28 December 2011

Gia đình nào có khả năng cho con du học?



Gia đình nào có khả năng cho con du học?

Huy Phương

Du học sinh Việt tại Mỹ


Trong số 60,000 du học sinh Việt Nam hiện nay, ngoại trừ khoảng hơn 4,000 người học bằng ngân sách chính phủ theo đề án 322, vài ngàn người theo học bằng các học bổng chính phủ, số còn lại đi học bằng con đường tự túc. Số lượng sinh viên Việt Nam học tập tại các trường đại học và cao đẳng của Mỹ lên tới gần 15,000 người trong năm học hiện tại, đưa Việt Nam lên thứ 8 trong danh sách các nước có nhiều sinh viên học tại Mỹ. Trong năm học này, số sinh viên người Việt theo học tại các đại học và cao đẳng của Mỹ đã tăng 14%, từ 13,112 người lên thành 14,888 người. Với con số này, Việt Nam hiện xếp thứ 8 trong số những nước có nhiều sinh viên du học nhất ở Mỹ, cách đây 5 năm, số sinh viên du học Mỹ chỉ đứng hạng 20.

Những con số

Những con số thực tế sau đây do gia đình một du học sinh tại Mỹ (thuộc loại giàu có) cung cấp cho chúng tôi vào thời điểm 2011:
- Ðóng lệ phí xin visa: $140 cho lãnh sự quán tại VN (nếu phỏng vấn không đậu thì không hoàn trả)
- Dịch vụ làm hồ sơ (chọn trường, liên lạc với trường và hướng dẫn làm thủ tục phỏng vấn, hồ sơ chứng minh tài chính ...) từ $1,500 - $2,000 (nếu mình tự làm thì không mất tiền).
- Chi phí cho du học: Nếu vào trường cộng đồng: Học phí từ $15,000 - Vào thẳng các đại học từ $30,000 đến $40,000/năm (tùy theo trường và tiểu bang).
- Ăn, ở, đi lại tự túc: Thuê nhà hoặc share phòng từ $350 đến $1,000 (rẻ như ở Dallas, đắt như San Francisco) một tháng. Một năm khoảng $4,000 - $12,000. Tiền ăn, tiền xe khoảng $150- $200/1 tháng. Một năm khoảng $1,800- $2,400.
- Ở ký túc xá: Ăn ở trong trường 1 năm từ $10,000 -$15.000.
Tiền di chuyển: ít đi lại khoảng $600-$1,000/ năm
- Bảo hiểm y tế: $1,000/năm
- Sách và tài liệu: $500 (tùy thuộc vào môn học).
- Chi phí về thăm nhà mỗi năm một: $1,500.
Tổng số chi phí cho 1 năm du học tại Mỹ từ: $45.000 - $60,000.

Một sinh viên từ Việt Nam muốn sang du học tại Mỹ thường phải lo từ các dịch vụ ở Mỹ, "bao trọn gói" khoảng $2,000. Dịch vụ sẽ tìm đại học ghi danh cho sinh viên cho đến khi họ được cấp mẫu I-20, nghĩa là chấp nhận cho sinh viên được ghi danh theo học tại một trường ở Mỹ, lúc đó Tòa Ðại Sứ Mỹ mới cho phép sinh viên được vào phỏng vấn. Cũng không phải ai được ghi danh tại một trường ở Mỹ đều giỏi Anh ngữ, bên cạnh nhân viên sứ quán Mỹ có thông dịch viên. Nhân viên phỏng vấn sẽ xem xét học bạ, giấy tờ công ăn việc làm, tài khoản ngân hàng, bất động sản của cha mẹ, ý hướng của du học sinh. Việc phỏng vấn du học sinh càng ngày càng gay go, nhưng cứ đóng lệ phí $200 là được vào phỏng vấn, nên có du học sinh kiên nhẫn đi phỏng vấn đến lần thứ 4 mới đậu, nhưng cũng có du học sinh cảm thấy khó khăn nên chuyển sang các nước khác.

Dư luận vẫn thường cho rằng sinh viên Việt Nam được du học sang Mỹ đều là "con ông cháu cha" hay "con cái cán bộ cao cấp," nhưng theo kỹ sư Nguyễn Hoan, một công dân Mỹ ở Dallas Ft Worth có những khế ước làm việc tại Việt Nam và là người gần gũi với các du học sinh ở địa phương thì cho rằng cũng có 30% là thuộc gia cảnh trung bình đã tạo đầy đủ chứng từ nhà đất, tài khoản hay học bạ vì muốn sở hữu mọi thứ giấy tờ ở Việt Nam không phải là chuyện khó. Một viên chức chỉ có số lương $500 mỗi tháng, có thể làm những hợp đồng (ma) với những công ty quen biết, để có thể có đủ con số lợi tức cho con du học.

Du học ở đâu?

Một sinh viên tên Thảo ở Saigon, sau khi được cấp visa du học vào Mỹ đã cho biết cô đã phấn đấu để được du học Mỹ vì Mỹ có hệ thống giáo dục tân tiến, bằng cấp được cả thế giới công nhận, đại học Mỹ có các hoạt động văn hóa thể thao, và có những con người năng động giúp cho cô có kinh nghiệm sống, và giúp tìm hiểu nhiều nền văn hóa khác nhau của một quốc gia đa văn hóa như tại Mỹ. Nhiều gia đình cũng tính toán vào giá trị của đồng ngoại tệ, du học ở Anh Quốc, Thụy Sĩ thì tiền quá cao, rẻ thì chọn New Zealand, Phần Lan hay chọn "gần nhà" như Úc, Singapore. Cách đây hai năm, du học ở Úc rẻ như Mỹ nhưng bây giờ du học ở Úc lại tốn kém hơn, nên có sinh viên sau hai năm ở Úc lại đổi sang quốc gia khác.

Nhiều người cho rằng Mỹ cấp visa du học căn cứ vào khả năng tài chánh của gia đình ứng viên du học, nhưng sự thật có nhiều con em của các "đại gia" giàu có nổi tiếng ở Saigon khi vào phỏng vấn vẫn bị rớt. Năm ngoái một tờ báo ở Saigon đã nêu vấn đề thắc mắc về nguyên tắc để được cấp visa du học, đã được Lãnh Sự Quán Mỹ tại Saigon trả lời là vấn đề này do các viên chức phỏng vấn sứ quán có toàn quyền quyết định mà không cần giải thích hay cứu xét khiếu nại.

Về hay ở lại?

Ở Việt Nam hiện nay du học nằm trong cơn sốt xuất ngoại, cũng như việc lấy chồng ngoại quốc, hay xuất khẩu lao động. Lấy chồng Ðài Loan hay đi làm công nhân là đường ngắn, những gia đình có học vấn nghĩ con đường xa, đầu tư cho tương lai gia đình bằng cách tạo cơ hội cho con ra ngoại quốc du học, nên dù phải bán xới của cải, vay mượn để có tiền lo cho con. Trên lý thuyết cho con đi du học là để kiếm bằng cấp và tương lai cho con, nhưng sự thật thì cha mẹ nào cũng muốn cho con có cơ hội ở lại ngoại quốc (có việc làm hay kết hôn) dù là Mỹ, Canada hay Úc, để lập một "đầu cầu" sau này cho toàn bộ gia đình rời bỏ Việt Nam. Hầu như tất cả du học sinh đi làm trong các tiệm ăn ở Dallas Ft Worth mà tôi được gặp, cố đặt câu hỏi "về hay ở lại" với các em, đều được trả lời với một cái nhún vai hay một nụ cười rộng mở. Các em cho biết có du học sinh sang đây chưa đầy hai năm đã có cơ hội kết hôn rồi. Sinh viên Ðào Nhật, quê ở Hải Phòng, mới sang Mỹ chưa đầy năm, thì dè dặt hơn, cho biết một cách thành thật: "ngày ấy nếu không có ai níu kéo thì về," và "nếu kiếm được việc làm ở Mỹ thì cũng tốt thôi!" Ðó là đối với các sinh viên không có cha mẹ là cán bộ cao cấp trong chính phủ, không có cơ sở làm ăn của gia đình hay không là "đại gia." Trong mười năm, ít nhất là một vài lần, tôi được những người quen có con cháu du học, nửa đùa nửa thật nói rằng: "Cháu nó qua du học, bác có đám nào thì giới thiệu cho cháu đi!"

Nhiều sinh viên khá giả du học trở về để quản lý các dịch vụ hay tài sản của gia đình. Báo chí kể về cô Bùi Khánh Trang 23 tuổi, được gia đình cho du học Anh Quốc về ngành quản lý kinh tế, về nước năm 2010, hiện nay quản lý một nhà hàng ăn ở Saigon với số vốn lên đến 400,000 đô la, số nhân viên lên đến 80 người, doanh thu mỗi ngày lên đến 2,000 đô la. Hay như con trai ông Nguyễn Tấn Dũng, tiến sĩ công chánh, du học xong chắc chắn phải về nước, đã sẵn có thế lực để "củng cố đời con," bây giờ đã có chức thứ trưởng. Những trường hợp như vậy thì đâu cần ở lại ngoại quốc.

Huy Phương

(Kỳ sau: Buồn vui của một du học sinh Việt Nam trên đất Mỹ)

26 December 2011

Quản lý Văn hóa, Văn nghệ: Xơ cứng và Tụt hậu



Quản lý Văn hóa, Văn nghệ: Xơ cứng và Tụt hậu

Ngô Minh

Là một nhà báo, một công dân tôi đã đọc kỹ phần nói về văn hóa văn nghệ trong các Nghi quyết của Đại hội ĐCS VN. Đảng nêu khẩu hiệu :" Phát triển văn hóa để thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội", hay :"xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Điều đáng buồn là tất cả những vấn đề nêu trên đã được nêu trong nhiều nghị quyết Đại hội Đảng nhiều khóa trước, nhưng không thực hiện , nên tình trạng quản lý văn hóa ngày càng tụt hậu so với cuộc sống xã hội đang đổi mới hàng ngày.

25 năm đổi mới vừa qua, tuy đến nay nước ta vẫn là nước chậm phát triển , vẫn xếp hàng ở nhóm cuối trong ASEAN về kinh tế. Đặc biệt, trong lĩnh vực "văn hóa,văn nghệ" thì phương thức quản lý vẫn không khác gì thời chiến tranh hay thời bao cấp. Nghĩa là giáo điều, nặng về "cấm đoán"," "canh gác", tuyên truyền một chiều , mà thiếu sự đối thoại cởi mở, tạo ra môi trường dân chủ, tự do để kích thích sáng tạo.

Chỉ hơn chục năm qua, đã có hàng chục cuốn sách bị thu hồi, bị "xay bột" mà không được giải thích nguyên nhân . Nhiều bộ phim" có vấn đề" bị duyệt đi duyệt lại hàng chục lần, theo " Hồi ký điện ảnh" của Đặng Nhật Minh thì cả Tổng bí thư Đảng cũng phải đi duyệt phim !. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Tạp chí Sông Hương đã dịch và in tiểu thuyết Trăm năm cô đơncủa nhà văn Mác-ket, vừa in xong là bị cấm,bị xay bột. Tác phẩm được giải nô-bel của một người cộng sản cũng bị xay bột, thật kỳ cục ! Đọc lại những cuốn sách bị "cấm", bị " chặn" ( ví dụ Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, Vào đời của Hà Minh Tuân, Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn, Ly thân của Trần Mạnh Hảo… hoặc có những cuốn chỉ vừa mới in xong đã bị thu hồi, cấm không được phát hành nhưChuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Kornai János, bản dịch của Nguyễn Quang A, thơ Chân dung của Xuân Sách,Chuyện Làng Ngày Ấy của nhà văn Võ Văn Trực.…

Trong nhiều trường hợp, có những cuốn sách tuy đã lọt lưới kiểm duyệt của các biên tập viên Nhà xuất bản nhưng lại bị "các cơ quan chức năng" trong lãnh vực văn hóa, tư tưởng kịp thời phát hiện nên có lệnh thu hồi và lắm khi người được lệnh ký quyết định thu hồi lại chính là kẻ đã ký cho nó ra mắt tức các ông Giám đốc của các Nhà xuất bản! ( theo nguyêntrongtao.org).Trong các tác phẩm ấy, tôi thấy chẳng có vấn đề gì phản quốc, phản dân tộc, phản nhân loại cả hay tuyên truyền văn hóa đồi trụy…cả. Đa số nêu lên mặt trái của sự thật trong cuộc chiến tranh, những ấu trĩ, những khiếm khuyết của lãnh đạo Đảng, chính quyền cấp này, cấp khác . Người viết nêu lên những sự thật đau lòng trong xã hội là giúp Đảng , nhà nước nhìn lại đội ngũ của mình , đó là việc tốt. Trong hình dung của các nhà văn, đội ngũ cán bộ tuyên huấn từ Trung ương đến địa phương càng ngày càng đông đảo, như những "ông Kẹ" suốt ngày đeo mục kỉnh, đọc dò từng trang sách, cột báo, để tìm ra những ý tứ, câu chữ nào "có vấn đề" để quy chụp là "nói xấu chế độ" , "chống Đảng" để "ngăn chặn ". Vì "sợ" tù đày, con cái gia đình bị đe dọa, rất nhiều nhà văn phải "tự biên tập mình" trước từng trang sách. Viết như thế làm sao mà có tác phẩm lớn được .

Hình như đội quân tư tưởng không chịu xem lại nhận thức của mình có bị xơ cứng không, có bị vô cảm trước thân phận nhân dân, thân phận đất nước, đang vô cùng khốn khó không ?

Các Hội văn nghệ trung ương , địa phương đang bị biến thành" cơ quan hành chính", nhà văn trở thành "cán bộ tuyên truyền". Tôi nghĩ, có nhiều vấn đề trong xây dựng CNXH chúng ta đang học tập kinh nghiệm Trung Quốc. Tại sao ta không học tập việc Trung Quốc cho in và trao giải thưởng tiểu thuyết " Phong nhũ phì đồn " ( ta dịch là "Báu vật của đời" ) của nhà văn Mạc Ngôn . Một tác phẩm mà nếu in ở Việt Nam ,thì chắc chắn tác giả của nó sẽ bị làm tình làm tội. Ở Trung Quốc các nhà văn viết rất thoải mái đủ mọi khía cạnh độc ác, tàn bạo của thời kỳ Đại Cách mạng văn hóa, nhưng ở nước ta viết về CCRĐ, Nhân văn giai phẩm .v.v.. lại bị cấm đoán, ngăn chặn ?. Ngay cả viết về những nét đẹp, nét hay của một số nhà văn "có vấn đề" trong Nhân văn giai phẩm, trong "thời kỳ xét lại" cũng bị ngăn chặn. Viết về những sai lầm , ấu trĩ của Đảng làm cho dân tin Đảng hơn, làm cho Đảng trong sạch hơn ( "thuốc đắng dã tật"), sao lại cho là chống đối. Che giấu, tâng bốc chỉ làm cho dân mất lòng tin . Nói thật lòng, 25 năm qua, việc " quản lý văn nghệ văn hóa" giáo điều, một chiều đã làm cho dân xa Đảng hơn, làm chậm , thậm chí cản trở rất lớn bước tiến của đất nước !

Việc quản lý văn hóa đang ngày càng lúng túng, bối rối trong thời @. Quan điểm cố hữu là : cái gì không quản được thì cấm, như internet, karaoke, vũ trường… Thế thì hội nhập làm sao ? Xây dựng cuộc sống văn hóa thì rất hình thức và gây lãng phí. Cuộc vận động "xây dựng làng xã và cơ quan văn hóa" là một ví dụ. Cả một cơ quan tỉnh ủy hay cơ quan Sở văn hóa một tỉnh mà mới được công nhận và cấp bằng "cơ quan văn hóa" cách đây vài năm, thì thật buồn cười. Chẳng lẽ trước đó họ không phải là cơ quan văn hóa hay sao ? Thế mà muốn có tấm bằng đó thì phải làm báo cáo, mời duyệt đi duyệt lại, phải "xin-cho", phong bì, liên hoan, rồi làm lễ đón bằng, tốn kém hàng chục triệu đồng. Cả nước có hàng chục triệu cơ quan, trường học, làng xã phải tốn tiền để có tấm bằng "Cơ quan văn hóa" như thế! Rồi đùng một cái, lãnh đạo cơ quan là người tham nhũng, cờ bạc, mại dâm, lãnh đạo làng văn hóa lại say rượu, chửi bới dân. Xây dựng làng văn hóa mà cho chặt hết những hàng rào dâm bụt, hàng rào chè tàu, bờ tre giếng nước, …để xây tường gạch quanh nhà như ở Tân Kỳ , Nghệ An là sự phản văn hóa nghiêm trọng.

Đó là văn nghệ, văn hóa, còn báo chí của hệ thống báo Đảng đã thực sự tách khỏi cuộc sống nhân dân hàng ngày từ nhiều năm nay. Tấtcả báo Đảng ở hầu hết địa phương trụ sở tòa ngang dãy dọc, xe con hai ba chiếc, mỗi năm tiêu tốn hàng mấy chục tỷ đồng tiền thuế của dân) nhưng lại làm ra thứ báo "không ai đọc", chỉ dùng để gói đồ, vì không phản ảnh những mối quan tâm của nhân dân . Thậm chí bảo vệ những bọn tiêu cực ở địa phương đã bị các báo Trung ương vạch mặt. Đảng lấy tiền thuế của dân nuôi 60 tờ báo mỗi năm hàng trăm tỷ đồng , rồi lại lấy hàng trăm tỷ tiền thuế của dân cho các chi bộ, cơ quan Đảng mua những tờ báo đó về để bao gói, chứ không phải để đọc, thật đau lòng. Còn hàng ngày người dân đọc báoThanh Niên, Tuổi Trẻ, Kinh tế Sài Gòn. An Ninh Thế giới, Tiền phong, đọc báo trên mạng internet, đọc các trang Web., blog cá nhân.v.v…Báo mạng blog từ vài năm nay đã trở thành thông tin chính thống của người dân.

Đảng CS phải nghiêm khắc kiểm điểm trong 25 năm vừa qua, trong lúc cả nước vắt mồ hôi, trí tuệ , tiết kiệm từng đồng vốn để đổi mới, làm tăng trưởng kinh tế đất nước, các báo Đảng lại là đội quân đang làm nghèo đất nước ! Đã có luật báo chí, mà không "quản" theo luật mà quản theo mệnh lệnh của lãnh đạo: " Phải viết thế này…không được in những bài như thế…" thì thật khó cho Tổng biên tập các báo. Báo chí là một nghề có thể tự nuôi sống mình bằng sản phẩm .Ở nước ta có hàng chục tờ báo giàu có, nhưng vẫn làm tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng, được nhân dân đón đọc, tại sao các báo khác lại sống bằng tiền thuế của người dân nghèo ? Thật không công bằng .Và đó cũng là nguyên nhân làm cho người đọc quay lưng lại với báo Đảng . Theo chúng tôi, báo chí phải phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, nhưng phải vay vốn mà làm báo ( trừ một số tờ báo được bao cấp nhưTạp chí Hán Nôm… vì cần phục hồi vốn cổ). Những tờ báo nào không tự nuôi sống được mình bằng tiền bán báo thì nên dẹp bỏ, vì nhà báo cũng là người lao động không thể sống trên mồ hôi nước mắt của người lao động khác ( năm 2004, Trung Quốc đã đóng cửa trên 700 tờ báo vô tích sự).

Quản lý văn hóa, văn nghệ báo chí theo cách hiện nay là rất cũ kỹ, lỗi thời.. Đáng tiếc, Nghị quyết Đảng nêu " Đổi mới nội dung và phương pháp quản lý của Nhà nước về văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định, phù hợp, đáp ứng nhu cầu mới của sự nghiệp phát triển văn hóa của thời kỳ công nghiệp hóa… Nhưng không ai làm cả, vì tất cả bộ máy đã trở nên vô cảm và cũ kỹ, không theo kịp thời đại.

Ngô Minh


Cựu đại sứ Việt Nam Lê Văn Bàng thú nhận

Cựu đại sứ Việt Nam Lê Văn Bàng thú nhận
 
HÀ NỘI (NV) - Nhất định buộc Mỹ phải bồi thường chiến tranh rồi mới chịu thiết lập bang giao. Mỹ không chịu. Tới khi muốn quá, nài nỉ xin được bang giao vô điều kiện thì bị lờ đi vì nước Mỹ có những tính toán khác.
 
Cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn Lê Văn Bàng. (Hình: Tuần Việt Nam )
 
Ðây là những điều được ông Lê Văn Bàng, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn sau lên làm thứ trưởng Ngoại Giao, nghỉ hưu năm 2010, kể lại qua cuộc phỏng vấn của ký giả Huỳnh Phan trên báo điện tử Tuần Việt Nam.

Lỡ quá nhiều dịp vì các tính toán sai lầm của đám lãnh tụ Hà Nội cộng với hoàn cảnh của một nước nhỏ trên bàn cờ quốc tế, bởi vậy, đàm phán từ sau khi chiến tranh chấm dứt, mãi 20 năm sau Việt Nam mới thiết lập được bang giao với Mỹ.

Cuộc phỏng vấn ông Bàng được Tuần Việt Nam phổ biến trong hai ngày 6 và 7 tháng 12, 2011. Ông là một nhà ngoại giao có cơ hội tham dự từ đầu các cuộc đàm phán cho tới khi trở thành đại sứ đầu tiên của Việt Nam ở Hoa Thịnh Ðốn.

Bắt đầu đàm phán bang giao từ năm 1977 dưới thời Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter, Lê Duẩn là tổng bí thư đảng CSVN, ông Lê Văn Bàng nhìn nhận việc Việt Nam nhất định đòi Mỹ $3.25 tỉ USD viện trợ không hoàn lại trong 5 năm và khoảng $1 tỉ USD đến $1.5 tỉ USD viện trợ lương thực và hàng hóa "không ngờ đó lại là chỗ nghẽn trong đàm phán bình thường hóa giữa Việt Nam và Mỹ."

Phía Hà Nội "kiên quyết đòi" khi viện dẫn điều 21 của bản Hiệp Ðịnh Paris và cả công hàm Tổng Thống Nixon gửi cho Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng năm 1973 đề cập đến viện trợ. Nhưng không ngờ lại bị ông Nixon "gài" ngược bằng lời rào đón trong công hàm là viện trợ "theo những quy định của hiến pháp" của mình.

Tổng Thống J. Carter thuộc đảng Dân Chủ nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ, muốn thiết lập bang giao với Việt Nam nhưng "ông ta vấp phải một thách thức rất lớn từ phái Cộng Hòa trong Quốc Hội," ông Bàng nói.

"Từ đầu tháng 5, 1977, khi Mỹ và Việt Nam bắt đầu đàm phán bình thường hóa ở Paris , Hạ Viện Mỹ đã bỏ phiếu cấm bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam ," ông nói.

Sau đó, tình hình khu vực biến chuyển nhanh chóng và dồn dập.

"...nhất là sự căng thẳng với Trung Cộng, với việc cắt viện trợ và rút chuyên gia về nước, và Campuchia, khi chính quyền Khmer Ðỏ đã có các cuộc xâm phạm biên giới phía Tây Nam, lên tiếng đòi xem lại vấn đề phân định lãnh thổ giữa hai nước, cũng như cắt đứt quan hệ ngoại giao", ông nói. Cũng thời gian này, Việt Nam quyết định bám vào Nga hoàn toàn "chuẩn bị ký hiệp ước liên minh với Nga, cho phép hải quân của họ sử dụng Cam Ranh. Ðổi lại Nga tăng viện trợ cho Việt Nam ." Ông nói Việt Nam chuyển hướng chiến lược nên nhu cầu đòi tái thiết từ viện trợ Mỹ "không còn quan trọng như trước nữa."

Trước sức ép quá nóng từ phương Bắc, Hà Nội cử một phái đoàn đi Hoa Thịnh Ðốn vì "nếu không có luồng gió ôn hòa từ phía Tây thì căng lắm."
Ông Nguyễn Cơ Thạch, lúc này là thứ trưởng Ngoại Giao, được cử đi "sang đàm phán kín với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Holbrooke, chấp nhận bình thường hóa vô điều kiện."

Tuy nhiên, đạt được thỏa thuận với ông Holbrooke rồi, "ông Thạch chờ suốt mà không có câu trả lời từ Bộ Ngoại Giao Mỹ." Ông Bàng kể lại rằng: "Sự nhượng bộ của Việt Nam đã quá muộn, bởi, trong thời gian đó, đã có những biến chuyển mạnh mẽ của tình hình thế giới, và Mỹ không thể ứng xử như cũ. Bình thường hóa liên lạc với Trung Cộng lúc đó là ưu tiên hàng đầu của Mỹ."

Ông Bàng xác nhận phía Việt Nam quá thèm bang giao với Mỹ đến độ cử vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ thời đó là Trần Quang Cơ sang New York từ tháng 9, 1978 và "cố chờ" câu trả lời nên ở đó đợi đến tháng 1, 1979 (gần tới lúc Việt Nam bị Trung Cộng đánh dọc 6 tỉnh biên giới), hy vọng Mỹ thỏa thuận xong với Trung Cộng thì sẽ tính tới chuyện bang giao với Việt Nam nhưng vẫn không thấy gì.

Ông Bàng cho biết phía Việt Nam đã chuẩn bị người để mở đại sứ quán "đâu vào đấy" để mở sứ quán ngay sau khi ký kết bình thường hóa.
Theo ông Bàng, Mỹ tập trung vào "con bài" Trung Cộng, "dựa trên cơ sở sự bất đồng sâu sắc giữa Nga và Trung Cộng, nhằm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới giữa Mỹ và Nga." Bởi vậy, "đến thời điểm lãnh đạo Việt Nam thực sự mong muốn bình thường hóa ngay với Mỹ, phía Mỹ lại chưa muốn. Bởi, như vậy, họ khó thúc đẩy bình thường hóa và cải thiện quan hệ với Trung Cộng được."

Ông Bàng cho rằng, trong nỗ lực thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ, "Việt Nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị 'dập' bất cứ lúc nào."

Rồi đến cuối năm 1978 Việt Nam tấn công chiếm đóng Campuchia, thì "mọi mối tiếp xúc (đàm phán bang giao) hầu như bị cắt đứt," ông nói.

Nước Mỹ tức giận nên "ngay cả vấn đề MIA/POW, một trong những lời hứa của ông Jimmy Carter với hiệp hội những gia đình có người Mỹ mất tích trong chiến tranh khi tranh cử, Mỹ cũng chẳng quan tâm nữa."

Mãi tới khi kiệt quệ kinh tế, năm 1985 lạm phát lên tới 430% (theo tài liệu Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), chế độ Hà Nội thấy không còn con đường nào khác ngoài việc "đổi mới" kinh tế để tự cứu mình khỏi thế bị bao vây, cô lập," Mỹ mới có ý đối thoại trở lại.

Năm 1986, lạm phát Việt Nam là 453.5%, cuối năm, hai Nghị Sĩ Gary Hart và Richard Lugar đến Hà Nội, gặp ông Nguyễn Cơ Thạch.

"Hai điều kiện họ đưa ra để nối lại đàm phán bình thường hóa là giải quyết vấn đề POW/MIA và Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia." Ông Bàng kể. Việt Nam vội vàng đồng ý nhưng "cho dù Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân vào tháng 9, 1989, đến tận năm 1991, phía Mỹ vẫn chưa tin.

Họ bảo rằng biết đâu Việt Nam rút ở đầu này, nhưng lại vào Campuchia ở đầu khác."

Nhiều nghị sĩ Mỹ cũng không tin phía Việt Nam thành thật trong việc hợp tác tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA). Thậm chí phải đưa một phái đoàn Mỹ tới một nhà tù ở Thanh Hóa bị nghi là còn giữ tù binh Mỹ để kiểm soát.

Tới thời TT Clinton, khi Mỹ đồng ý bỏ cấm vận Việt Nam năm 1993, lại "rộ lên chuyện tài liệu Nga." Thời gian này, vì có tin tung ra từ Nga là tù binh Mỹ được CSVN gửi sang Nga, lại còn được đại tá tình báo Nga Kalugin xác nhận. Hà Nội phải giải thích, chứng minh vất vả mãi đến năm 1994, Mỹ bỏ cấm vận hoàn toàn thì năm sau mới thiết lập được bang giao.

Bây giờ, sau những bước đi chậm chạm, Việt Nam đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ vẫn chưa gỡ bỏ cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam.

Khi gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh bên lề cuộc họp Liên Hiệp Quốc ngày 26 tháng 9, 2011, bà ngoại trưởng Mỹ vẫn đòi hỏi Hà Nội phải cải thiện nhân quyền để hai nước có thể tiến xa hơn nữa trong mối bang giao nhiều mặt. (TN)
 
Theo NguoiVietOnline

Diễn biến và tự diễn biến hòa bình



Diễn biến và tự diễn biến hòa bình

Trần Trung Đạo

Tháng 4/1994, trước làn sóng cách mạng dân chủ diễn ra tại Đông Âu, "diễn biến hòa bình" vốn là một đe dọa, đã được Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đưa lên hàng nguy cơ, và là một trong bốn nguy cơ hàng đầu trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ. Từ đó đến nay, đại hội X sang đại hội XI cũng như trong các văn kiện đảng, tập huấn, hội nghị, sách vở của nhà xuất bản chính trị quốc gia nhiều lần nhắc nhở đến nguy cơ này.

Theo Từ điển Bách khoa xuất bản tại Việt Nam 2005, diễn biến hòa bình được định nghĩa: "Diễn biến hòa bình chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược Diễn biến hòa bình là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản là phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa về các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v… Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ..."

Diễn biến hòa bình không phải là một chủ thuyết độc lập nhưng là một bộ phận của hai học thuyết đối ngoại thịnh hành của Mỹ sau thế chiến thứ hai là ngăn chận (containment) và đẫy lùi (rollback).

Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan, nhân viên ngoại giao làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Liên Xô, gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua hình thức một điện tín dài 5.500 chữ, trong đó ông trình bày một cách chi tiết quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Xô sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận làn sóng Cộng sản. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).

Lý thuyết đẩy lùi (rollback) các ảnh hưởng của khối Cộng sản tại những nơi bị Cộng sản chiếm được phác họa trước hết nhắm đến các quốc gia Cộng sản chư hầu của Liên Xô tại Đông Âu. Người cổ võ mạnh mẽ nhất cho lý thuyết này là cố Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles .Trong lúc lý thuyết ngăn chặn nặng về phòng thủ, lý thuyết đẩy lùi nghiêng về phía phản công. Hai lý thuyết này chế ngự chính sách đối ngoại của Mỹ trong và cả sau chiến tranh lạnh, tùy thuộc hoàn cảnh chính trị tại mỗi quốc gia mà một hay cả hai chính sách được áp dụng.

Người đầu tiên gợi ý về diễn biến hòa bình là George Kennan và được ngoại trưởng Dean Acheson dưới thời tổng thống Harry Truman ủng hộ. Tuy nhiên người giải thích rõ quan điểm này cũng là John Foster Dulles. Trong một điều trần tại Quốc hội Mỹ 15 tháng Giêng 1953, Ngoại trưởng Dulles phát biểu: "Chúng ta phải luôn ghi nhớ đến việc giải phóng các dân tộc bị nô lệ. Tuy nhiên, giải phóng đây không có nghĩa là phát động chiến tranh giải phóng, có nhiều phương tiện khác hơn chiến tranh có thể được dùng để giải phóng".

John Foster Dulles (1888-1959) giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower từ 1953 đến 1959. Ông là một chính khách có lập trường chống Cộng sản cương quyết, biện hộ cho chủ trương cứng rắn trong việc đối đầu với phong trào Cộng sản Quốc tế, nhất là với Trung Quốc và Liên Xô. Tại hội nghị Geneva 1954, được biết là ông đã từ chối bắt tay Ngoại trưởng Trung Cộng Chu Ân Lai. Với tư cách Ngoại trưởng, Dulles dành nhiều thời gian để xây dựng khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm chặn đứng sự bành trướng của Xô Viết sang Tây Âu. Tại viễn đông, Dulles vận động thành lập Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO). Dulles cũng đưa ra hai chủ trương được gọi là "bên miệng hố chiến tranh" (brinkmanship) và trả thù ồ ạt (massive retaliation) để đặt các quốc gia Cộng sản tiêu hao tài nguyên nhân lực trong tình trạng thường trực chuẩn bị cho chiến tranh. Với Trung Quốc, Ngoại trưởng John Foster Dulles có thái độ chống đối ra mặt và có lần đã gọi chế độ Cộng sản tại Trung Quốc là "hiện tượng xấu". Trong một diễn văn vào tháng Sáu 1957, ông còn nhấn mạnh "hiện tượng đó phải biến mất đi". Ngày 11 tháng 8/1958, trong một thông cáo báo chí, Bộ Ngoại giao Mỹ dưới quyền John Foster Dulles xác định "Chủ nghĩa Cộng sản tại Trung Quốc không phải là vĩnh cửu và một ngày nào đó chế độ đó sẽ sụp đổ". Ngày 24 tháng Mười 1958, trong một phỏng vấn dành cho đài BBC, Ngoại trưởng Dulles tiên đoán "Chủ nghĩa Cộng sản sẽ nhường bước cho một hệ thống mới quan tâm đến an sinh của quốc gia và con người", "Cộng sản Trung Quốc và Cộng sản Nga không phục vụ lợi ích của con người" và "thứ Cộng sản đó sẽ thay đổi".

Mao Trạch Đông, được biết là người đầu tiên diễn dịch quan điểm của Ngoại trưởng Dulles thành "diễn biến hòa bình". Trước tình hình nội bộ đảng không bao giờ đoàn kết và quan hệ xấu dần theo giữa Trung Quốc với Liên Xô, "diễn biến hòa bình" trở thành mối bận tâm hàng đầu của Mao Trạch Đông. Theo hồi ký của Bạc Nhất Bá (薄一波), một trong Bát Bất Tử của đảng Cộng Sản Trung Hoa, nguyên Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Chủ tịch Ủy Ban Kinh Tế Nhà Nước, Mao tin rằng chính sách "diển tiến hòa bình" của Dulles đã bắt đầu có hiệu quả tại Liên bang Xô Viết qua việc Khrushchev chủ trương "sống chung hòa bình" với khối tư bản.

Các báo Hồng Kỳ và Nhân Dân đăng hàng loạt các bài bình luận tố cáo Khrushchev phản bội lý tưởng Cộng sản. Mao Trạch Đông tìm mọi cách để ngăn chận tình trạng mà ông ta kết án là Chủ nghĩa xét lại xảy ra tại Trung Quốc. Mao đọc các bài điều trần và diễn văn của Ngoại Trưởng Dulles từng chữ một. Việc Thống chế Bành Đức Hoài phê bình chính sách "Ba ngọn cờ đỏ" tại Hội Nghị Lư San càng làm cho Mao nghi ngờ thêm rằng các mầm mống của diển biến hòa bình đang phát sinh ngay trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc. Cũng theo Bạc Nhất Bá , tháng 11 1959, Mao triệu tập một phiên họp Bộ Chính trị thu hẹp để thảo luận về tình hình quốc tế. Trong dịp này Mao ra lịnh thư ký in và phân phối cho các thành viên tham dự phiên họp ba diễn văn quan trọng của Ngoại trưởng Dulles. Ba diễn văn đó gồm Chính sách đối với Viễn đông (Policy for the Far East) đọc tại Phòng Thương Mại California ngày 4 tháng 12, 1958, Bản điều trần trước Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 28 tháng Giêng 1958, và bài thuyết trình Vai trò của Luật pháp trong Thời bình" (The Role of Law in Peace) trình bày trước Hội Luật Sư New York ngày 31 tháng Giêng 1959.

Trong bài viết Đế quốc Mỹ, kẻ thù hung bạo nhất của loài người vào ngày 12 tháng Giêng 1964, Mao nhấn mạnh đến sự phát triển của diễn biến hòa bình tại Liên Xô: "Chính sách xâm lược và chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đe dọa một cách trầm trọng đến Liên bang Xô Viết, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Hơn nữa, nó đang mãnh liệt tìm cách đẩy mạnh chính sách "diễn biến hòa bình" tại các nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích tái lập chủ nghĩa tư bản và làm tan rã phe xã hội chủ nghĩa". Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1967, Mao tập trung toàn bộ nỗ lực vào việc chống chủ nghĩa xét lại Xô Viết và thanh trừng các phần tử y cho là xét lại trong đảng Cộng sản Trung Hoa, đứng đầu là Thống Chế Bành Đức Hoài. Nhiều nhà phân tích cho rằng " diễn biến hòa bình" đã đẩy Mao vào các hoạt động thanh trừng nội bộ đẫm máu trong thời gian đó, tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng Mao đã lợi dụng lý do chống diễn biến hòa bình để loại bỏ các phần tử chống y trong bộ chính trị.

Tuy nhiên, áp bức và đấu tranh là hai mặt biện chứng trong quy luật phát triển của xã hội con người. Một chủ nghĩa đi ngược tại đà tiến của văn minh, chà đạp lên giá trị con người chủ nghĩa đó phải sụp đổ. Đúng như John Foster Dulles nhận xét, sau khi các thế hệ cộng sản đam mê làm cách mạng sắt máu ra đi, các thế hệ chuyển tiếp và thứ ba, thứ tư đối diện với gia tài băng hoại về mọi mặt buộc họ hoặc phải thay đổi để duy trì quyền lãnh đạo hay phải chịu sụp đổ không tránh khỏi trước sức phản kháng của nhân dân. Nhiệt tình cách mạng xã hội chủ nghĩa và niềm tin vào một xã hội không giai cấp, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu là những chiếc bong bóng nước sau cơn mưa thời đại. Tuy mức độ nhanh chậm khác nhau, những cải tổ thuận theo hướng phát triển chung của nhân loại đã đồng loạt xảy ra. Nói như nhà bình luận chính trị Á Châu Frank Chinh, lãnh đạo các nước Cộng sản chọn "diễn biến hòa bình theo cách riêng của họ".

Giống như Mao, Đặng Tiểu Bình lo ngại về "diễn biến hòa bình" nhưng khác Mao, y biết diễn biến là điều không tránh khỏi. Tháng 11/1989, họ Đặng nhận xét về viễn ảnh này: "Các nước Tây phương đang phát động một thế chiến thứ ba không khói súng. Họ muốn tạo ra một diễn biến hòa bình để đưa các nước xã hội chủ nghĩa sang tư bản chủ nghĩa". "Đồng chí Giang Trạch Dân và cấp lãnh đạo trong chính phủ của ông, có thể được xem như thuộc thế hệ thứ ba, và sẽ có thế hệ thứ tư, thứ năm. Khi nào thế hệ già như chúng tôi còn sống, sẽ không có thay đổi. Nhưng khi chúng tôi chết hết, ai bảo đảm là sẽ không có diễn biến hòa bình?". Mặc dù vẫn tiếp tục chống "diễn biến hòa bình", các chính sách kinh tế, chính trị của Đặng Tiểu Bình và sau đó được Giang Trạch Dân kế tục qua chính sách Ba Đại Diện đã góp phần đẩy mạnh tự diễn biến hòa bình bởi vì như Đặng Tiểu Bình nói "Con người không thể ăn chủ nghĩa xã hội".

Tại Xô Viết, sau khi Leonid Brezhnev chết ngày 10 tháng 11/982, Yuri Andropov nắm chức Tổng bí thư nhưng chỉ chưa được hai năm cũng chết vì bịnh suy thận giao quyền lại cho Konstantin Chernenko. Lúc đó Konstantin Chernenko đã 71 tuổi và cũng đang bịnh hoạn. Ngày 10 tháng 3/1985, viên tổng bí thư cực đoan bảo thủ này theo gót Leonid Brezhnev và Yuri Andropov về với Mác. Với sự ủng hộ của Andrey Gromyko, Bộ trưởng Ngoại giao lâu đời nhất trong lịch sử Xô Viết, Mikhail Sergeyevich Gorbachev lên nắm quyền không bị sự cản trở lớn nào. Trong lúc hầu hết các tổng bí thư trước đó sinh ra trước Cách Mạng Cộng sản 1917, Gorbachev sinh ra trong thời Cộng Sản, không mang trong người một dòng lý lịch vào tù ra khám nào và chỉ gia nhập đảng Cộng sản trong thời gian theo học Luật tại Đại Học Moscow. Ở tuổi 54, Gorbachev là ủy viên Bộ Chính trị trẻ tuổi nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng Giêng 1987, các cải tổ kinh tế (Perestroika) và cởi mở văn hóa chính trị (glasnost) tại Xô Viết bắt đầu. Ngày 26 tháng 11/1991, hệ thống Cộng sản Liên Xô chính thức sụp đổ.

Tại Việt Nam, mặc dầu các ý kiến về Đổi Mới Kinh Tế manh nha từ 1983, các chính sách đổi mới kinh tế mới thật sự bắt đầu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam 1986. Tại đại hội này, giới lãnh đạo đảng nhìn nhận các sai lầm kinh tế đã dẫn đến những khủng hoảng trầm trọng và cam kết từng bước thực hiện chính sách đổi mới nhằm theo đuổi "công nghiệp hóa-hiện đại hóa". Mặc dầu chủ trương đổi mới nhưng thành phần Bộ Chính Trị được bầu ra trong đại hội VI đa số là những người rất cũ và rất bảo thủ như Phạm Hùng, Võ Chí Công, Đỗ Mười, Đồng Sỹ Nguyên, Mai Chí Thọ, v.v…Trong số 13 ủy viên Bộ Chính Trị, chỉ có Trần Xuân Bách chủ trương đổi mới theo mô hình Gorbachev trong đó đổi mới kinh tế phải tiến hành song song với đổi mới chính trị.

Trần Xuân Bách thận thức được sự vận hành của lịch sử. Ông hiểu rằng bài ca chiến thắng buổi sáng 30 tháng Tư/1975 đang trở thành bài ai điếu. Dân tộc Việt Nam đã chịu đựng quá nhiều, hy sinh xương máu quá nhiều. Đổi mới xã hội toàn diện sớm chừng nào tốt cho các thế hệ Việt Nam mai sau chừng đó. Nhưng giữa một đám bảo thủ chỉ biết bám vào chiếc bè quyền lực, quan điểm của Trần Xuân Bách trở nên lạc lõng. Giáo Sư Carl Thayer phát biểu với BBC sau ngày ông Trần Xuân Bách qua đời: "Cuối cùng Việt Nam đi theo con đường của Trung Quốc, nhấn mạnh đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế là lý do người dân cần phải theo đảng. Cải tổ chính trị, theo tôi, thì vô cùng chậm chạp. Và kể từ khi ông Trần Xuân Bách bị sa thải, Việt Nam cũng chẳng đẩy mạnh cải cách chính trị gì cả, và thậm chí số người bất đồng chính kiến có vẻ tăng lên, số vụ hà hiếp họ cũng tăng lên. Do vậy Việt Nam vẫn còn đi sau trong lĩnh vực cải tổ chính trị, và Đảng muốn kiểm soát chặt chẽ tiến trình này."

Trần Xuân Bách chia sẻ quan điểm với Leonid Abalkinm, cố vấn kinh tế của Gorbachev: "Đổi mới sâu sắc trong quản trị kinh tế không thể thành thực tế nếu không có những thay đổi tương ứng với đổi mới trong chính trị".

Trong bài phát biểu cuối năm 1989 trước khi bức tường Berlin đã sụp đổ, Trần Xuân Bách nói về dân chủ: "Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại. Từ hai vấn đề đó, xẩy ra một vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân."

Cũng vì "tấp tểnh đi một chân" mà sau 25 năm đổi mới, Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo và phát triển chậm so với hầu hết các quốc gia trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, đừng nói chi là Singapore, Hàn Quốc. Nhìn lại đất nước trong từng lãnh vực, không có thành tựu nào đáng hãnh diện với thế giới. Những gì được gọi là thành quả thật quá nhỏ nhoi so với sự chịu đựng của dân tộc. Trong thống kê 2010 của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International), Việt Nam bị xếp vào hàng 116 trong tổng số 178 nước được thăm dò với chỉ số điểm vỏn vẹn 2.7 trên 10, cùng hạng với Ethiopia, Tanzania, Guyana.

Ngoài một xã hội bị tham nhũng đục khoét bên trong, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng trước nhiều đe doa, cô lập và lợi dụng từ bên ngoài. Mâu thuẫn giữa các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng biển Đông ngày càng gay gắt và không sớm thì muộn cũng sẽ dẫn đến chiến tranh trong khu vực. Và nếu đúng như vậy, giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam sẽ làm gì để bảo vệ được chủ quyền đất nước hay lại một lần nữa ném dân tộc vốn đã quá lầm than vào lò thiêu của tham vọng ngoại bang?

Từ Neville Chamberlain đến Richard Nixon, từ Franklin Roosevelt đến Herbert W. Bush, lịch sử nhân loại để lại vô số bài học về tham vọng đế quốc và số phận bất hạnh của các quốc gia nhược tiểu. Vì quyền lợi của đất nước, các cường quốc sẵn sàng bỏ rơi hay bán đứng đồng minh như Anh đã làm với Tiệp Khắc tại Munich 1938, Anh và Mỹ đã làm với Ba Lan tại Yalta 1944, Mỹ đã làm với Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị Paris 1973, hoặc phó mặc sinh mạng của những người đứng lên vì khát vọng tự do dân chủ làm mồi cho đoàn kên kên Xô Viết như trường hợp Hungary 1956, Tiệp Khắc 1968.

Tháng 4, 2006, Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN Nguyễn Dy Niên, trong cuộc phỏng vấn dành cho báo chí trong nước đã phát biểu về diễn biến hòa bình: "Trong các văn kiện của Đảng chúng tôi cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều học giả VN và nhà báo cũng đã nói đến diễn biến hòa bình. Đây không phải suy diễn mà là hiện tượng thực tế mà VN nhìn nhận. VN đang cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân để người dân thực sự dân chủ. Tôi nghĩ là 4 nguy cơ VN đề ra, mà đẩy lùi được thì sẽ tăng được sự phát triển, nâng cao được Tòa Soạn. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy lùi tham nhũng thành công, theo tôi, sẽ là biện pháp ngăn chặn diễn biến hòa bình". Khi được hỏi tiếp, ai là kiến trúc sư của "Diễn biến hòa bình", Nguyễn Duy Niên thoái thác: "Có lẽ chúng ta không nên nói ai là kiến trúc sư mà chỉ nói những vấn đề mà VN phải xử lý. Đó là thách thức phải đối mặt và xử lý thế nào để vẫn giữ được bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của chế độ…".

Câu trả lời của Nguyễn Dy Niên cho thấy, giới lãnh đạo Cộng sản Đảng Cộng sản thừa nhận có diễn biến hòa bình và đang chiến đấu trong tuyệt vọng để ngăn chận tiến trình này bằng các chính sách tự diễn biến nhằm "xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy lùi tham nhũng". Thế nhưng, tình trạng tham nhũng chỉ là hiện tượng chứ không phải là bản chất của xã hôi. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng và ngày nào các cơ chế tạo điều kiện cho tham nhũng hình thành và phát triển còn tồn tại, tham nhũng sẽ không bị xóa bỏ tận gốc.

Một mặt đảng tiếp tục nhồi sọ sinh viên học sinh những mớ lý thuyết Mác Lê lạc hậu lỗi thời nhưng mặt khác tự diễn biến hòa bình để kéo dài sự sống. Trong dịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh 2010, Lê Hùng Nghĩa, trong phát biểu tại Học Viện Ngoại Giao, nhắc lại ngay từ năm 1946, trong đơn thỉnh nguyện Liên Hiệp Quốc ủng hộ Việt Nam vừa độc lập, ông Hồ đã viết "Việt Nam thu xếp các điều kiện ưu đãi đối với các nguồn đầu tư tư bản từ các nước". Hồ Chí Minh, từ một "người Cộng sản quốc tế kiên cường" được diễn biến hòa bình sang một "nhà tư tưởng dân tộc" và hôm nay tiếp tục được diễn biến thành một nhà chủ trương tư bản hóa Việt Nam. Những năm tới sẽ là gì nữa?

Dù đã tìm mọi cách để bảo vệ "độc lập tự chủ của chế độ" như Nguyễn Dy Niên nói, hơn ai hết giới lãnh đạo Đảng biết không thể nào ngăn chận được bước chân của người khổng lồ cách mạng dân chủ đang sừng sững tới. Đến nhanh hay chậm, đến trong bối cảnh đầy máu mủ hay êm đẹp tùy thuộc vào điều kiện chính trị, lịch sử của mỗi quốc gia nhưng tự do dân chủ là tiến trình không thể nào lui. Bởi vì, diễn biến hòa bình không phải là "chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế" hay "phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội", nhưng là một bước phát triển có tính quy luật của văn minh nhân loại. Tiến trình dân chủ hóa đã diễn ra tại Liên Xô, Đông Âu, các quốc gia độc tài Bắc Phi, và sẽ đến Việt Nam.

Dòng tiến hóa của con người là một dòng sông không ngừng chảy. Từ giai đoạn sơ khai trên thượng nguồn Hy Lạp xa xôi, con người đang bước một sang giai đoạn thật sự làm chủ lấy mình. Các chế độ phong kiến hà khắc đã chìm sâu trong quá khứ, các chủ thuyết phi nhân đang bị xóa bỏ, các chế độ độc tài sắc máu lần lượt ra đi,. Theo tổ chức Freedom House, hiện nay có 117 trong số 191 quốc gia trên thế giới sống trong chế độ dân chủ, tuy mức độ còn ít nhiều khác nhau. Có quốc gia không may mắn phải đổ nhiều xương máu nhưng cũng có quốc gia may mắn, cách mạng đã diễn ra trong hòa bình. Cách mạng dân chủ tại Nam Phi 1994 và Nam Dương 1998 là hai bài học đáng lưu ý.

Năm 1974, lãnh tụ đảng Đoàn Kết Nam Phi Harry Schwarz và lãnh tụ da đen Mangosuthu Buthelezi cùng chia sẻ một nhận thức rằng chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi phải chấm dứt và việc giải thế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi là bước cần thiết đầu tiên để hòa giải quốc gia và xây dựng chế độ dân chủ Nam Phi. Hai nhà chính trị sáng suốt này đã ký kết một văn kiện lịch sử được gọi là Mahlabatini Declaration of Faith tại Mahlabatini, KwaZulu-Natal ngày 4 tháng Giêng/1974. Nội dung chính của văn kiện kêu gọi nhân dân Nam Phi thuộc mọi màu da, bộ lạc, đảng phái phải ngồi lại tìm một hướng đi tốt đẹp lâu dài cho đất nước, cùng soạn thảo một hiến pháp nhấn mạnh đến việc tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, nhưng quan trọng nhất văn kiện nhấn mạnh rằng các mục tiêu nêu trên phải diễn ra trong hòa bình. Sau giai đoạn hai mươi năm đầy khó khăn, thử thách cho đất nước và cho cả hai lãnh tụ, cuối cùng 1994, nhân dân Nam Phi đã thực hiện cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên.

Tại Nam Dương, sau 32 năm độc tài tướng Suharto đã buộc phải từ chức 1998. Nam Dương cần sáu năm và ba lần bầu cử để từng bước ổn định quốc gia. Theo giáo sư Ik rarnua Bhaki, tác giả của nghiên cứu "Chuyển tiếp đến dân chủ tại Nam Dương: Những vấn đề còn tồn đọng" ( The transition to democracy in Indonesia: some outstanding problems) trong thời gian năm năm sau khi Suharto bị hạ bệ, Indonesia có ba tổng thống B.J. Habibie, Abdurrahman Wahid, and Megawati Sukarnoputri, nhưng tất cả số đó đã được bầu lên hợp với các nguyên tắc dân chủ. Đại đa số dân chúng được hưởng các quyền tự do phát biểu, tự do thông tin, các quyền kiểm soát lẫn nhau giữa hành pháp và lập pháp được tôn trọng, và phi chính trị hóa các lực lượng võ trang. Mặc dù tiến trình dân chủ tại Nam Dương khó khăn hơn các quốc gia khác bởi vì không chỉ đương đầu với tàn dư của cơ chế độc tài mà còn phải vượt qua các trở lực cực đoan tôn giáo, các sinh hoạt dân chủ tại Nam Dương đã được cải thiện rất nhiều. Theo giáo sư Larry Diamond, đại học Stanford, trong một thống kê, trong mức thang từ 1 đến 10, với 1 tệ hại nhất và 10 là dân chủ nhất, những người dân Nam Dương tham dự thống kê đã trả lời 7, tức một mức độ dân chủ đáng ca ngợi.

Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục kết án "diễn biến hòa bình" nhưng họ quên rằng sự hiểu biết của con người là nguồn thúc đẩy cho các thay đổi xã hội. Thời kỳ tẩy não con người bằng các lý thuyết Mác Lê đã không còn tác dụng. Nếu trước đây sự ngu dốt là bạn đường của chủ nghĩa Cộng sản thì ngày nay trình độ dân trí cao là kẻ thù không đội trời chung.

Tác giả Archie Brown, giáo sư chính trị học đại học Oxford, Anh quốc, trong tác phẩm Sự vươn lên và sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản (The Rise And Fall Of Communism) phát hành lần đầu 2009 đã nêu ra 8 lý do khiến chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự mà là sự thay đổi xã hội (Social Change). Theo giáo sư Archie Brown , năm 1939 tại Nga chỉ 11 phần trăm dân số học xong bậc tiểu học nhưng đến 1984 tỉ lệ đó đã tăng đến 87 phần trăm. Năm 1954 chỉ có 1 phần trăm dân số Liên Xô tốt nghiệp đại học nhưng đến 1984, tỉ lệ đó đã tăng gấp 7 lần. Trình độ giáo dục giúp cho người dân không những có khuynh hướng muốn tìm hiểu những gì khác hơn mà còn có ý nghi ngờ và từ chôi các kiến thức họ được chế độ trang bị. Sự chuyển hóa tri thức là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào.

Tương tự tại Việt Nam, cách đây 50 năm tại miền Bắc, nhiều người thật sự tin rằng đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam như nước với sữa, như máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói "đảng là con nòi của dân tộc". Cách đây 36 năm không ít người đã bừng tỉnh và nhận ra rằng chỉ vì mục đích Cộng sản hóa Việt Nam Đảng đã phản bội dân tộc, lợi dụng máu xương của những người ngã xuống vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm. Và hôm nay, đông đảo nhân dân đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.

Một sai lầm quen thuộc của các nhà độc tài là đánh giá thấp phản ứng của nhân dân và nghĩ rằng họ có thể duy trì bộ máy cai trị bằng bạo lực mà không cần thay đổi. Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam dựa vào tầng lớp bồi bút để binh vực phần lý luận, dựa bộ máy quân đội, công an để trấn áp đồng bào. Thế nhưng, đảng Cộng sản Liên Xô từng có cả một viện hàn lâm chuyên tập trung nghiên cứu lý luận Cộng Sản, Đông Đức có những binh đoàn được trang bị vũ khí hiện đại hơn quân đội Cộng Sản Việt Nam và Cơ quan Bảo vệ Nhà nước (The State Protection Authority) trực thuộc Trung ương đảng Cộng sản Hungary còn tinh vi hơn cả các cơ quan an ninh Việt Nam, và tất cả đều không cứu được đảng.


Bộ máy tuyên truyền của đảng luôn nhấn mạnh "Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng" nhưng như cựu Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh phát biểu "Tôi đã từng nói: con giun xéo lắm phải quằn. Càng đàn áp thì phẫn nộ càng tăng và càng lan rộng. Có thể đến một lúc là không kiểm soát được". Thật vậy, ngoài một số rất nhỏ cam phận cầm cờ khiêng kiệu, đại đa số những người lính, những công an Việt Nam vẫn là những thanh niên mang trong người dòng máu Việt Nam. Hầu hết sinh ra sau cuộc chiến, lớn lên trong cảnh đói nghèo, có nước mắt để khóc cho những đồng bào bị hải quân Trung Quốc bắn thủng ngực, có trái tim để biết hờn căm khi nhìn những hải đảo nhuộm bằng máu của ông cha nằm đang trong tay giặt, có niềm tự hào dân tộc để biết đứng lên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, có lòng tự trọng để biết tủi nhục khi phải đứng canh giấc ngủ cho các ủy viên trung ương bên ngoài những biệt thự cao sang xây bằng xương máu nhân dân.

Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua, tuy vẫn còn giới hạn nhưng đã có sự tham dự của nhiều thành phần dân tộc. Họ khác nhau về quá khứ nhưng rõ ràng đang hướng đến một tương lai. Đó là tương lai tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Không có con đường nào khác. Không có chọn lựa nào khác. Tự do dân chủ là vũ khí để đánh bại âm mưu bành trướng của Trung Quốc, là cánh cửa mở ra chân trời thịnh vượng cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai. Dân chủ không phải là một khái niệm tây phương, là sản phầm của "diễn biến hòa bình", một "âm mưu đế quốc" mà là quyền của con người được sống, được tự do đi lại, tự do phát biểu, được quyền bầu cử người đại diện cho mình trong các cơ quan nhà nước.

Giá trị của một con người được thẩm định không phải ở chỗ người đó bị té ngã nhưng ở chỗ người đó biết đứng lên và đi tới. Dân tộc Việt Nam cũng thế, sau nhiều lần bị té ngã đang cố gắng đứng lên và đi tới cùng nhân loại. Không bằng những nhát búa của thanh niên Đông Đức khi đập võ bức tường Bá Linh hay những chiếc kèm của thanh niên Hungary khi cắt đứt hàng rào biên giới Áo Hung, nhưng bằng những giọt nước kiên trì của các thế hệ Việt Nam yêu nước, thành trì độc tài Cộng Sản sẽ bị xói mòn và tan vỡ./.


Trần Trung Đạo

Văn Hoá “cà chớn”


 

 Văn Quang - Từ Sài Gòn, ngày 23.12.2011

Văn Hoá "cà chớn" 
Tôi ngần ngại mãi khi viết đến hai chữ "cà chớn" này. Bởi cà chớn khó định nghĩa như thế nào cho chính xác. Cà chớn không hề có nghĩa là láo lếu, cũng không có ý nghĩa là xấu xa, nhảm nhí.

Thí dụ bạn hẹn một người bạn đi uống cà phê, nhưng anh ta đến muộn, bạn phán là "thằng cà chớn". Vậy không có nghĩa là anh bạn kia là một người bạn xấu. Hoặc bạn nghe một người bạn nào đó đùa dai một câu như "trông cô gái kia phốp pháp, có vẻ hạp với ông đấy". Bạn chỉ có thể kết tội anh ta là cà chớn chứ không thể cho là anh ta nói láo. Đôi khi nó có nghĩa là xấu, đôi khi nó có nghĩa là vui đùa, đôi khi nó có nghĩa là không tốt, không xấu nữa. Thí dụ bạn nói về một người bạn rằng: "Thằng ấy nó cà chớn thế thôi chứ không xấu bụng đâu". Vậy cà chớn là không tốt mà cũng không xấu.

Minh định về hai tiếng "cà chớn"

Xem ra hai tiếng " cà chớn" này rất khó dịch sang tiếng nước ngoài. Xin nhờ các dịch giả, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học làm ơn dịch giùm. Tôi cứ nghĩ, nếu không là người VN thì khó mà hiểu nổi "cà chớn" có nghĩa là gì. Tuy nhiên người VN nào cũng có thể cảm nhận được, hiểu ngầm được hai tiếng này. Nhóm chữ "văn hoá cà chớn" tôi dùng ở đây mang tất cả các ý trên.

Lại cũng xin xác minh rằng hai tiếng "cà chớn" đã có từ thời xa xưa chứ không phải chữ nghĩa hay lời nói mới phát sinh vào thời đại ngày nay ở VN (không phải chữ nghĩa VC). Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, mỗi buổi chiều khi tôi mê đá bóng hay đánh bóng chuyền, bóng bàn, về nhà trễ, tôi thường bị anh tôi mắng là "thằng cà chớn". Tôi nghĩ ông ấy đã dùng chữ này thật chính xác. Nếu tôi mê đánh đinh đánh đáo, anh tôi có thề mắng là "thằng bố láo, thằng lười, ham chơi hơn thích học", nhưng tôi mê thể thao cũng như ông ấy thì ông không dùng chữ "láo" được mà chỉ có thể có thể cho tôi là "thằng cà chớn" là đúng nhất.

Đôi khi người ta còn dùng là "cà chớn, cà cháo", nhưng chữ "cháo" này không có nghĩa gì khác cả, chỉ là câu nói quen miệng cho trơn, cho xôm tụ thôi. Nhưng khi người ta nói "người ngợm đâu mà bẩn thế", chữ "ngợm" ở đây có thêm nghĩa nghĩa xấu, chứ nói nói về một người tốt, không ai thêm chữ "ngợm" vào cả. Thế mới biết chữ nghĩa Việt Nam thâm thuý lắm. Cũng cùng một nhóm chữ, nhưng mỗi trường hợp phải được hiểu theo một ý khác nhau và hiểu được đúng lại càng khó. Đôi khi chỉ còn là sự cảm nhận của những người cùng chung một dân tộc, một huyết thống.

Tác phẩm cà chớn trên thị trường chữ nghĩa

Trong những ngày gần đây, tại VN rộ lên những cái gọi là "tác phẩm văn học" được một vài nhà xuất bản tung ra thị trường chữ nghĩa rồi lại bị thu hồi khiến nó bỗng nổi tiếng và được nhiều người tò mò tìm đọc. Cái trò sách bị tịch thu bao giờ cũng bán chạy, tưởng như một "nghịch lý" mà không phải "nghịch lý" này trở thành một chiêu quảng cáo rất hấp dẫn, mang lại kết quả rất béo bở cho mấy nhà phát hành. Hai cuốn sách đã cho xuất bản, bày bán cả mấy tháng trời mới bị tịch thu. Đó lá cuốn "Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông" và cuốn "Sát thủ đầu mưng mủ".

Cuốn sách "Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông (tập truyện ngắn của Nguyễn Vĩnh Nguyên, Sách Phương Nam & NXB Hội Nhà Văn 2011) sẽ phải thu hồi trong vòng 10 ngày, theo quyết định của chánh thanh tra Sở Thông tin – truyền thông TP.HCM ký ngày 1-11. Quyết định này còn buộc Công ty Sách Phương Nam phải nộp phạt 7,5 triệu đồng do cuốn sách trên "truyền bá lối sống dâm ô đồi truỵ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam".




Cuốn sách này gồm 13 truyện ngắn, được phát hành trên toàn quốc từ tháng 4-2011, tuy nhiên đến nay chỉ có TP.HCM quyết định tịch thu sách. Hiện đang gây nhiều tranh cãi, và khi tôi ra nhà sách chuyên "bán lậu" loại này cũng hết nhẵn.Vậy chúng ta sẽ bàn đến khi tôi mua được sách "lậu" kia.

Trong bài này, tôi điểm qua cuốn sách được coi là rất kỳ cục cũng vừa bị tịch thu. Đó là cuốn "Sát thủ đầu mưng mủ". Mời bạn đọc nhìn vào nội dung cuốn sách xem nó mang lại những gì cho độc giả.

"Sát thủ đầu mưng mủ" là cái quái gì vậy?

Trước hết, ngay cái tên truyện "SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ" chẳng mang một ý nghĩa nào chứ đừng nói đến ý văn học hay giáo dục. Nó cũng chẳng là thứ truyện bằng tranh giải trí cho trẻ em. Nó có phần nào phản ảnh được tâm trạng… bừa phứa, ăn nói lung tung, kém văn hoá của một số lớp trẻ hiện nay ở các thành phố lớn mà người ta thích gọi là "tuổi teen".


 

Cuốn sách "Sát thủ đầu mưng mủ" do Công ty Văn Hoá Truyền thông Nhã Nam đặt hàng cho hoạ sĩ Thành Phong thực hiện và ông hoạ sĩ này đã mất 5 tuần để thực hiện các bức tranh. Mỗi bức tranh mang một "thành ngữ" mà ông tự nhận đây là cuốn sách thu thập "các thành ngữ sành điệu" của giới trẻ. Vậy sự "sành điệu" đó như thế nào?

Từ trang bìa đến nội dung cuốn sách, người đọc được giới thiệu những bức vẽ có phần dễ dãi như loại biếm hoạ trên các trang báo hàng ngày, mục đích có lẽ chỉ để chọc cười.
Cuốn sách tập hợp 120 câu nói thông dụng, cửa miệng hiện nay của giới trẻ như "Ngất ngây con gà tây", "Phi công trẻ lái máy bay bà già", "Thuận vợ thuận chồng, con đông mệt quá", "Tào lao bí đao", "Tự nhiên như cô tiên", "Xấu nhưng biết phấn đấu", "Đói như con chó sói", "Một con ngựa đau, cả tàu được thêm cỏ", "Một điều nhịn là chín điều nhục", "Cái khó ló cái ngu"...


 
 
 

Sự phản bội văn hoá và đạo đức dân tộc

Cuốn sách "Sát thủ đầu mưng mủ" được phát hành trong tháng 10-2011. Vừa "ra lò", nó đã nhanh chóng trở thành "cẩm nang" của hầu hết giới học sinh thành phố. Đọc những câu cú trên đây, hẳn bạn đọc đã thấy rõ có những câu vô nghĩa bị kết tội là rẻ tiền, là làm nghèo tiếng Việt cũng không sai. Cứ cái đà ấy cuốn sách kéo dài một cách trơ trẽn, đầu độc những cái đầu non trẻ. Chúng sẽ dựa vào sách để bắt chước, "sáng tạo" ra những câu cú tục tĩu, kỳ quái hơn nữa. Đã có rất nhiều ý kiến phản đối kịch liệt, cho rằng đây là một cuốn sách nhảm nhí, xuyên tạc thành ngữ, tục ngữ Việt Nam và làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Chị Thanh Hà, một nhân viên ngân hàng lên tiếng: "Tôi không hiểu vì sao một cuốn sách nhảm nhí như vậy lại được kiểm duyệt để xuất bản. Những câu thành ngữ, tục ngữ của cha ông như "Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ" bị cải biên, xuyên tạc một cách trắng trợn. Thử hỏi, với các cháu nhỏ lứa tuổi tiểu học khi cầm những cuốn sách này, các cháu sẽ học được điều gì?".
Hoặc những câu "Có chí thì ghê",  xuyên tạc mất ý nghĩa giáo dục tinh thần của câu "Có chí thì nên" của ông cha ta bao đời để lại cho con cháu noi theo. "Một điều nhịn là chín điều nhục", "Cái khó ló cái ngu"… toàn là những câu phản lại truyền thống đạo đức VN.

Việc phổ biến rộng rãi những câu nói này sẽ hình thành trong giới trẻ thói quen ăn nói hời hợt, nghèo nàn về văn hoá, thậm chí phản bội văn hoá. Vì thế, không thể in thành sách những câu nói như vậy. Đúng là một cuốn sách cà chớn chưa từng thấy trong lịch sử xuất bản văn học VN.


Vậy mà nó còn được bán ra thế giới!!!


Cuốn "Sát thủ đầu mưng mủ" xuất hiện trên trang bán hàng trực tuyến Amazon (ấn bản Kindle, sách điện tử) với giá 7,99 USD. Sách được bán theo nhượng quyền xuất bản ở Mỹ giữa công ty Nhã Nam - Nhà xuất bản Mỹ Thuật với Indochine Media Inc, một công ty truyền thông có trụ sở tại Milpitas, California.

Theo ông Dương Thanh Hoài, Phó giám đốc công ty Nhã Nam, thủ tục chuyển nhượng quyền xuất bản "Sát thủ đầu mưng mủ" ra thị trường Mỹ và quốc tế đã được thực hiện ngay từ khi cuốn sách ra mắt bạn đọc trong nước, chứ không phải sau khi bị ngưng phát hành. Ông Thanh Hoài cho biết: "Chúng tôi rất vui vì đây là lần đầu tiên sách Việt Nam có thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, phục vụ cho những người Việt Nam muốn biết thêm về cái mới trong lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ trong nước".

Bạn  Nguyễn Huy Trường phản ứng ngay trên báo: "Khác gì một sự sỉ nhục tiếng Việt. Cuốn sách đầu tiên được xuất bản ra Thế Giới..là thế này đây? Nhiều lúc không hiểu các bác ấy nghĩ gì nữa, vì vài đồng tiền mà đem một sự bôi nhọ Văn hoá VN ra bán cho thế giới? Buồn cười với câu nói của ông Phó GĐ Nhã Nam " ....cái mới trong lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ trong nước". Ông cho cái này là cái mới, cái tiến bộ sao?"
Và cũng ở trên mạng, một độc giả đã cảnh báo: "Vậy thì hãy chuẩn bị tư tưởng để chấp nhận việc một ngày nào đó, con cháu các anh chị sẽ nghêu ngao rằng : "Công cha như miếng rau câu./ Nghĩa mẹ như nước trong cầu chảy ra".
Nếu thế thì chẳng còn gì để nói. Sự xuống cấp của văn hoá đến thế là cùng. Chắc bạn không ngờ được!

Một vài nhận định về "văn hoá nghị trường"
Vào những ngày giữa tháng 12 này, câu chuyện thời sự nóng bỏng nhất tại VN là việc bất ngờ tăng giá điện kể từ 20-12-2011, đúng vào thời điểm cuối năm và chính phủ đang ra sức kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả thị trường. Người dân coi đó là "cú đánh úp" vào đầu dân của ông Điện Lực VN. Tiếng ca thán nổi dậy đầy rẫy trên mặt báo và trong từng con hẻm nhỏ. Tuy nhiên, chúng ta hãy đợi xem hậu quả của "cú đánh úp" này đi đến đâu, dịp khác chúng ta sẽ bàn tới. Trong mấy tuần vừa qua, có 3 bài cần thiết về cách chữa bệnh ung thư và tiểu đường được nhiều bạn đọc quan tâm, nên có một số tin thời sự, tôi phải gác lại. Nay xin tiếp tục về vài diễn biến trong lãnh vực thời sự vừa qua.

Trong tuần cuối tháng 11 -2011, sự kiện được người dân trong và ngoài nước VN chú ý đến nhiều nhất chính là lời tuyên bố của người đứng đầu chính phủ VN Nguyễn Tấn Dũng trước quốc hội khẳng định về chủ quyền của VN ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tin này đã được rất nhiều cơ quan thông tin bình luận nên tôi không nhắc lại.
Cũng trong kỳ họp này, còn có một số bộ trưởng những bộ được coi là "nóng" nhất đã đăng đàn trả lời các đại biểu (ở VN gọi các dân biểu hay là đại biểu). Không thể đi vào chi tiết quá dài dòng, ở đây tôi điểm qua một nét chính tượng trưng, trong những câu hỏi của các đại biểu và câu trả lời của các bộ trưởng.

Ai cũng làm bộ trưởng đuợc!

Khuôn mặt nổi bật nhất và là người đầu tiên trả lời chất vấn là ông Đinh La Thăng, người đã hai lần "trảm hai tướng" dưới quyền khi đi thị sát các công trình do các viên chức này chịu trách nhiệm. Sau khi trả lời một số câu hỏi trước nghị trường, ông đại biểu Nguyễn Bá Thuyền chưa "thoả mãn" nên đã đưa ra câu hỏi " rất nặng ký":
-"Nếu cứ trả lời lòng vòng như thế thì ai cũng làm Bộ trưởng được. Xin đề nghị Bộ trưởng trả lời xem mấy năm thì có thể giảm được tai nạn giao thông, mấy năm thì giảm bớt được ùn tắc giao thông?"

Trước các đại biểu tại nghị trường, Bộ trưởng Đinh La Thăng nhã nhặn trả lời:
"Chúng ta phải quyết tâm, cùng phải làm, chứ còn bây giờ bảo tôi khẳng định bao giờ hết tai nạn giao thông, bao giờ hết ùn tắc giao thông thì xin phép đại biểu là chưa khẳng định được. Chúng tôi chỉ mong rằng nó sẽ kiềm chế và giảm dần như mục tiêu chúng ta đưa ra là mỗi năm giảm từ 5% đến 10%".

Cú "trà đòn" như một cú đá thủng lưới của Messi
Nhưng bên lề hành lang quốc hội, ông bộ trưởng Thăng đã trả lời câu hỏi của phóng viên:  

Phóng viên hỏi:
- Ông suy nghĩ gì khi có đại biểu Quốc hội cho rằng trả lời như ông thì ai cũng có thể làm được bộ trưởng?

Ông Thăng trả lời:
- Tôi nghĩ bộ trưởng là do Quốc hội phê chuẩn chứ không phải ai cũng làm được. Theo tôi, chúng ta đang nói đến văn hoá giao thông thì cũng cần có văn hoá về chất vấn.

Quả thật câu trả lời nhẹ nhàng mà rất thấm. Ông Thăng nói đến "văn hoá chất vấn" đúng nơi đúng lúc. Cú "trả đòn" của ông Thăng mềm mại như Messi đi bóng, đá một cú lượn vào góc chết, làm khung thành vỡ toang. Nhẹ mà đau lắm, các cụ ạ.


Đúng là cần phải có "văn hoá chất vấn", không thể để những thứ "ngôn ngữ cà chớn" chui vào nghị trường được. Điều đó thì chính các ông đại biểu phải tự ý thức lấy, chứ không có trường lớp nào dạy hay quy định nào rằng buộc. Người dân lại cảm thấy cần phải thận trọng hơn nữa với những lá phiếu bầu đại biểu của mình.

Ông Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp của Quốc hội đánh giá về các phiên chất vấn này như sau: " Một số câu hỏi không đúng nghĩa chất vấn, như chỉ hỏi thông tin, mang tính chất trao đổi. Nếu chỉ hỏi lấy thông tin, bộ trưởng trả lời xong, đại biểu tưởng thế là được. Qua loạt hỏi thấy rất ít đại biểu nắm chắc thông tin về nội dung chất vấn, thậm chí có thể đại biểu hỏi để cho cử tri nhìn thấy mình. Do các câu hỏi không đúng nên khó mà đạt được yêu cầu như mong muốn".

Đúng như vậy, theo dõi qua truyền hình, người dân nhận thấy có ông bà đại biểu cầm tờ giấy đọc cũng còn ngắc ngứ và câu hỏi chỉ để mà hỏi, chỉ để cho "nhân dân" nhìn thấy mặt mình trên diễn đàn quốc hội!

Khi được hỏi:
- Ông nghĩ sao về ý kiến chính các đại biểu phải có văn hoá chất vấn, văn hoá nghị trường?

Ông Đinh Xuân Thảo nói:
Đúng là văn hoá nghị trường từ người điều hành cho đến người hỏi và người trả lời rất là cần thiết. Như lần trước, Chủ tịch Quốc hội khoá 12 cũng nói không nên đao to búa lớn mà nên lạt mềm buộc chặt. Nếu nói nhẹ nhàng, có lý lẽ, sức thuyết phục thì giá trị hơn là nói như băm bổ hoặc trả lời như là ở bên ngoài. Đối với hoạt động nghị trường, phát biểu trao đổi cũng có quan điểm khác nhau nhưng cách tranh luận dùng lời lẽ thì cũng cần thể hiện văn hoá ứng xử.


Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm về sự cần thiết phải có những đại biểu của dân có trình độ kiến thức cao hơn và phải biết ứng xử ít nhất là "văn hoá nghị trường".

Văn Quang – 23-12-2011