17 January 2011

Năm Mẹo Kể Chuyện Mèo

Năm Mẹo Kể Chuyện Mèo

 

(Tân Mão từ 03-02-2011 đến 22-01-2012)

 

Tiểu Đệ Nguyễn-Phú -Thứ

 

(Trích dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Đời Sống An Lạc 2010 của Tiểu Đệ Nguyễn-Phú -Thứ)

 

Sau khi năm Canh Dần chấm dứt, thì đến năm Tân Mão được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm thứ tư, 02-02-2011 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 22-01-2012. Năm Tân Mão này thuộc hành Mộc và mạng Tùng Bách Mộc tức Gỗ cây tùng bách, năm này thuộc Âm, có can Tân thuộc mạng Kim và có chi Mão thuộc mạng Mộc. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì năm này "Can khắc Chi" tức Trời khắc Ðất. Bởi vì: " Mạng Kim = Tân khắc mạng Mộc = Mão (mạng Kim tức Trời được khắc xuất, mạng Mộc tức Ðất bị khắc nhập). Do vậy, năm này xem như tổng quát rất xấu, bởi vì bị Trời khắc Ðất giống như các năm: Giáp Tuất (1994), Nhâm Ngọ (2002), Mậu Tý 2008 đã qua. Ðược biết năm Mão vừa qua là năm Kỷ Mão thuộc hành Thổ, nhằm ngày thứ ba, 16-02-1999 đến 04-02-2000.

Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Ðông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Ðế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2011 = 4648, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp thứ 77 và số dư 28 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy, năm Tân Mão 2011 này là năm thứ 28 của Vận Niên Lục Giáp 78.

Chữ Tết là do chữ Tiết mà ra, ở Việt Nam chúng ta, thời tiết miền Nam không được rõ ràng hơn miền Bắc, mặc dù cũng có bốn mùaá: Xuân, Hạ, Thu và Ðông, được tính mỗi mùa có 3 tháng trong năm dương lịch như sauá:

- Mùa Xuân bắt đầu ngày lập Xuân là ngày 5 tháng 2 đến ngày 6 tháng 5, giữa mùa Xuân, có ngày 21 tháng 3, thì đêm và ngày bằng nhau. Ðó là, ngày Xuân phân.

- Mùa Hạ tức Hè, bắt đầu lập Hạ là ngày 6 tháng 5 đến ngày 8 tháng 8, giữa mùa Hạ, có ngày 22 tháng 6, thì ngày dài nhứt trong năm. Ðó là, ngày Hạ Chí.

Vào mùa Hạ mỗi năm, các trường học thường đóng cửa một thời gian, để cho các Thầy Cô giáo, giáo sư cũng như học sinh, sinh viên nghỉ hè và cũng là mùa hoa phượng có bông nở rất đẹp.

- Mùa Thu bắt đầu ngày lập Thu là ngày 8 tháng 8 đến ngày 8 tháng 11, giữa mùa Thu có, ngày 23 tháng 9, thì đêm và ngày bằng nhau, giống như ngày 21 tháng 3 mùa Xuân vậy. Ðó là, ngày Thu phân. Ðối với mủa Thu mỗi năm, ở các nước Âu Châu, những chiếc lá đổi màu từ xanh sang vàng, rồ từ từ rơi rụng trông rất đẹp mắt, tuy nhiên, nếu so sánh với nước Gia Nã Ðại (Canada), thì thua xa, bởi cái màu đỏ thẫm ở xứ Bắc Mỹ Châu này.

- Mùa Ðông bắt đầu ngày lập Ðông là ngày 8 tháng 11 đến ngày 5 tháng 2, giữa mùa Ðông, có ngày 22 tháng 12 là ngày ngắn nhứt trong năm. Ðó là, ngày Ðông Chí.

Nhưng đối với quý ông bà sống ở nông thôn ngày xưa, thường phân chia bốn mùa trong năm rất giản dị, là chia đều mỗi mùa 3 tháng, tính theo âm lịch như sau:

- Mùa Xuân bắt đầu mùng một Tết của tháng Giêng cho đến cuối tháng ba.

- Mùa Hạ từ đầu tháng tư đến cuối tháng sáu.

- Mùa Thu từ đầu tháng bảy đến cuối tháng chín.

- Mùa Ðông từ đầu tháng mười đến cuối tháng chạp (tháng 12).

Trong khi đó, ở Âu Châu, nhứt là là nước Pháp, cũng phân chia 4 mùa cho mỗi năm, xin trích dẫn như sau:

- Mùa Xuân bắt đầu từ 20-3 đến 20-6

- Mùa Hạ bắt đầu từ 21-6 đến 22-9

- Mùa Thu bắt đầu từ 23-9 đến 21-12

- Mùa Ðông bắt đầu 22-12 đến 19-3

Trong dân gian Việt Nam chúng ta, thói thuờng tính theo âm lich, cho nên những câu ca dao có liên quan đến các tháng và các mùa trồng trọt của nhà nông hết sức trung thực, đúng lúc, xin đơn cử trích dẫn như sau:

Tháng Chạp là tháng trồng Khoai (1)

Tháng Giêng trồng Ðậu (2)

Tháng Hai trồng Cà

Tháng Ba cày vỡ ruộng ra

Tháng Tư làm Mạ, mưa sa đầy đồng

(1) Tháng Chạp tức tháng 12 cũng là tháng ăn chơi, vì nhà nông sau vụ lúa, thì lo trồng hoa màu phụ như trồng: Khoai, Ðậu, Cà, Bắp... để sau khi ăn Tết, cho đến cuối tháng Hai đầu tháng Ba mới lo cày bỏ hoa màu phụ và lo trồng vụ lúa chánh.

(2) Tháng Giêng tức tháng 1.

Hoặc là:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà

Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè

Tháng Tư đong Ðậu nấu chè

Ăn Tết Ðoan Ngọ trơ về tháng Năm

Tháng Sáu buôn nhẫn, bán Trâm

Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân

Tháng Tám chơi đèn kéo quân

Trở về tháng Chín chung chân buôn hồng

Tháng Mười buôn thóc bán bông

Tháng Một (3), tháng Chạp nên công hoàn thành

(3) Tháng Một chúng ta phải hiểu là tháng Mười Một, để cho câu này có 8 chữ đúng luật theo thể thơ Lục Bát.

Nếu viết:Tháng Mười Một, tháng Chạp nên công hoàn thành thì nó có 9 chữ, thì sai luật theo thể thơ Lục Bát?.

Trở lại năm con Mèo, nếu chúng ta lần tay tính lại những năm Mèo đã qua và những năm Mèo sắp tới, sẽ thấy các năm như sau: 1951 - 1963 - 1975 - 1999 - 2011 - 2023 - 2035 - 2047 - 2059.... Nếu chúng ta để ý sẽ thấy các năm có cùng số tận cùng, thì có Can giống nhau, ví như:

1951 - 2011 (Số tận cùng là 1 cho nên có cùng CAN là Tân)

1963 - 2023 (Số tận cùng là 3 cho nên có cùng CAN là Quí)

1975 - 2035 (Số tận cùng là 5 cho nên có cùng CAN là Ất)

1999 - 2059 (Số tận cùng là 9 cho nên có cùng CAN là Kỷ)

Do vậy, để biết cách tính Can của mỗi tuổi, chúng ta chỉ cần để ý số tận cùng năm tuổi sanh đó để tính theo bảng kê trong Thập Thiên Can như sau:

 

Số tận cùng năm sanh

Can gì

0

Canh

1

Tân

2

Nhâm

3

Quý

4

Giáp

5

Ất

6

Bính

7

Ðinh

8

Mậu

9

Kỷ

 

Ðó là, bảng kê tính Thập Thiên Can tức 10 thân Trời là: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quý. Khi tính tuổi năm sanh là Can gì xong rồi, thì chúng ta lần lượt tính tuổi năm sanh đó kết hợp với Thập Nhị Ðịa Chi tức 12 nhánh Ðất là: Tý, Sửu Dần Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi gì?

Hơn nữa, chúng ta để ý sẽ thấy: Không thể bất cứ Can và Chi gì kết hợp với nhau hết được. Bởi vì, chúng ta không bao giờ thấy tuổi: Nhâm Sửu, Nhâm Mão, Nhâm Tỵ, Nhâm Mùi, Nhâm Dậu, Nhâm Hợi hoặc trái lại là: Quý Tý, Quý Dần, Quý Thìn, Quý Ngọ, Quý Thân và Quý Tuất bao giờ. Do vậy, sự kết hợp giữa Can và Chi phải có từng cặp cùng Dương hoặc cùng Âm thì mới kết hợp được.

Nhân đây, xin trích dẫn Thập Thiên Can tính theo Dương và Âm như sau: Giáp (Dương), Ất (Âm), Bính (Dương), Ðinh (Âm), Mậu (Dương), Kỷ (Âm), Canh (Dương), Tân (Âm), Nhâm (Dương) và Quý (Âm).

Và đối với Thập Nhị Ðịa Chi tính theo Dương và Âm, xin trích dẫn như sau: TÝ (Dương), SỬU (Âm), DẦN (Dương), MẸO = MÃO (Âm), THÌN (Dương), T (Âm), NGỌ (Dương), MÙI (Âm), THÂN (Dương), DẬU (Âm), TUẤT (Dương) và Hợi (Âm).

Khi chúng ta biết tuổi thuộc Can Chi có Dương Âm như thế nào tức là biết Cành và Gốc của tuổi đó mà thôi. Do vậy, không thể ngừng ở đây, bởi vì tuổi của chúng ta còn có Ngũ Hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ, cho nên chúng ta phải tìm hiểu, xem tuổi của chúng ta có Mạng thuộc Hành gì nữa, cho nên chúng ta còn phải tìm ra phương cách tính Mạng, bởi vì mỗi người đều có số mạng, mặc dù có cùng số tuổi, nhưng Ngày, Giờ sanh Tháng đẻ lại khác nhau. Hơn nữa, chúng ta còn có cái quả tốt hay xấu xa xưa hoặc có chúng ta hay Ông Bà, Cha Mẹ nữa, có thấu hiểu hết những bí ẩn của cuộc đời, thì mới biết về con người của chúng ta như thế nào?

Do vậy, muốn tìm hiểu phương pháp tính Mạng thuộc Hành gì? và phải thực hiện như thế nào? Xin trích dẫn theo phương thức các bậc tướng số xa xưa, đã rút kinh nghiệm để tính Mạng thuộc Hành gì? như sau:

Như chúng ta đã biết, cứ 60 năm, thì kết thành một chu kỳ có Lục Giáp, cho nên gọi chung là Vận Niên Lục Giáp. Vậy, nếu chúng ta muốn tính Mạng, thì chúng ta phải đặt con Giáp đứng đầu để tính, xin trích dẫn như bài thơ dưới đây:

Giáp Tý:

Ngân - Ðăng - Gíá - Bích – Câu

(Kim) - (Hỏa) - (Mộc) - (Thổ) - (Kim)

Giáp Tuất:

Yên - Mãn - Tự - Chung – Lâu

(Hỏa) - (Thủy) - (Thổ) - (Kim) - (Mộc)

Giáp Thân:

Hán - Ðịa - Siêu - Sài - Thấp

(Thủy) - (Thổ) - (Hỏa) - (Mộc) - (Thủy)

Nên nhớ: Bài thơ tính Mạng ở trên chỉ tính Mạng có ba con Giáp là: Giáp Tý, Giáp Tuất và Giáp Thân. Vậy muốn tính thêm ba con Giáp nữa để được sáu con Giáp phải làm thế nào? Chúng ta để ý sẽ thấy, trong sáu con Giáp, nó có từng cặp giống nhau về Mạng, xin trích dẫn sau đây: Giáp Tý giống Giáp Ngọ - Giáp Tuất giống Giáp Thìn và Giáp Thân giống Giáp Dần.

Ngoài ra, chúng ta thấy bài thơ tính Mạng chỉ có 5 chữ, nhưng phải tính với Thập Thiên Can tức có 10 Can. Do vậy, mỗi chữ phải tính 2 Can từng cặp với nhau: Giáp Ất, Bính Ðinh, Mậu Kỷ, Canh Tân và Nhâm Quý. Khi hết Nhâm Quý thì luân chuyển trở lại Giáp Ất như bảng kê dưới đây:

Giáp Tý = Giáp Ngọ:

 Ngân - Ðăng - Gíá - Bích - Câu

                     

(Kim) - (Hỏa) - (Mộc) - (Thổ) - (Kim)

 

Giáp Tý

GIÁP NGỌ

Thứ tự

Can Chi

Hành

Thứ tự

Can Chi

Hành

1

Giáp Tý

KIM

31

Giáp Ngọ

KIM

2

Ất Sửu

KIM

32

Ất Mùi

KIM

3

Bính Dần

HỎA

33

Bính Thân

HỎA

4

Ðinh Mão

HỎA

34

Ðinh Dậu

HỎA

5

Mậu Thìn

MộC

35

Mậu Tuất

MộC

6

Kỷ Tỵ

MộC

36

Kỷ Hợi

MộC

7

Canh Ngọ

Thổ

37

Canh Tý

Thổ

8

Tân Mùi

Thổ

38

Tân Sửu

Thổ

9

Nhâm Thân

KIM

39

Nhâm Dần

KIM

10

Quý Dậu

KIM

40

Quý Mão

KIM

 

Giáp Tuất = Giáp Thìn:

 Yên - Mãn - Tự - Chung - Lâu

(Hỏa) - (Thủy) - (Thổ) - (Kim) - (Mộc)

 

Giáp Tuất

GIÁP THÌN

Thứ tự

Can Chi

Hành

Thứ tự

Can Chi

Hành

11

Giáp Tuất

HỎA

41

Giáp Thìn

HỎA

12

Ất Hợi

HỎA

42

Ất Tỵ

HỎA

13

Bính Tý

Thủy

43

Bính Ngọ

Thủy

14

Ðinh Sửu

Thủy

44

Ðinh Mùi

Thủy

15

Mậu Dần

Thổ

45

Mậu Thân

Thổ

16

Kỷ Mão

Thổ

46

Kỷ Dậu

Thổ

17

Canh Thìn

KIM

47

Canh Tuất

KIM

18

Tân Tỵ

KIM

48

Tân Hợi

KIM

19

Nhâm Ngọ

Mộc

49

Nhâm Tý

Mộc

20

Quý Mùi

Mộc

50

Quý Sửu

Mộc

 

Giáp Thân = Giáp Dần:

 Hán - Ðịa - Siêu - Sài - Thấp

  湿

(Thủy) - (Thổ) - (Hỏa) - (Mộc) - (Thủy)

 

Giáp Thân

GIÁP DẦN

Thứ tự

Can Chi

Hành

Thứ tự

Can Chi

Hành

21

Giáp Thân

Thủy

51

Giáp Dần

Thủy

22

Ất Dậu

Thủy

52

Ất Mão

Thủy

23

Bính Tuất

Thổ

53

Bính Thìn

Thổ

24

Ðinh Hợi

Thổ

54

Ðinh Tỵ

Thổ

25

Mậu Tý

Hỏa

55

Mậu Ngọ

Hỏa

26

Kỷ Sửu

Hỏa

56

Kỷ Mùi

Hỏa

27

Canh Dần

Mộc

57

Canh Thân

Mộc

28

Tân Mão

Mộc

58


 





Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


No comments:

Post a Comment