưới sự kiểm soát hoặc quản lý của một cơ quan của chính phủ, lại càng khó mà có sự "độc lập tư duy".Tại các quốc gia Tây Phương, đa số các tổ chức nghiên cứu dù là "độc lập" trên lý thuyết, nhưng nếu nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ thì thường thiếu sự độc lập tư duy để mà đưa ra các"dự báo"hoặc "tạo ra dư luận lành mạnh trong xã hội"vì thông thường, nếu các "dự báo" nầy không có lợi cho đường lối của chính phủ thì sẽ bị coi là "không lành mạnh"và thường sẽ bị gói nhẹm.

Đó chỉ là bàn về vấn đề độc lập tư duy mà thôi. Còn nếu muốn đề cập đến vấn đề "dám bảo vệ chính kiến của mình" thì có lẽ, ta phải "thông cảm"với người trí thức hơn một chút. Họ là những người chân yếu tay mềm, làm công việc lao động trên lãnh vực trí óc, chứ không phải là các chiến sĩ trong quân đội, cũng chẳng phải là các tay tài phiệt trong khu vực thị trường. Vậy thì họ lấy "sức mạnh vất chất" nào để mà đương đầu với các thực tế của dùi cui (nếu không kể đến súng đạn)? "sức mạnh kinh tế"nào để mà giữ vững được đời sống, tiếng nói, và suy nghĩ độc lập của mình mỗi khi phải đứng trước sự chọn lựa về miếng cơm manh áo cho gia đình và con cái của họ và khả năng "độc lập tư duy". Dĩ nhiên lúc nào cũng sẽ có những nhà trí thức can đảm và anh hùng. Nhưng có lẽ muốn tìm cho ra được những nhà anh hùng ấy, tại một quốc gia thiếu sự độc lập và tự do trung thực trên phương diện chính trị cũng như kinh tế, có lẽ người ta phải cần lặn lội, mò thật sâu dưới lòng đáy của xã hội, mới mong tìm thấy được họ, chứ không phải dễ gì mà nhìn ra, nhất là nếu chỉ nhìn lên trên nơi các địa vị "chóp bu" trong xã hội.

Trí thức của một quốc gia, có lẽ cũng như các nguồn tài nguyên khác của một xã hội, lúc nào cũng có và có lẽ mãi mãi vẫn sẽ còn, không nhiều thì ít. Tuy nhiên, cái vấn đề khó khăn và quan trọng không phải là "tìm thấy" được họ nhưng thật sự là tìm ra để rồi làm gì? Để mà phung phí nó bằng các sự quyến rũ họ với hư danh và tước quyển? Hay để vùi dập họ mỗi khi các tia sáng trong tinh thần trí thức của họ có khả năng chiếu thẳng vào các bóng đen trong xã hội? Chỉ khi nào người ta biết quý trọng tri thức, biết thưởng thức cái vẻ đẹp tinh anh của nó mặc dù có thể sẽ bị "châm chích" nhức nhối mỗi khi phải "va chạm" với các "gai" sắc bén của nó, lúc ấy người ta mới thật sự là con người "đi tìm" trí thức. Còn nếu không, khi chỉ đi tìm một cách gượng gạo và giả tạo thì càng tìm, người trí thức sẽ càng lẩn tránh. Trí thức chỉ có thể sinh sống bình thường và có cơ hội phát triển nẩy nở ở trong một môi trường cũng không kém sự bình thường nhưng chỉ cần với không khí trong lành của sự tự do cởi mở. Ngược lại, càng "ưu đãi trí thức" nhưng lại bóp chặt sự tư do suy tư của họ, càng quyến rũ họ với bao nhiêu sức mạnh của quyền lợi và địa vị, nhưng lại thắt chặt các cơ hội cho trí thức được tự do phát minh, cạnh tranh, thi đua, phấn đấu thi chỉ làm cho tinh thần trí thức của họ càng lúc càng trở nên lụn bại, èo ẹp, ỷ lại. Bề ngoài của một tầng lớp trí thức ỷ lại có thể rất xinh đẹp như các cây "kiểng" trong các toà nhà nguy nga tráng lệ, nhưng bên trong nó không bao giờ có thể có tinh thần tự lâp. Trong khi đó, bên ngoài thì không khí càng trở nên ô nhiểm thì dù cho các cây trí thức có còn sống sót cũng không còn sức để phát triển.

Phải chăng đây là các lý do khiến cho một nhà trí thức có nhận xét như GS Chu Hảo đã phải kêu lên những tiếng than "thất vọng"?

Trương Phước Trường
Đại Học Sydney, Úc Châu
Ngày 5 tháng Giêng 2012