28 August 2012
VỤ KIỆN CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM
GIEO HẠT TIẾNG CƯỜI
Người nông dân gieo hạt trên cánh đồng, ai cũng muốn những hạt giống vừa gieo sẽ nảy mầm thành một mùa bội thu trong những tháng ngày sau đó, nhưng chẳng ai biết trước được tương lai nó sẽ thế nào, nhưng dù gì thì cũng cứ phải gieo hạt đã.
Phật giáo dạy rằng: Hãy nhìn sự vật đúng bản chất của nó, để sự vật ấy tồn tại như chính nó đang tồn tại mà không bị nhuộm thêm những màu sắc khác mang tính chủ quan. Triết lý này tuy đơn giản nhưng thật khó để thực hành trong đời sống. Mỗi người đều có những thái độ và hành xử khác nhau trên cùng một sự việc. Cùng sự việc một cô hoa hậu đi thăm trại nuôi trẻ mồ côi, người nghĩ xấu bảo rằng cô mua danh, người nghĩ tốt cho rằng cô nhân ái. Cùng một hành động, với hai cách nhìn khác nhau, kết luận cũng trái ngược nhau.
Mọi người thường có thói quen nhìn nhận vấn đề theo kiểu riêng của mình và rất khó để thay đổi cách nhìn đó. Thái độ sống của từng người được hình thành theo những năm tháng họ sống. Sẽ khó lòng bảo rằng cuộc sống sẽ luôn tươi đẹp hơn đối với những người vốn hay sống bi quan và đố kỵ. Với họ, tất cả những sự việc đang diễn ra xung quanh dường như chỉ chực chờ lôi tuột họ xuống, trong khi những người sống lạc quan lại luôn thấy những khó khăn đang gặp phải như một dịp thử thách lòng can đảm, nghị lực vượt lên chính mình.
Nhìn nhận vấn đề một cách mạch lạc, không chủ quan, không suy diễn không phải là một điều khó, nhưng thường thì chả ai làm thế, vì sống ở đời thường phải có chính kiến chứ. Cũng chính vì chính kiến cá nhân kiểu ấy mà nhiều khi ta không thấy được những chiều khác của cuộc sống, những mặt khác, đôi khi tốt đẹp hơn của cùng một hành động.
Ta thử gieo hạt nhân ái vào đời, nhìn những khúc mắc trong đời sống ta đây bằng con mắt khác xem sao? Nhìn những khó khăn đang gặp kia, sâu tận trong bản chất của nó, tìm những gút thắt và dần gỡ chúng ra, xem ta sẽ học được gì từ những gút thắt ấy? Thử thay cách nhìn khó đăm đăm, đổi thái độ mà ta đang hằn học nhìn vào đời sống kia xem, ta sẽ nhận được những gì?
Khoa học chứng minh rằng, người ta sẽ hồi phục vết thương nhanh hơn, nếu ta tin tưởng rằng vết thương đang mang kia sẽ sớm lành. Mỗi sáng thức dậy, chính mình thử tặng mình một nụ cười xem, cuộc sống có vui hơn không? Chắc chắn ta sẽ được vui ít nhất là trong giây phút ấy. Không ai có đủ khả năng mang đến niềm vui cho ta bằng chính chúng ta, người ta mang đến hạnh phúc cho ta đấy, nhưng ta không thấy hạnh phúc thì điều đó có thể được gọi là hạnh phúc không?
Ta vui bởi vì ta thấy vui, ta hạnh phúc bởi đang hạnh phúc, điều đó phụ thuộc vào cảm giác bên trong của chính mình nhiều hơn là do người khác mang đến. Nếu ta nghĩ cuộc đời ta thật tươi, thì chẳng có nỗi buồn nào làm cuộc đời đang tươi kia héo hon được. Và hơn nữa khi niềm vui được nhân lên, lan toả, có ai đứng giữa đám đông mà không cười khi thấy người bên cạnh mình, người xung quanh mình đang cười vui vì sung sướng? Cái đó nhân gian gọi là "vui lây".
Như những hạt mầm kia, gieo xuống hạt tiếng cười, ta sẽ được niềm vui, ta sẽ thấy cuộc đời đáng sống bởi vì ta đang sống. Cứ gieo hạt đi, vì nếu không gieo, sẽ chẳng có gì để nảy mầm cả./.
Phạm Hoài Nam
26 August 2012
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đồng hành cùng Dân Tộc
Huỳnh Ngọc Tuấn
Tam kỳ ngày 28/06 âm lịch Nhâm thìn
24 August 2012
Tôi Đang Huân Tập
Đào Văn Bình
Bạn ơi,
Tôi đang huân tập một đức tính: Hễ có ai chửi tôi, nhục mạ, bôi lọ tôi…tôi sẽ nhẫn nhục không trả lời. Nếu buộc phải trả lời tôi sẽ dùng lời lẽ ôn hòa, không dùng lời thô tục, hung dữ …để trình bày rõ sự việc, để mọi người được biết…mà không làm tổn thương đến người đang công kích hay thù hận tôi. Đức Phật dạy rằng "Muôn loài chúng sinh đều bình đẳng". Nếu con hổ có thể gầm, con sư tử có thể rống…thì con chim cũng có thể hát ca, con suối có thể reo, thậm chí loài côn trùng nhỏ bé cũng có quyền cất lên tiếng nỉ non giữa canh khuya. Ai cũng có quyền cất lên tiếng nói mà không một ai có quyền ngăn cản miễn sao tiếng nói đó không làm tổn hại tới người khác, không làm xáo trộn sự an vui của cộng đồng.
Tôi đang huân tập một đức tính: Không coi những phim ảnh, báo chí, video bạo lực bắn giết để giảm bớt những ý nghĩ hung ác, những tư tưởng bất thiện đã từ lâu được nuôi dưỡng, ẩn chứa trong đầu óc tôi…đồng thời gieo trồng những chủng tử lành trong A-lại-da thức. Tôi hiểu rằng khi tôi phóng ra một tin tức gì…với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ truyền thông hiện đại, tin tức đó có thể được hằng triệu, hằng tỉ người đọc và tác động ngay tới đầu óc của họ. Tôi nghĩ rằng chuyện cậu sinh viên ban tiến sĩ James Holmes đem đủ các loại súng vào rạp chiếu phim ở Aurora, Colorado bắn giết người xem…như trong ci-nê…là hậu quả của phim ảnh bạo lực Mỹ trong đó có phim Batman. Chuyện Anders Behring Breivik 32 tuổi người Na Uy – nơi được thế giới coi như một quốc gia hiền hòa, thánh thiện, sau khi đánh bom tại một cơ sở chính quyền, đã xách súng tới một hòn đảo nhỏ, thản nhiên bắn giết 69 người, làm bị thương 110 ngườ, năm 2011 …mà đa số họ đều là thanh niên thiếu nữ đang hồn nhiên vui chơi trong một buổi sinh hoạt picnic ngoài trời... theo tôi…là kết quả của những tin tức, những bài báo, những bài bình luận, những hình ảnh, những video … mang tính khích động, xúi giục, kỳ thị, ghét bỏ, loại trừ. Rồi ngày hôm qua 5/8/2012, một cựu chiến binh Da Trắng Mỹ đã đem súng vào bắn chết 6 tín đồ Đạo Sikh của Ấn Độ đang hành lễ ở một ngôi đền tại Milwaukee, Tiểu Bang Wisconsin, rồi sau đó bị cảnh sát bắn chết cũng chì vì ông này theo chủ nghĩa " White Supremacy" (Da Trắng Là Ưu Việt) - một tổ chức cực đoan kỳ thị chủng tộc.
Ôi cuộc đời thật vô thường! Đảo nhỏ xinh tươi Utøya của Na Uy nay bỗng dưng biến thành địa ngục. Rạp ci-nê, thánh đường bỗng biến thành phạm trường bắn giết. Nghĩ cho cùng, tất cả đều do con người gây tạo ra với nhau.
Vì hiểu rằng hạnh phúc khổ đau trên cõi đời này là do chính con người đem đến cho nhau cho nên muốn những điều ác không xảy ra thì ngay bây giờ chúng ta phải làm điều lành. Cũng giống như để cứu một hồ nước nhiễm ô chúng ta không thể quỳ gối cầu xin mà chinh chúng ta phải ngưng xả rác hoặc ngưng ném những chất độc hại xuống đó, đồng thời đưa vào hồ một dòng nước trong mát. Chân lý muôn đời là không thể diệt trừ bạo lực này bằng một bạo lực khác. Không thể có yên bình nếu con người còn tiếp tục nuôi dưỡng và cổ súy bạo lực, kỳ thị, ghét bỏ, loại trừ. Bạo lực ngày hôm nay chỉ là kết quả của cái nhân xấu của ngày hôm qua.
Tôi cũng còn đang huân tập một đức tính: Nhìn vương tôn công tử cũng giống như một kẻ hành khất, cung vàng điện ngọc của vua chúa cũng giống như ngôi nhà tranh vách đất, mối tình của công chúa, hoàng tử chưa chắc đã đẹp hơn mối tình của đôi trai gái ở làng quê, đám cưới của siêu sao, người mẫu chưa chắc đã đẹp hơn đám cưới nghèo ở một thôn bản đìu hiu, ông tỷ phủ thì cũng vậy mà người buôn gánh bán bưng cũng vậy, kẻ tri thức bằng cấp cùng minh chưa chắc đã thiện lương hơn bà già mù chữ, kim cương châu báu cũng giống như sỏi đá ven đường, nữ trang đắt giá cũng giống như vỏ sò vò ốc, quần hàng, áo hiệu cũng giống như lá che thân của con người thời tiền sử…
Huân tập như vậy là tôi nương theo lời dạy của Phật trong Kinh Viên Giác, " Này thiện nam tử! Tất cả chướng ngại là giác hoàn toàn. Chính niệm hay tà niệm đều là giải thoát. Lập được pháp hay phá pháp đều là Niết Bàn. Trí tuệ ngu si đều là Bát Nhã. Bồ Tát hay ngoại đạo thành tựu các pháp đều là Bồ Đề. Vô minh, chân như không giác cảnh giới (Phật). Giới-Định-Huệ và Dâm-Nộ- Si đều là phẩm hạnh. Chúng sinh và quốc độ đồng một pháp tính. Địa ngục, cung trời đều là Tịnh Độ. Có tính hay không tính đều thành Phật đạo. Tất cả phiền não chính là giải thoát hoàn toàn. Bể tuệ pháp giới soi rõ các tướng cũng như hư không. Đấy gọi là tính Viên Giác tùy thuận của Như Lai." (*)
Tuy nhiên trong cuộc huân tập đó, thú thực tôi như người lội dòng nước ngược, như kẻ lên thác xuống ghềnh, như kẻ tự cột mình vào một giây cao-su, một kẻ bị xiềng xích. Có lúc tôi hiu hiu tự đắc tưởng mình đã "đạt đạo" nhưng thực thế thì "trôi lăn".
-Gốc tham-sân-si vẫn còn nguyện vẹn đó.
-Lòng căm thù, ý nghĩ ghét bỏ, kỳ thị, loại trừ có từ bao đời nay không sao dứt được.
-Sự ngã mạn và "cái tôi" với tuổi đời tưởng như thu nhỏ lại nhưng thực tế lại phình to ra.
-Tôi vẫn còn nuôi dưỡng, ấp ủ và vuốt ve những thói hư tật xấu của mình.
-Tôi tự an ủi và biện minh cho những lỗi lầm và lơ là với việc sám hối.
-Tôi luôn luôn có ý nghĩ cho rằng mình đúng còn người ta thì sai.
-Tôi vẫn cho rằng mình luôn đứng ở phía chân lý còn kẻ khác là tà vạy.
-Tôi vẫn nhìn đời bằng con mắt nghi kỵ thay vì cảm thông, tha thứ.
-Tôi vẫn còn nuôi dưỡng lòng hận thù. Hận thù cả những kẻ mà tôi chưa hề gặp mặt mà chỉ nghe nói trên truyền hình, báo chí, Internet.
-Nhiễm ô bởi những tin tức, hình ảnh, báo chí, Internet hằng ngày, kho chứa hận thù trong lòng tôi cứ lớn dần lên trong khi kho chứa tình thương thì cứ vơi đi. Chắc chắn khi tôi chết đi, tôi không thể đem theo cổ phiếu, đô-la, nhà cửa, xe cộ, nữ trang ngọc ngà châu báu…nhưng thần thức, linh hồn tôi sẽ đem theo kho tàng hận thù mà tôi tích chứa từ thuở ấu thơ. Tôi sẽ làm nhiễm ô "thế giới bên kia" khi tôi gặp những ông bà cố tổ sinh ra cách đây vài ngàn năm mà tâm hồn họ rất ngây thơ, chân chất.
-Tôi vẫn thích loan truyền những tin tức xấu, hoặc nói xấu người khác hoặc những bài viết xuyên tạc, chia rẽ, đánh phá mà tôi coi đó như một khoái cảm, một thành tích.
-Tôi vẫn còn thích thủ đoạn dìm người khác để ngoi lên. Tôi có ý nghĩ sai lầm là "kẻ khác xấu thì đương nhiên mình tốt". Tôi đâu biết rằng kẻ khác xấu nhưng chưa chắc mình đã tốt. Ai có phận của người đó.
-Tôi thường tiết kiệm lời khen vì tôi nghĩ rằng khen ngợi người khác làm giảm giá trị của mình.
-Tôi bóp méo sự thực khách quan theo tình cảm yêu ghét của tôi.
-Tôi vẫn có ý nghĩ cho rằng đề cao tinh thần vị tha "chín bỏ làm mười" là tiêu cực, là yếu hèn. Phải dùng sức mạnh để chiến thắng. Tôi đâu biết rằng có những chuyện mà người ta chém giết nhau đã vài ngàn năm nhưng có giải quyết được gì đâu.
-Những ai có ý nghĩ khác với tôi, lập tức tôi sân hận rồi coi đó như kẻ thù và không hề có ý tưởng bao dung.
-Cho dù mái tóc đã điểm sương, "lực bất tòng tâm" nhưng tham vọng của tôi vẫn to lớn, lớn hơn cả như núi Tu Di. Dù ở tuổi "bất hoặc" tôi vẫn còn "ham vui" tham gia vào những cuộc bênh-chống, nay bạn mai thù, nay khen mai chê, nay ngưỡng mộ mai hạ bệ. Tôi như đứa con nít, đúng ra như cái chong chóng quay tít trong dòng đời "vô minh và vọng động" mà không sao chủ động được. Cuộc sống nội tâm của tôi tưởng êm đềm nhưng thật ra như mặt nước dợn sóng, như khỉ truyền trên cành, như ngựa phi trên cánh đồng…hoàn toàn nóng nảy, bất an và vô định.
-Dù thế giới văn minh như thế nhưng tôi vẫn thích chém giết, cổ vũ cho sự chém giết và tỏ vẻ vui mừng khi thấy ngàn vạn tấm bom trút lên đầu đất nước mà tôi căm ghét. Tôi không có tư tưởng yêu chuộng hòa bình. Tôi coi cuộc sống, con người của dân xứ đó như những lon đồ hộp, như món đồ chơi.
-Tôi vẫn còn say mê tiền bạc, ham thích sự sang cả, phù du, ảo ảnh giống như lòai thiêu thân lao vào ánh đèn rồi tan tác vì ánh điện.
-Nói tóm lại, tôi vẫn là một phàm phu tục tử.
Chính vì thế mà sự huân tập của tôi chỉ là một "hành giả" rất khiêm tốn, một lữ hành miệt mài trên con đường thiên lý có khi gục ngã giữa đường mà không bao giờ tới đích hay có khi chỉ đi lòng vòng rồi trở lại khởi điểm ban đầu, đâu vẫn hoàn đó trong tiến trình gọi là Luân Hồi.
Bạn ơi,
Con người mà chúng ta đang sinh sống, cư xử ngày hôm nay là một tổng hợp của thân thế, giáo dục, rèn luyện, hiểu biết…một tích lũy của di sản đúng-sai, yêu thương-hận thù, hoặc sự cọ sát của lịch sử trong quá khứ rồi từng giây từng phút lại bị tác động bởi hiện tại và môi trường chung quanh.
Trong một xã hội hay một cộng đồng đầy hận thù và bạo lực, chúng ta có thể bị bôi lọ, giết hại nếu chúng ta nói chuyện thương yêu, tha thứ. Trong một cộng đồng đầy tình nhân ái thì bạo lực cũng có thể không có cơ hội nảy sinh hay lộng hành. Do đó, để có một cuộc sống an lành, chúng ta cần nuôi dưỡng chủng tử lành rồi cùng lúc xây dựng một cộng đồng, một xã hội an lành.
Bạn ơi,
Tôi chỉ là một phàm phu tục tử xấu xa, đầy tội lỗi, đang cố gắng đi trên con đường thiên lý, có thể không bao giờ tới đích. Nhưng cái đích đó chính là chỗ mong ước và cầu xin hằng ngày của cả tỷ con người trên hành tinh nhỏ bé này: Đó là sự bình an cho cuộc sống của con người.
Bạn ơi, xin đừng nhân danh bất cứ cái gì để phá hoại cuộc sống an bình của con người./.
Đào Văn Bình
(California nhân Mùa Vu Lan 2012)
(*) Kinh Viên Giác, bản dịch của Cụ Thích Huyền Cơ ( Hà Nội 1951) do Phật Học Viện Quốc Tế (Hoa Kỳ) tái bản năm 1997. Đây là bộ kinh chỉ dạy cho hàng đại bồ tát. Nghe kinh này tất cả đại chúng phải nhập chánh định. Nếu không nhập chánh định mà dùng "lý trí phân biệt"của thế gian thì không thể hiểu được bộ kinh này.
23 August 2012
Tây Tạng Bị Bỏ Quên
Hình ảnh những người dân Tây Tạng tự thiêu trong tuyệt vọng vẫn là những gì không quên được, khi bạn nhìn thấy. Một thanh niên phựt lửa, vừa chạy vừa hô khẩu hiệu, và chạy tới khi gục ngã. Một phụ nữ tắm người trong lửa, đứng giữa chợ hô khẩu hiệu đòi độc lập Tây Tạng.
Tuyệt vọng, nhưng thế giới vẫn im lặng. Vẫn làm như không nghe, không thấy, không biết. Lương tâm người nhìn thấy bị cắn rứt, nhưng không làm gì hơn được, khi Liên Hiệp Quốc vẫn lặng lẽ.
Người ta sẵn lòng lớn tiếng về Trung Đông, về các vấn đề Hồi Giáo, phần lớn vì quan ngại về cuộc chiến khủng bố, về những người bạn của al-Qaeda và Taliban... nhưng người ta an tâm về Phật Giáo Tây Tạng, những người mà ai cũng biết rằng đang giữ giới không giết người, và không hề mang tâm sát nhân ngay cả đối với những người Trung Quốc đang cai trị họ.
Do vậy, Thủ Tướng Tây Tạng lưu vong tuần naỳ mới cảnh cáo rằng cộng đồng quốc tế có thể đang đẩy các vận động hòa bình về hướng biểu tình bạo động hơn bằng cách can thiệp vào Mùa Xuân Ả Rập, nhưng không chống đối gì chuyện Trung Quốc đàn áp ở Tây Tạng.
Thủ Tướng Lobsang Sangay, 43 tuổi, một học giả tốt nghiệp Harvard, nói rằng trong khi các lãnh tụ Phật Giáo Tây Tạng vẫn giữ lập trường dân chủ và bất bạo động, thì những phong trào bên lề khác có thể diễn giải qua hành động của Tây Phương rằng chỉ có biểu tình bạo động mới được hỗ trợ từ các siêu cường.
Đó là lời của Sangay nói trong bài diễn văn kỷ niệm một năm giữ chức Kalon Tripa, tức là chức Thủ Tướng Tây Tạng lưu vong, khi ông kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra về hàng loạt vụ tự thiêu trong và ngoài Tây Tạng.
Ông Sangay nói rằng, trong khi cuộc tự thiêu của một người Tunisia hồi tháng 12-2009 là tác nhân bùng khởi Mùa Xuân Ả Rập, trong đó cộng đồng quốc tế mạnh mẽ can thiệp, thì "Tây Tạng tới giờ đã là một Mùa Xuân Ả Rập trong nhiều thập niên rồi."
Đã có ít nhất 49 người Tây Tạng tự thiêu để phản đối chính sách TQ đàn áp ở Tây Tạng kể từ tháng 3-2011, khi một vị sư trẻ tự thiêu ở tỉnh Tứ Xuyên để kỷ niệm năm thứ 3 của cuộc biểu tình tại Tu Viện Kirti, trong đó có ít nhất 10 người Tây Tạng bị bắn chết và từ đó bùng khởi làn sóng biểu tình bạo động.
"Bi kịch tại Tây Tạng đang diễn ra trong 50 năm qua, nhưng phản ứng của quốc tế không nhiều như Mùa Xuân Ả Rập," theo lời Sangay nói trong bài diễn văn tại Câu Lạc Bộ Phóng Viên Quốc Tế Vùng Nam Á (FCCSA) ở New Delhi mấy ngày trước.
"Bỏ quên chúng tôi, hay không hỗ trợ chúng tôi, có thể gửi một thông điệp tới các phong trào bên lề khắp thế giới rằng có lẽ không nên chiến đấu bằng phương tiện dân chủ và bất bạo động."
Tuy ông thất vọng vì quốc tế không ủng hộ cuộc chiến bất bạo động cuả dân tộc Tây Tạng, nhưng cả ông và Đức Đạt Lai Lạt Ma đều mạnh mẽ kêu gọi đừng dùng phương tiện tự thiêu.
Thủ Tướng Sangay nói rằng tình hình tệ hại thêm ở Tây Tạng từ khi ông nhậm chức hồi tháng 8-2011, khi chính phủ TQ xiết vòng đai quanh Tây Tạng, không cho du khách quốc tế vào, và liên tục sách nhiễu người Tây Tạng hành hương và cư dân.
Những người Tây Tạng liên hệ tới việc tổ chức biểu tình khi bị bắt "thường bị trả tấn và đôi trường hợp bị mất tích," và TQ bây giờ quan tâm về trị an hơn là chuyện đối ngoại.
Ông nói, vùng Tây Tạng bây giờ đã quân sự hóa cao độ, và là một trong những nơi dao động, bất ổn, và dân Tây Tạng đang chịu đau khổ, "Đó là lý do vì sao, khi bị kềm chế tự do phát biểu, dân Tây Tạng đã, một cách bất hạnh, tự thiêu như một hình thức phản kháng."
Dù vậy, Sangay nói ông hy vọng các sự kiện gần đây như Mùa Xuân Ả Rập, và việc trả tự do cho lãnh tụ dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi sẽ lôi kéo Bắc Kinh tới phương pháp trung dung hơn với Tây Tạng.
Và TQ đã không đem tới một thiên đường xã hội chủ nghĩa như đã hứa cho Tây Tạng khi xâm chiếm hồi năm 1959, và đã tới lúc chính phủ TQ công nhận thất bại toàn diện của các chính sách trọng tâm về Tây Tạng.
Ông nói, chính phủ TQ phải nhận thấy như thế, hay là sẽ có ai đó thúc giục họ nhận ra như thế.
Một điểm cần ghi nhận, Mỹ và Liên Âu ưu tiên bận tâm về Kuwait, Iraq, Syria, Iran, Libya, Tunisia... vì vùng Trung Đông và Bắc Phi là mỏ dầu của thế giới. Trong khi Tây Tạng không phải thế.
Thêm nữa, Mỹ và Liên Âu hào hứng kềm chế thế giới Hồi Giáo, vì lo sợ quân khủng bố al-Qaeda và cũng vì trong tiềm thức mang sẵn tâm thức thánh chiến của Ky Tô Giáo, muốn đưa quân hướng về thánh địa Jerusalem, nơi họ đã lấy đất này từ dân tộc Hồi Giáo Palestine để trao tặng cho dân tộc Do Thái Giáo Israel từ sau Thế Chiến 2.
Còn chuyện các nhà sư Tây Tạng thì xa quá. Vừa không có dầu, vừa không dính gì tới nỗi lo tiềm thức của họ./.
Trần Khải
21 August 2012
MIỀN VĨNH NGHIÊM
MINH MẪN
Miền Vĩnh Nghiêm là tên gọi cho cộng đồng Phật giáo miên Bắc sống trong Nam, sau 1964 Phật giáo thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, chia vùng hành chánh theo từng miền:
Miền Vạn Hạnh: Bắc duyên hải Trung phần từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, trụ sở ở Huế
Miền Liễu Quán: Nam duyên hải Trung Phần từ Bình Định đến Bình Thuận, trụ sở ở Quy Nhơn
Miền Khuông Việt: Cao nguyên Trung phần từ Kontum đến Quảng Đức, trụ sở ở Ban Mê Thuột
Miền Khánh Hòa: Miền Đông Nam Phần từ Bình Tuy lên Phước Long, Tây Ninh xuống đến Gia Định,
Miền Huệ Quang: Miền Tây Nam phần Tiền Giang,
Miền Khánh Anh: Miền Tây Nam phần Hậu Giang,
Miền Quảng Đức: Thủ đô Sài gòn, trực thuộc Viện Hóa Đạo,
Miền Vĩnh Nghiêm: Phật tử Miền Bắc di cư và đại diện cho cả Miền Bắc
Đây là kết quả cuộc họp liên tục và cân nhắc của Phật giáo lúc bấy giờ sau khi nhà Ngô sụp đổ
Cuộc họp bắt đầu từ ngày 31 Tháng Chạp năm 1963 tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn với:
Ủy ban Liên phái Phật Giáo: Thượng tọa Thích Tâm Châu
Giáo hội Tăng già Bắc Việt: Thượng tọa Thích Tâm Giác
Thiền tịnh Ðạo tràng: Thượng tọa Thích Minh Trực
Giáo hội Nguyên Thủy Việt Nam: Thượng tọa Thích Pháp Tri
Giáo hội Theravada: Lục cả Lâm Em
Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam: Thượng tọa Thích Thanh Thái
Giáo hội Tăng già Trung phần: Thượng tọa Thích Huyền Quang
Giáo hội Tăng già Nam Việt: Thượng tọa Thích Thiện Hoa
Hội Phật học Nam Việt: cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Hội Phật giáo Nguyên thủy: cư sĩ Nguyễn Văn Hiếu
Hội Phật giáo Trung phần: Thượng tọa Thích Trí Quang
Hội Việt Nam Phật giáo: cư sĩ Vũ Bảo Vinh
Ðại diện Phật tử Theravada: cư sĩ Sơn Thái Nguyên.
Như vậy, trên phương diện lãnh thổ, các Miền quy định địa dư rõ ràng, riêng Miền Vĩnh Nghiêm chỉ là danh nghĩa dành cho cộng đồng Phật tử miền Bắc đang sống trong Nam đại diện cho phía Bắc, vì quần chúng Phật tử miền Bắc có mặt tất cả khắp phía Nam, không có địa giới rõ ràng, tuy là đại diện cho Phật tử phía Bắc, nhưng không liên lạc với phía Bắc. Vì vậy gọi là miền Vĩnh Nghiêm là miền lơ lững giữa 7 miền còn lại. Tuy nhiên, nề nếp sinh hoạt tôn giáo và cơ sở vật chất vẫn là một thực tại. Miền Vĩnh Nghiêm lúc bấy giờ do cố HT. T. Tâm Giác làm chánh đại diện.
Nhân sự:
Trước 1975, lúc bấy giờ, chư Tăng miền Vĩnh Nghiêm, hay nói cách khác là chư tôn đức miền Bắc vẫn có một trọng lượng đáng kể trong tổ chức GHPGVNTN, tuy ít. Cố Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, cố Hòa Thượng Thích Tâm Giác, HT. T.Thanh Long, cố HT T.Quảng Long, cố HT. T. Đức Nhuận, HT T.Tâm Châu, HT.T.Quảng Độ, HT.T. Đức Nghiệp, HT.T. Quảng Thiệp, HT.T.Giác Đức…là những gương mặt sáng giá trong tổ chức GHPGVNTN đủ đại diện cho cộng đồng Phật giáo miền Bắc sinh hoạt tại miền Nam. Các ngài đã góp công rất lớn cho việc phục hoạt tổ chức Phật giáo Việt Nam sau 1963.
Về phía Bắc, chùa tổ Vĩnh Nghiêm, trong thời chiến, thiếu nhân sự thừa kế, một số chư Tăng phải xếp ca sa khoác chiến bào, vì vậy một thời gian dài tổ đình Vĩnh Nghiêm Bắc Giang thiếu bóng tu sĩ, kể từ lúc tổ Thanh Hanh (1838 – 1936 ) cố Thiền gia Pháp chủ phía Bắc có công lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo của thế kỷ 20, viên tịch.
Sau 1982, GHPGVN ra đời, khu vực hành chánh đã xóa tên miền Vĩnh Nghiêm cũng như các miền khác, chỉ còn danh xưng Ban Trị Sự Phật Giáo song song với cơ cấu hành chánh của nhà nước; Riêng Vĩnh Nghiêm được phục hoạt danh xưng như một dòng phái khởi nguồn từ dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử thời Trần Nhân Tông, hay còn gọi là Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử, từ đây, nhân sự của dòng Vĩnh Nghiêm cũng được gia tăng theo chiều dài lịch sử.
Nếu đệ tam Tổ Huyền Quang chấn hưng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, phát xuất mạch nguồn từ thiền sư Hiện Quang ( đời thứ 15 dòng Vô Ngôn Thông) lấy chùa La ( Vĩnh Nghiêm ) Bắc Ninh làm cơ sở khởi đầu, thì ngày nay, Vĩnh Nghiêm tại Bắc Giang trở thành trung tâm du lịch tâm linh, có bề dày lịch sử về cơ sở đào tạo Tăng tài đầu tiên của đất nước, có lối kiên trúc đậm nét đặc trưng miền Bắc cổ; nằm ở vị trí non nước hữu tình về mặt cảnh quan, mà còn chiếm vị trí địa linh làm nẩy nở một thời dòng Thiền thuần Việt.
Cơ sở
Tuy được xây dựng từ thời Lý, nhưng mãi đến đời Trần, vua Trần Nhân Tông và các đồ đệ chọn chùa La làm cơ sở hoằng Pháp, từ đó, Vĩnh Nghiêm mới đi vào lịch sử gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm. Kể từ khi Trúc Lâm Đại Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, cùng 2 đệ tử Pháp Loa và Huyền Quang sáng lập phái Thiền tông hay còn gọi là dòng thiền Trúc Lâm Tam tổ, ( kết hợp ba dòng Thiền trước đó : Tỳ Ni Đa Lưu Chi- Vô Ngôn Thông và Thảo đường) mở mang hệ thống chùa tháp dọc theo hai sườn dãy Yên Tử, từ đó lan tỏa xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong đó chùa Vĩnh Nghiêm ( còn gọi là chùa La ) và vùng Yên Tử trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài cho toàn quốc.Vua Trần Nhân Tông thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm đầu tiên. Sau đó Pháp Loa kế nhiệm trụ trì, khi Pháp Loa viên tịch, Thiền sư Huyền Quang kế thế thủ tọa, từ đây dòng thiền Trúc Lâm phát triển lớn mạnh. Phát xuất từ chùa La (Vĩnh Nghiêm), hình thành một giáo hội chính thống, có chủ trương, có tổ chức hành chánh, phong hàm giáo phẩm, có điệp đàn Tăng tịch. Lần đầu tiên Phật giáo có trường đào tạo tu sĩ, có khuynh hướng giáo dục rõ ràng.
Tuy nhiên, sau khi Thiền phái Trúc Lâm phát triển sâu rộng qua nhiều thời kỳ, Vĩnh Nghiêm không còn được xem thuộc trường phái Trúc Lâm Yên Tử, mà tự thân là một dòng biệt lập,mãi đến ngày nay, dòng Vĩnh Nghiêm truyền thừa trên 800 năm, không mang một sắc thái thiền của Trúc Lâm Tam tổ, và thời gian cận đại, sinh hoạt Thiền môn của dòng Vĩnh Nghiêm không khác với các sinh hoạt của những thiền môn trong cả nước, Thiền Mật Tịnh dung thông.
Ngày nay, dòng Trúc Lâm Yên Tử do Hòa Thượng T. Thanh Từ hướng dẫn, lần lượt phục hồi và kiến tạo các cơ sở Trúc Lâm, trong đó, tại Bắc Giang, Trúc Lâm Phượng Hoàng tại vùng đất Nham Biền, không xa chùa La, được hưng công một cách bề thế, có nghĩa, chùa Vĩnh Nghiêm không còn nằm trong hệ thống Trúc Lâm hiện nay.
Năm 1964, HT. T. Tâm Giác cùng HT. T. Thanh Kiểm đứng ra xây dựng chùa Vĩnh Nghiêm tại Saigon, trên đường Công Lý mà hiện nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, do kỷ sư Bùi Văn Tố và Nguyễn Bá Lăng thiết kế xây dựng. Kế thế cố HT Trụ Trì Thích Thanh Kiểm, hiện nay là TT. T. Thanh Phong. Đây được xem là tổ đình Vĩnh Nghiêm phía Nam, hàng ngày co hàng trăm du khách tham quan, mỗi đại lễ, có hàng vạn Phật tử tham dự; không những tổ đình Vĩnh Nghiêm đại diện cho dòng phái phía Nam mà còn là nơi du lịch nổi tiếng. Nơi đây có nhiều sinh hoạt gắn liền với xã hội và tín ngưỡng, tạo một uy tín vững vàn trong giới Phật giáo hiện nay. Sau năm 1975, một số Tăng sĩ thành lập các nhánh Vĩnh Nghiêm như ở Mỹ do HT T. Minh Thông chủ tạo, Tiệp Khắc, Thiền viện Vĩnh Nghiêm- vũng Tàu do ĐĐ T. Phúc Hải trụ trì. Tu viện Vĩnh Nghiêm quận 12 TP HCM do TT. T. Thanh Phong chủ tạo. Chùa Vĩnh Nghiêm Thành Phố Nürnberg, bang Bayern, C.H.L.B Đức-ÂU CHÂU hình thành năm 2009. Hiện phía Nam có trên 80 cơ sở thuộc dòng Vĩnh Nghiêm, và trên 500 Tăng ni đng tu học khắp phía Nam, chưa kể số lượng tu sĩ và cơ sở vật chất từ Quảng Bình trở ra Bắc.
Một vài chùa miền Nam có liên đới với Phật tử miền Bắc trước đây, được xem là cơ sở dòng Vĩnh Nghiêm như chùa Giác Minh, chùa Từ Quang, chùa Phúc Lâm Biên Hòa, chùa Phổ Minh Tây Nguyên…hiện vẫn sinh hoạt không lệ thuộc dòng phái mà tiếp xúc, vẫn có nét riêng của Phật giáo phía Bắc.
Ảnh hưởng tâm linh
Tuy dòng phái Vĩnh Nghiêm sau khi tách khỏi ảnh hưởng Thiền phái Trúc Lâm, nhưng tinh thần tu tập và gắn kết với cộng đồng xã hội vẫn không khác với chủ trương của Trúc Lâm Tam tổ. Những Thiền sư kế thừa dòng thiền Trúc Lâm vẫn lấy tôn chỉ: : "Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật" làm chủ đạo, ngài linh động kết hợp giảng kinh thuyết pháp, mà các dòng phái trước kia chuyển ẩn dật, cách biệt xã hội, thì Thiền Trúc Lâm chứng minh cho thấy "Đạo đời viên dung" Phật pháp bất ly thế gian pháp. Trong thời chiến cũng như lúc thanh bình, chư Tăng thuộc dòng Vĩnh Nghiêm cũng từng tham gia mọi công ích, kể cả xếp cà sa khoác chiến bào để làm tròn bổn phận công dân. thậm chí, thời kỳ này Hòa thượng Thích Tâm Duyệt là người trực tiếp chèo đò chở cán bộ, bộ đội trên bến đò La qua sông Lục Nam. Sư Duyệt được Nhà nước tặng Huân chương vì đã có công trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Công tác xã hội ngày nay, chư Tăng dòng Vĩnh Nghiêm nói chung,TT Thanh Phong phía Nam và TT T. Thanh Vịnh, trụ trì tổ đình phía Bắc nhiệt tâm trong mọi công tác xã hội và hậu thuẩn cho giáo hội trong mọi sinh hoạt liên hệ đến kinh tế.
Vĩnh Nghiêm Bắc Giang là một cơ sở có nhiều vinh hạnh được chư danh Tăng thạc đức làm tọa chủ, người đầu tiên là Thiền sư Vạn Hạnh, kế đến là Ngài Đạo An, ngài Minh Tâm, ngài Bảo Tánh và ngài Huệ Quang ( tức vua Lý Huệ Tông), từ đó, các vua chúa, quần thần đều hướng về Vĩnh Nghiêm, nhất là khi Trúc Lâm đặt cở sở phát huy thiền phái của mình tại Vĩnh Nghiêm, nghiễm nhiên chùa La trở thành trụ cột cho Phật giáo thời bấy giờ, tiếp nối các danh Tăng về thủ tọa. Đến năm 1930, thế kỷ 20, Hòa Thượng T. Thanh Hanh, đệ nhất Pháp chủ thiền gia phía Bắc, rồi đệ nhị pháp chủ là Hòa Thượng T. Mật Ứng, HT T. Quảng Duyệt, HT T. Đức Nhuận đều xem Vĩnh Nghiêm là Già Lam Tổ đình cho Tăng ni an cư bốn mùa. Hiện nay là TT. T.Thanh Vịnh thủ tọa.
Ngoài ra, chùa Vĩnh Nghiêm thủ đắc kho mộc thư được ấn bản từ thời cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 gồm nhiều thể loại như kinh, luật luận, thi phú, sách thuốc và chú giảng…được Unesco công nhận là di sản thế giới.
Tổ đình Vĩnh Nghiêm miền Nam, tuy phát triển cơ sở vật chất, vẫn mang tầm vóc tâm linh, thổi hồn vào để duy trì tinh thần Phật giáo qua các cơ sở vật chất như bảo tháp để lưu tồn ân đức của chư vị tiền bối có công với dòng phái. Phía Bắc, tổ đình cũng không làm mất dáng vẻ cổ kính mặc dù nhiêu lần tu tạo tái thiết. Cho dù nơi đâu, cơ sở vật chất của dòng Vĩnh Nghiêm vẫn còn phảng phất nét văn hóa Phật giáo một thời của miền Bắc, đó là nét đặc thù mà ngoài dòng phái Vĩnh Nghiêm, hiện nay chưa có dòng phái nào tồn tại lâu dài trên đất nước phía Bắc còn duy trì được văn hóa cá biệt của mình. Phải chăng, văn hóa tâm linh của dòng phái đã giúp chư Tăng bảo tồn được sắc thái đó?
Tập quán
Hầu hết các chùa phía Bắc ảnh hưởng nặng Tam tòa Tứ phủ, vì thế, chư Tăng ít nhiều cũng phải biết nghi pháp hầu đồng. Đền miếu chùa đình là một quần thể văn hóa tín ngưỡng của miền Bắc. Từ ngày thành lập GHPGVN, chư Tăng giảm dần việc cúng sao giải hạn, đốt vàng mã. Tuy nhiên, quần chúng vẫn khó mà thay đổi. Một số tu sĩ trẻ được đào tạo từ học viện, phần nào ý thức và phân biệt được giữa tín ngưỡng truyền thống dân tộc và tín ngưỡng tâm linh Phật giáo, nhưng các trụ trì vẫn không thoát khỏi sự chi phối của quần chúng về tập quán Thần Phật. Trụ trì không biết hầu đồng múa rỗi thì khó mà được quần chúng yểm trợ. Chư Tăng dòng Vĩnh Nghiêm cũng thế, nhưng sinh hoạt tín ngưỡng dòng Vĩnh Nghiêm hiện nay có nhiều thay đổi hơn xưa. Đặc biệt, tuy nhập thế thời đại, chư Tăng được trang bị kiến thức tối thiểu, nhiều vị được du học, khi về lãnh sứ mạng hoằng pháp, hành đạo, vẫn giữ được nét truyền thống cổ về kiến trúc, duy trì được Tăng phong dòng phái mà không bị lỗi thời với hiện đại. Tuy thích nghi với thời đại về kiến thức, về kiến trúc, về sinh hoạt xã hội mà vẫn giữ được nét cổ kính của dòng phái do nhiều đời danh sư truyền đăng tục diệm. Tập quán sinh hoạt thiền môn phía Bắc vẫn không bỏ, nhưng cập nhật văn minh hiện đại vẫn có thừa. Nhất là chư Tăng phía Bắc được duy trì tập quán bởi quần chúng miền Bắc vẫn chưa nhạt nhòa nếp sống cổ xưa, đòi hỏi chư Tăng phải giữ được tập quán thiền môn mà hàng ngàn năm, phía Bắc từng là chiếc nôi của đạo Phật. Cái khó hiện nay của chư Tăng nói chung trong thời kinh tế thị trường, đòi hỏi phải thích nghi thời đại mà không phụ lòng nhu cầu tâm linh cổ xưa quần chúng miền Băc. Tập quán vẫn là chiếc vành để giữ miệng thúng đạo đức tín ngưỡng được vững vàn hơn.
Tuy nhiên, chư Tăng dòng Vĩnh Nghiêm ở phía Nam tương đối ít bị ràng buộc bởi tập quán cổ thời, họ đã hòa nhập với nếp sinh hoạt phía Nam một cách uyển chuyển, tuy không đánh mất gốc cổ truyền, nhưng cũng không đi quá xa về Tăng phong đạo cách của Thiền môn.
Tóm lại, cùng với sự phát triển chung của Phật giáo, giòng thiền Trúc Lâm đang khôi phục cơ sở vật chất chưa đồng bộ với tăng trưởng tâm linh, tuy gọi là giòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, chưa cung cấp cho văn học Phật giáo Việt Nam hiện tại một nội chất đặc thù của Thiền phái ngoài danh xưng và các đời truyền thừa phả hệ của chư Thiền sư, chưa làm nổi bậc một pháp hành đặc thù như Tam Tổ đương thời, tuy nhiên khôi phục tinh thần Trúc Lâm trên cơ sở vật chất cũng là điểm tựa cho tinh thần dân tộc một thời được hưng phấn bởi giòng thiền Phật giáo Việt Nam duy nhất. Song song với sự phát triển của giòng Trúc Lâm khi tách biệt hẳn cơ sở chùa Đức La (Vĩnh Nghiêm Bắc Giang), dòng Vĩnh nghiêm vẫn duy trì được tông phong và âm thầm phát triển. Tuy dòng Vĩnh Nghiêm mang tính truyền thừa của tiền hiền liệt tổ, dẫu sao vẫn còn duy trì tầm vóc một thời mà những chi phái khác có tên tuổi như Thảo đường, Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa lưu Chi, Liễu Quán, Thiên Thai giáo quán tông…đã vắng mất hệ thống tổ chức truyền thừa. Lâm Tế và Tào Động cũng chỉ còn trên phả hệ mà không có truyền thống tục diệm rõ ràng. Ngày nay, dòng thiền của Ngài Duy Lực còn quá mới mẻ, chưa phát triển sâu rộng, chưa thành một giòng phái có tầm vóc, vì thế, dòng Vĩnh Nghiêm hiển nhiên có một vị trí tương xứng trong cộng đồng sinh hoạt của Phật giáo trong và ngoài nước hiện nay.
Dòng Vĩnh Nghiêm, ngoài cơ sở vật chất và lượng số Tăng ni khá lớn. Phả hệ tương đối tồn tục, nhưng sắc thái tâm linh vẫn chưa có một hương vị đặc thù nào để sử gia có thể phân biệt dòng Vĩnh Nghiêm khác với các giáo hệ đương đại mà Nhật Bản, Cao ly có một ranh giới rõ ràng cho các dòng phái.
Dẫu sao, qua bao biến thiên lịch sử, dòng phái Vĩnh Nghiêm vẫn có chỗ đứng thực sự trong giáo sử cận đại, song song đó, các trường phái nổi danh một thời nay cũng chỉ còn trên những trang sử quá độ của Phật giáo Việt Nam.
Miền Vĩnh Nghiêm hay dòng Vĩnh Nghiêm cũng chỉ là tên gọi cho sự liên tưởng một thời, dành cho chư Tăng Ni Phật tử từng hãnh diện chùa Tổ vốn là nguồn gốc phát xuất cho một trang sử oai hùng của dân tộc và Phật giáo từ thời Trần khai nguyên Thiền phái nước Việt. Đất nước bao lần thay ngôi đổi chủ, thể chế chính trị bao lần mang màu sắc khác nhau, nhưng Vĩnh Nghiêm vẫn là dòng phái tồn tại song hành với sự tồn tại của Phật giáo Việt Nam.
MINH MẪN
21/8/2012






