10 October 2011

Hãy so sánh: Nam và Bắc Hàn

Hãy so sánh: Nam và Bắc Hàn

Nguyễn Hưng Quốc

Hình: ASSOCIATED PRESS

Muốn thấy được "tính ưu việt" của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội, tôi nghĩ, cách tốt nhất là so sánh Nam Hàn và Bắc Hàn.

Năm 1945, sự kết thúc của chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng đồng thời là sự kết thúc của ách đô hộ kéo dài 35 năm (1910-45) của Nhật trên đất nước Đại Hàn. Lúc ấy, bất cần ý kiến của dân chúng Đại Hàn, các lực lượng Đồng Minh quyết định chia cắt nước này ra làm hai: miền Nam với sự giúp đỡ của Mỹ và miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô. Năm 1948, quân độ Liên Xô rút khỏi miền Bắc và năm sau, 1949, quân đội Mỹ cũng rút khỏi miền Nam .

Năm 1950, được sự ủng hộ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, Bắc Hàn, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, phát động chiến tranh, tung quân qua biên giới Nam Hàn, gọi là để thống nhất đất nước. Sau khi Liên Hiệp Quốc thất bại trong nỗ lực hòa giải và ngăn chận chiến tranh, Tổng thống Truman quyết định đưa quân Mỹ và một số nước đồng minh sang giúp Nam Hàn trong cuộc chiến đối đầu với miền Bắc. Lúc ấy, Trung Quốc cũng quyết định can thiệp (với sự trợ giúp khí giới của Liên Xô).

Chiến tranh Nam Bắc Hàn, do đó, biến thành cuộc đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó có lúc (ví dụ riêng đợt phản công mùa xuân năm 1951), quân Trung Quốc nhảy vọt lên đến khoảng 700,000 người. Đến giữa năm 1953 thì hai bên tuyên bố đình chiến. Số tử vong trong cuộc chiến tranh kéo dài ba năm do miền Bắc phát động ấy, tùy theo từng nguồn, khá khác biệt. Theo số liệu do Trung Quốc công bố thì về phía họ có 114,000 binh sĩ tử vong do chiến trận, 34,000 binh sĩ khác tử vong vì những lý do khác, 380,000 người bị thương. Giới nghiên cứu Tây phương hoàn toàn nghi ngờ các con số này. Họ cho số tử vong của bộ đội Trung Quốc phải lên ít nhất là 400,000 người. Về phía Mỹ, số tử vong là 36,000 người; số mất tích là 8000 người và số bị thương là 82,000 người. Phía Nam Hàn, 58,000 bị chết; 175,000 người bị thương. Phía Bắc Hàn có 215,000 người bị chết và 303,000 người bị thương. Nhưng thảm kịch nặng nhất oằn lên dân chúng: có ít nhất trên hai triệu thường dân, từ cả hai miền, bị giết chết, kể cả bị giết tập thể, trước và sau chiến tranh, do những thù nghịch từ hai phía.

Sau chiến tranh, Đại Hàn lại bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 38 làm biên giới. Phía Nam được biết dưới tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (thường được gọi tắt là Hàn Quốc); phía Bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (thường được gọi tắt là Triều Tiên).

Thoạt đầu, cả hai đều gánh chịu một di sản giống nhau: Một, ách đô hộ kéo dài 35 năm của đế quốc Nhật Bản. (Xin lưu ý: Việt Nam chỉ bị Nhật chính thức chiếm đóng có khoảng nửa năm (từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945) mà hậu quả là có đến khoảng từ một đến hai triệu người bị chết đói (năm Ất Dậu, 1945). Ở Đại Hàn, thời gian chiếm đóng của Nhật kéo dài gấp 70 lần!). Hai, cuộc chiến tranh tuy ngắn ngủi, chỉ kéo dài ba năm, nhưng số thương vong lại được xếp vào loại lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh trong nội bộ một quốc gia ở thế kỷ 20. Ba, sự nghi kỵ và thù hận không phải giữa hai miền, Nam và Bắc, mà còn bên trong từng miền, giữa người này và người khác, thành phần này và thành phần khác; một hiện tượng rất phổ biến sau các cuộc nội chiến khốc liệt.

Những di sản ấy hiện rõ trong tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của cả hai miền ngay sau chiến tranh: nghèo khổ, lạc hậu và độc tài.

Nhưng mấy chục năm sau, ví dụ, ở thời điểm năm 2011 này, khoảng cách giữa hai miền, Hàn Quốc và Triều Tiên, khác nhau vời vợi.

Vào giữa thập niên 1950, cũng giống như Triều Tiên, Hàn Quốc nằm trong danh sách những quốc gia nghèo, tương tự vô số các quốc gia nghèo khác ở châu Á và châu Phi. Nhưng từ giữa thập niên 1960 thì họ nhảy vọt. Suốt cả mấy thập niên sau đó, họ được xem là một trong vài quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Giới nghiên cứu thường nêu lên một ví dụ về sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc: năm 1957, thu nhập trên đầu người của Hàn Quốc thấp hơn hẳn Ghana, một quốc gia thuộc Tây Phi; bốn mươi năm sau, vào năm 2008, thu nhập của họ cao gấp 17 lần Ghana! Hiện nay, Hàn Quốc nằm trong nhóm 20 quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (G-20). Một số thương hiệu của Hàn Quốc trở nên quen thuộc trên phạm vi toàn cầu, hầu như đi đâu cũng gặp: Hyundai, Samsung, Daewoo và LG.

Còn Triều Tiên?

Cho đến nay, Triều Tiên nổi tiếng khắp thế giới vì nhiều cái nhất: Một trong vài quốc gia khép kín, bí mật, cuồng tín và chuyên chế nhất; một trong những quốc gia hung hăng nhất, lâu lâu lại đe dọa tấn công Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Mỹ nữa; một trong những quốc gia nghèo khổ nhất ở châu Á với số dân đối diện với nguy cơ chết đói lên đến hàng triệu người mỗi năm (và nhiều lần đã chết thật. Ví dụ,  theo nhiều tài liệu, trong thập niên 1990, số người chết đói có thể lên đến khoảng ba triệu!); đồng thời cũng là một trong những quốc gia buôn lậu ma túy khét tiếng nhất thế giới.

Tôi dựa trên tài liệu của CIA World Factbook cũng như một số tài liệu khác để tóm tắt các khác biệt chính giữa Nam và Bắc Hàn như sau:

 
Triều Tiên (Bắc Hàn)
Hàn Quốc ( Nam Hàn)
Diện tích
122,762 cây số vuông
99,720 cây số vuông
Dân số
25,5 triệu
48,754,657 (Tháng 7, 2011)
Tuổi thọ trung bình
72,07 tuổi
79,05 tuổi
Thu nhập bình quân đầu người
1,800 Mỹ kim (2009)
30,000 Mỹ kim (năm 2010)
Tổng sản lượng quốc nội (GDP)
28 tỉ (2010)
$1.459 trillion (2010) (trillion là một ngàn tỉ); xếp hàng thứ 13 trên thế giới
 

Tại sao cũng đất nước ấy, cũng con người ấy mà sau hơn nửa thế kỷ bị chia cắt, một nửa trở thành nơi giàu có thuộc loại hàng đầu trên thế giới, còn nơi kia lại thuộc vào những nước nghèo đói nhất thế giới?

Tại sao?

- Chỉ có thể trả lời bằng một chữ duy nhất: chế độ!

"Tính ưu việt" của chế độ xã hội chủ nghĩa là như vậy đó sao?


Nguyễn Hưng Quốc

07 October 2011

Lời thật mất lòng – Ôi, người Việt Nam !

Lời thật mất lòng – Ôi, người Việt Nam !

Đọc bài "Người Việt ở bẩn" của Tài Ngọc trong www.saigonocean.com , tôi rất đồng ý và muốn kể thêm "những sự thật thấy mà đau đớn lòng", nói thêm về những cá tính "rất ích kỷ", "rất vô giáo dục" và "vô liêm sỉ", "không có lòng tự trọng" của người VN. Những điều chúng ta nói ra đây không phải "vạch áo cho người xem lưng" mà để cùng nhau cải tiến một lối sống "sạch sẽ & trật tự" hơn như những giống dân khác mà thôi...

Tôi đang ở chung cư, chỗ này dành cho người lớn tuổi trên 55 mới được phép vào mướn. Tôi hay giúp đỡ mọi người, già trẻ lớn bé liền ông liền bà gì cũng giúp ráo trọi, do đó ai có chuyện gì "không giống ai" cũng gọi tôi.

Đây là những chuyện có thật 100% tôi đã chứng kiến. Phần đông, người ngoài văn phòng nhờ tôi nói dùm vì ... cần sửa đổi những việc "trái tai gai mắt"

1/ Có những người VN vào đây ở, họ được hưởng tiền già, tiền hưu, tiền bệnh nhưng hãy còn cái thú kiếm thêm "income". Rất OK, xứ này tự do, ai có sức muốn xả thân kiếm tiền, làm 3 job một ngày không ai cấm miễn đừng phiền đến người khác thôi. Có bà ở đây nấu cơm tháng, ai ai cũng biết nấu cơm VN thì có đủ món, thịt cá tôm cua đủ cả. Bà này mang hết những thứ này ra phòng giặt (là nơi họ để máy giặt máy sấy bỏ tiền vào giặt quần áo, trong phòng này có 1 bồn nhỏ & vòi nước để có ai đó cần giặt tay), bà ta dùng cái bồn ấy để rửa rau rửa cá rửa thịt ... và nghĩ rằng sẽ tiết kiệm được tiền nước mỗi tháng của bà. Sau khi rửa các thứ ấy, bà để lại trong phòng một mùi tanh thịt cá cộng thêm một bịch rác khổng lồ trong thùng rác nơi phòng giặt. Thùng rác này họ chỉ để bỏ những thứ rác khô và không bị thiu thối như giấy thơm cho quần áo, thùng xà bông giặt ... nói chung là những rác có mùi thơm, không độc hại, không có vi trùng. Có những người Mỹ họ không chịu nổi mùi hôi thối và đã ra ngoài văn phòng khai báo, ông giám đốc gọi tôi và nhờ nói cho bà ta hiểu rằng chỗ này cấm không cho lạm dụng của công và dù bà có dùng nước trong nhà hay ngoài ngõ thì vẫn trả tiền nước như vậy, không bớt một xu vì họ chia đều tiền nước cho mỗi đầu người, có tắm 3 lần một ngày hay 3 tháng tắm một lần, vẫn phải trả tiền nước như nhau !!!

Ngoài ra nhà ai cũng có 2 cửa, một là cửa chính ra vào cái hành lang chung, một cửa sau mở ra phía vườn hoa chung. Nếu nấu nướng chiên xào nhiều, cần mở cửa cho bớt hôi nhà thì mở cửa sau, bà ta làm ngược lại, và quý vị có bao giờ ngửi mùi mắm ruốc chưng không? cả building tán loạn vì "mùi gì thối thế? có ai ăn thịt chó chết chăng?..." và mùi này đọng trong hành lang cả tháng mặc dù hàng xóm đã xịt hàng trăm chai thuốc thơm !!!

2/ Có bà trông còn trẻ măng (63 tuổi), khoe "em đi bally exercise mỗi ngày, cuối tuần từ thứ sáu đến chủ nhật đi phòng trà nhảy đầm" ... nhưng từ phòng giặt ra đến chỗ đổ rác cách nhau có 3 bước ... mà không làm được. Chị ả mang bao thịt hư cá thối ra bỏ ngay trong thùng rác của phòng giặt, phòng này lúc nào cũng nóng vì máy sấy, sau 1/2 ngày bịch rác của bà này bốc mùi và quý vị có thể tưởng tượng cái mùi kinh khiếp này bay ra khắp hành lang, thiên hạ rủ nhau đi tìm chuột chết !!!

3/ Có bà khoe mình lên truyền hình phổ biến văn hóa VN mỗi tuần, nhưng chính bà ta không văn hóa tị nào cả. Sáng sớm nàng mặc áo ngủ, lèo bèo nhàu nát, vú vê lõng thõng, tự nhiên như cán bộ CS ... vác 5, 7 thùng nước rỗng ra ngay vòi nước chỗ phòng tập thể dục để lấy nước uống ... có người nhờ tôi " khuyên bảo" bà ta, tôi phải dậy sớm từ 5 a.m. làm bộ như đi tập thể dục.  Gặp bà tôi tay bắt mặt mừng "... chị ơi, nước uống này và nước ngay trong phòng chị là một thứ, tại sao lại khỗ sở thế này? vác củi về rừng cho nhọc thân !!! nếu muốn kỹ hơn ra tiệm mua cái lọc nước độ $35 đồng nhờ tên Mễ nó gắn cho tha hồ vừa uống vừa tắm !

... Chị ơi, em biết chị còn sexy lắm mặc dù chị đã ngoài 70, "nhìn chị bao thằng nhỏ dãi" (lời bà ta), nhưng nơi đây là công cộng, có bao đàn ông đủ mọi sắc tộc ở đây, nửa đêm gà gáy chị mặc áo ngủ đi lông bông thế này em sợ có ngày chị sẽ làm phiền cảnh sát Fountain Valley vì : "ông ơi nó hiếp tôi !!!"
 
4/ Có ông đã ngoài 70, khoe là ngày xưa cũng từng là tay chân của tướng K. dưới chế độ VNCH, đồng nghĩa chàng là dân có tiền (tham nhũng thứ thiệt) và cũng có tí "tri thức" (đừng lầm với trí thức), thế mà chiều chiều chàng "diện" bộ pijama nhàu nát, "xi-tru" ... đi đổ rác. Nghề sở trường của chàng là hay ve vãn những cụ bà (có bà là gái bán bar hồi Mỹ đóng ở VN 1962, cũng đã ngoài 70). Cụ ông kia thích sờ mó lung tung để mấy cụ bà này khoái, cho tí tình còm và nấu ăn free cho chàng. Có ngày bà già bán bar này nổi cơn ghen "sư tử Hà Đông", làm loạn ầm ĩ nơi đây với những lời lẽ văn chương cả Việt lẫn Mỹ "bình dân hạ tiện nhất" của loại gái đứng đường ... ôi chao, còn cái gì nhục hơn cho dân mít ở chốn này!!!

5/ Thêm vài tệ nạn xảy ra hàng ngày mà tôi mệt muốn tắt thở không ngăn cản nổi: ăn cắp báo, ăn cắp thức ăn, ăn cắp thuốc, ăn cắp sữa đường ở phòng ăn, ăn cắp hoa ngoài vườn, ăn cắp thư. Tệ hơn nữa ăn cắp xe đẩy từ chợ về vất đầy hành lang và bãi đậu xe mặc dù có khuyến cáo của cảnh sát họ cũng "phớt tỉnh ăng lê"

6/ Có chiều tôi đi dạo với chị bạn, bắt gặp một cảnh thật "điên cái đầu": có 2 người mới đi chợ về (?), xe của họ là loại Mercedes kiểu mới 2011, cộng thêm theo cách ăn mặc và vòng vàng nữ trang họ đeo, chúng tôi đoán là dân có tiền và có "tí ti đầu óc..". Nhưng hỡi ôi, họ mở cửa xe, trước khi bước xuống họ rải ngay một mớ khăn lau tay, bao nylon có chữ thank you màu đỏ ... để lót đường ... cho thấy họ đi chợ chắc đói bụng mua thức ăn, ăn xong về đến nhà còn tiếc công vất rác vào thùng rác của nhà, đau lòng hơn là chỗ họ đậu xe cách thùng rác của chung cư có 1/2 bước. Tôi định ra nhắc nhở họ bài học công dân lớp 3 thì chị bạn vội nắm áo tôi lại "Kim ơi tao lạy mày, i can you, i van you..."

Cũng việc xả rác, người Việt mình hình như "có thú" xả rác nơi công cộng thì phải, hoặc họ mù không nhìn thấy sự dơ bẩn và không có đầu óc phục thiện. Cũng nơi Bolsa chỗ thị tứ, buổi trưa chủ nhật, tôi và chị bạn rủ nhau đi ăn cháo cá chợ cũ. Bãi đậu xe đông nghẹt, chúng tôi đang tìm chỗ đậu thì chứng kiến một cảnh không tha thứ được. Trước xe tôi có một xe Lexux SUV mới toanh, trên xe có 4 người phụ nữ trẻ khoảng 30 - 40, mặt hoa da phấn. Bất chợt cửa xe bên người lái mở và tiếp theo một bịch rác khổng lồ bay xuống đường, ngay trước đầu xe tôi. Cái bịch rác tung toé đầy đường, nào chè nào cháo nào xôi nào bánh nào cafe sữa đá, trông quá khiếp đảm, không còn hình ảnh nào kinh hãi hơn thế nữa ... tôi bèn nổi máu anh hùng định xuống "tả lớ" cho một trận, cũng bà bạn chicken nắm áo lại, "tao lạy mày trăm lạy ngàn lạy Kim ơi, bốn con nặc nô nó xúm lại thì cả tao lẫn mày tan xác".

7/ Ngoài ra người Việt mình có tật ra chỗ công cộng ăn nói ầm ĩ như chỗ không người. Nơi tôi ở có thư viện cho người ta đến đọc sách, tức là chỗ cần yên tĩnh. Các cụ Việt Nam cứ đến túm 5 tụm 3 nói chuyện ào ào như mưa rào, không ai chịu nổi. Chưa kể vào phòng computer cũng thế, mạnh ai nấy nói, um sùm cả lên còn cộng thêm cái tật thích xâm lấn vào đời tư người khác. Người ta đang dùng internet, đọc email, các cụ cứ dí mũi vào đọc mail của người khác mà không biết đó là điều người Mỹ rất ghét, tối kỵ vì xâm phạm vào "sự tự do riêng" của mỗi cá nhân ...  Chúng ta thử đặt địa vị của người khác, mình đang đọc sách hoặc viết văn thư, cần sự yên lặng để làm việc thì một đám người Tầu hoặc người Mễ vào phòng nói chuyện um sùm, mình sẽ cảm thấy ra sao? có điên lên mà chết không? và ý tưởng đầu tiên hiện lên trong đầu sẽ là : "LŨ MỌI..."

8/ Có hôm mùa Đông, sáng sớm độ 6 giờ hơn có người gõ cửa, mở ra thấy bà hàng xóm người Mỹ. Bà ta xin lỗi rối rít vì đánh thức tôi dậy quá sớm vì bà ấy muốn cho tôi chứng kiến tận mắt một bà Việt Nam đang mặc áo ngủ ... đi lục thùng rác. Nhìn qua cửa sổ tôi nhận ra là ai, nhưng không biết nên nói năng làm sao, cư xử như thế nào cho phải ... vì bà VN này luôn luôn hãnh diện và khoe đàn con 9 đứa đều thành công, đều là "SƯ & SĨ...", kể cả có đứa con làm đến chức tổng giám đốc hãng gì gì đó !!! Thật hết thuốc chữa khi nghe bà hàng xóm người Mỹ còn chêm thêm một câu :"tôi nghĩ bà này đi lục đồ ăn thừa vì thấy bà ta cầm mấy hộp màu trắng họ bán food to go .... tụi bay người VN ở đây có cách nào cho bà ta thức ăn để ăn không ???". Tôi á khẩu ...!!!

Tôi biết bà ta không thiếu thức ăn, không đói khát đến độ như thế, lương già của bà ít nhất cũng $850 mỗi tháng, tiền nhà housing trả gần hết, được ở đây sạch sẽ ngon lành chỉ phải tốn có $150, còn lại $700 vừa tiền ăn, tiền tiêu, kể cả đủ tiền đi sòng bài kéo máy mỗi tháng một lần. Như vậy là dư tiêu dùng, cộng thêm 9 đứa con thành danh !!! tại sao lại lục thùng rác lượm thức ăn cũ ??? có ai nghĩ ra được không ??? bà ta lại là hạng người rất thích "xắn váy lên chửi tồ tồ ... ", đụng vào bà là chỉ có chết đến trọng thương mà thôi ! Do đó tôi xin đầu hàng cả 2 tay lẫn 2 chân.

9/ Nhân tiện đây tôi cũng nêu lên thêm "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" lần nữa. Tôi được chứng kiến tận mắt và còn được dạy dỗ nên làm như họ, rất chu đáo là đằng khác :

Chỗ tôi ở có đủ mọi giống người: từ Mỹ trắng, Mỹ đen, Tầu, Đại Hàn đến Trung Đông v.v... và nhiều nhất là Việt Nam, chiếm khoảng 70% dân số nơi chung cư này. Có những người ở đây có đôi có cặp, nghĩa là vợ chồng, cũng có nhiều người sống độc thân. Trong số những cặp vợ chồng tôi quen biết người ngoại quốc, vợ chồng họ đều sống chung cùng trong một căn hộ (apartment), mỗi căn hộ có phòng khách, nhà bếp, nhà tắm và phòng ngủ, đôi khi có hai phòng ngủ hai phòng tắm. Chỉ riêng người VN của chúng ta, tôi thấy có 4 cặp vợ chồng (đấy là sơ khởi thôi, còn thêm bao nhiêu cặp nữa tôi chưa biết), mỗi người sống một căn hộ riêng !!! Nhưng nếu họ ở riêng và trả tiền thuê nhà như những người khác ($1,350 mỗi tháng) thì không thành vấn đề. Vấn đề là họ đã lạm dụng chính phủ, xin cả 2 căn hộ tiền nhà (housing). Chúng ta thử làm một bài toán nho nhỏ xem sao nhé:

-
căn hộ # 1 họ chỉ cần trả $150 tiền thuê mỗi tháng
- căn hộ # 2 họ cũng chỉ trả $150

Hai vợ chồng có hai căn hộ, tổng cộng tiền nhà tốn có $300 mỗi tháng. Họ ở một căn, còn căn thứ hai cho thuê lại tiền mặt $1,000., như vậy hàng tháng họ thu về $700 không cần đóng thuế. Có ai thắc mắc nhà nước kiểm soát, xin thưa: người ở thuê sẽ nhận là người caregiver của họ vì ngoài tiền nhà, tiền thuốc và tiền bác sĩ free (medical) họ còn có caregiver (người làm đến chăm sóc vì vấn đề sức khoẻ) ... đến để ... rửa xe cho họ !!!  họ được hưởng free caregiver từ 20 đến 60 giờ mỗi tuần trong khi họ khoẻ như trâu, đi đứng vững vàng và vẫn đi phòng trà nhảy đầm triền miên !!!

Quý vị ơi, từ khi dân tình VN sang tị nạn tại thủ đô Little Saigon này, tôi thấy xảy ra bao vụ "ăn cướp tiền chính phủ bất hợp pháp, từ các ông Đốc tờ ăn gian lận tiền medical, đến các ông làm đụng xe giả, rồi cũng liên quan đến các chàng luật sư, bác sĩ cùng các chàng bán bảo hiểm. Rồi cộng thêm những quái nhân ăn gian tiền nhà vô tội vạ như 4 cặp vợ chồng tôi vừa nêu trên, thử hỏi làm sao tiểu bang Calofornia không bị phá sản và khánh tận như ngày nay ???

Cái vô liêm sỉ nhất là tôi biết có hai cặp vợ chồng :

a/ một cặp ông chồng là cựu bác sĩ, sang Mỹ từ năm 1975, đã hành nghề tại bệnh viện và cũng có phòng mạch riêng. Họ cũng có 4 đứa con, đều là "SƯ và SĨ" cả, thế mà khi họ về hưu, họ vào khu tôi ở và được hưởng chế độ housing cho hai căn hộ như tôi nêu trên, tài tình thật !!!!!!

b/ một cặp khác có con trai là bác sĩ thẩm mỹ nổi tiếng ở vùng này, con dâu cũng là bà đốc tờ, thế mà họ cũng dùng hai căn hộ housing như trên, quá tài tình ... bái phục bái phục vừa về nhân phẩm lẫn liêm sỉ của họ!!!

10/ Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng (last but not least), có những người tính rất ích kỷ đến độ ... hèn hạ ... thiếu nhân cách con người. Chúa dạy tôi không nên xét đoán người khác, tôi chỉ xin nêu ra đây câu chuyện này hy vọng có thể gửi dến những quý vị đàn ông VN một lời nhắn nhủ: nên anh hùng và tế nhị, khi không giúp được phụ nữ tay yếu chân mềm thì cũng đừng hại người ta đến chỗ có thể chết người ...

Số là chỗ tôi ở có hồ bơi, lâu lâu tự nhiên thấy xuất hiện những "quái nhân" từ ngoài vào xuống hồ bì bõm. Cách đây mấy tháng thấy xuất hiện một ông VN, tuổi đoán ngoài 70, ông ta đến hồ bơi 2, 3 lần mỗi tuần, kỳ nào cũng thấy ông diện bộ vest cũ kỹ nhàu nát từ thời Bảo Đại còn mang tã. Đến hồ bơi ông tự động thoát y từ từ trước mặt đàn bà con gái, giữa ban ngày ban mặt không một chút mắc cở. Đến lúc chỉ còn cái quần xà lỏn kiểu may ở VN trên người, cái quần này mỏng đến độ có thể thấy hết "mọi sự" bên trong, xuống nước thì quần mỏng dính sát vào thân hình càng rõ hơn, "cái ấy" của ông ta size to bé thế nào ai ai đều thấy được hết. Đã thế ông ta nhảy ùm xuống hồ nước nóng (jacuzzi), việc đầu tiên ông ta thọc ngay hai tay vào quần ... kỳ cọ !!! rồi chạy lên kỳ cọ hai cái nách rổn rảng, tự nhiên như CS 1975 !!!  Chưa có cảnh nào trên đời kinh khiếp ghê tởm như vậy. Tôi thấy khiếp hãi quá đành phải khuyên đôi lời: "bác ơi, xin bác hãy vào phòng WC thay quần áo .... xin bác mặc quần tắm và không nên mặc xà lỏn này tắm trước mặt đàn bà con gái công chúng ... kỳ lắm ...". Nhưng nước đổ đầu vịt, mỗi lần ông ấy xuống nước là chúng tôi lên bờ và sau 3 lần khuyến cáo chúng tôi phải report cho nhân viên ở đây để họ ngăn cản ông ta đến làm trò "phạm thuần phong mỹ tục".

Vừa thấy ông VN biến thì lại xuất hiện một ông Tàu từ ngoài vào tắm lậu, cũng dơ dáy và thoát y trước mặt đàn bà như chỗ không người. Các bà ở đây lại giao cho tôi việc khuyến cáo tên này. Thấy nó to con tôi cũng hơi sợ nhưng chướng mắt quá bèn can đảm nói nó vào phòng vệ sinh ... thay quần. Nó cũng giả điếc còn làm tới hơn, càng phô trương lộ liễu hơn .... trong lúc không biết tính sao, tôi thấy có 1 ông VN quen trong chung cư này xuống tắm bèn nhờ anh ta, chờ lúc thằng Tàu thay quần giả bộ như bắt gặp quả tang, lên nói chuyện với nó "đàn ông với đàn ông" dễ thông cảm !

Phải nhờ ông VN vì dù sao tôi không muốn nó biết tôi là thủ phạm "càm ràm" nó, nhỡ nó trả thù tôi thì sao? Không hiểu chàng VN nói năng ra sao, ngôn ngữ bất đồng chăng? ngày sau nó vẫn như thế, tôi gọi ông VN nhờ lên văn phòng report dùm. Thay vì lẳng lặng ra văn phòng report, ông này vô ý vô tứ và điên vô cùng, ông ra ngay hồ bơi trước mặt tên Tàu đấy, rống lên hỏi tôi "có nên report thằng Tàu bây giờ không". Đúng là không có cái ngu nào bằng cái ngu này, "lạy ông con ở bụi này". Kết quả hai ngày sau thằng Tàu lại xuống tắm, trước sự chứng kiến 5 bà VN khác nó đá cho tôi một cú thật đẹp và hào hùng gần gãy ba cái xương sườn và bầm tím ngực !!! nếu có ngực giả thì bong bóng trong ngực chắc cũng bể mất rồi ! Tôi đau điếng và thật sự chửi thầm ông VN, người đâu vô tích sự, mang tiếng có học, nghe đâu ngày xưa ở VN cũng là dược sĩ mà sao đần độn quá sức ... đến bây giờ tôi vẫn còn sợ ra đường thằng Tàu rình đánh tôi trả thù .... vì sự vô trách nhiệm của ông VN hàng xóm ... Thiệt tình hết thuốc chữa !!!

Trên đây là những mẩu chuyện tôi đã và đang gặp hàng ngày. Tôi cũng chỉ là con người, tôi không toàn hảo, cũng có những khiếm khuyết. Tôi nêu ra đây những sự việc đau lòng và mong những ai đó, những ai còn nặng lòng với quê hương xứ sở, thông cảm và cho ý kiến nên làm gì ? Một cây làm chẳng nên non, biết rằng "nhân vô thập toàn" nhưng làm sao cho mọi người ý thức được những sự việc họ làm rất là "vô giáo dục, vô liêm sỉ", không chấp nhận được.

Tôi ước mong chúng ta hãy cố gắng sửa đổi để cộng đồng người Việt chúng ta "sạch sẽ" hơn và học được "sự tự trọng" như dân tộc Nhật ?

Họ làm được tại sao mình không làm được nhỉ?


Thiên Kim

06 October 2011

Việt Nam Đi Về Đâu?

 Việt Nam Đi Về Đâu?
 hỒ tẤn vinh
Đây là câu hỏi mà ai có suy tư về đất nước đều có khi tự hỏi mình.
Đây là nói chuyện tương lai.
Có những sự kiện ta có thể dựa vào mà tiên đoán không sai.
Có những cái ta không thể nào biết trước được.
 
Chủ nghĩa CS là sai lầm. Đây không phải là vấn đề ý thức hệ trừu tượng hay triết lý mông lung gì cả. Đây chỉ là vấn đề thiết thực của chén cơm mà thôi. Chủ nghĩa CS cản trở phát triển kinh tế, vì vậy chế độ CS ở Việt Nam sẽ phải bị thay thế. Đó là điều chắc chắn.
Trong quá trình thành lập chế độ CS ở Việt Nam, Việt Cộng đã giết quá nhiều nhà ái quốc và thường dân vô tội. Không thể nào những cái chết đó không ray rứt từng giờ từng phút lương tâm của người CS. Mặc dầu thân xác đã trở thành cát bụi, nhưng những hạt bụi tức tưởi đó đã dính vào bàn tay mà kẻ phạm tội nếu không có lòng thành khẩn không dễ dàng phủi đi. Người CS phải ăn năn và xin tội với nhân dân. Không ai có khả năng chỉa súng vào đầu người CS để bắt họ làm chuyện đó. Nhưng để có một chỗ đứng 'làm người' trong Chánh Sử thì đó là chuyện bắt buộc họ sẽ phải làm.
Sám hối dưới hình thức nào và khi nào thì chưa thể biết được.
 Lúc đầu thế kỷ, vì chưa va chạm vào thực tế, chủ nghĩa CS có thể tự gạt mình và gạt luôn thiên hạ, nhưng bây giờ thì cả thế giới ai cũng biết chủ nghĩa CS là sai. Cho nên dầu bề ngoài còn làm bộ nói cứng nhưng ngay chính người CS cũng biết mình là dõm. Vấn đề là họ có phải ôm cái sai lầm đến hết cuộc đời mình hay công khai hóa lúc còn sống.
Sám hối chỉ là cây thước đo chính họ. Coi ngày nay người CS có còn đủ can đãm đối diện với sự thật không?
Nếu họ làm được bây giờ thì ngay bây giờ họ cũng có thể hưởng được cái cảm giác kỳ diệu mà Đức Phật gọi là 'cái đáng phục nhứt của đời người' và một hai thế hệ sau, con cháu của họ khi nhắc đến họ đều có thể ngưỡng mộ.
Chẳng những vậy, chỉ khi nào có những dấu hiệu rõ rệt 'lãng tử hồi đầu' thì họ mới nhận được sự trợ giúp to lớn về trí lực và tài lực của người Việt hải ngoại. Thật ra, trước đây, vào những năm thập niên 80, người Việt hải ngoại có gián tiếp cứu sống CSVN qua số tiền gởi về giúp thân nhân. Nhưng đó chưa phải là sự trợ giúp tự nguyện, nhiệt tình và toàn lực. Một trợ giúp có ý thức ái quốc. Trợ giúp này to lớn đến mức nào, có thể chính người Việt hải ngoại cũng không ý thức hết tầm vóc tiềm lực của mình. Nhưng không có cái trợ lực này, chánh quyền Việt Nam đi đến đâu – dầu là đi thương lượng thương mại hay đi giao tiếp ngoại giao – vẫn mãi bị lép vế. Chỉ vì một lý do giản dị là quá khứ quá nặng nề nó đè cái đầu không thể ngẩng lên được. Chuyện thương lượng biên giới và hải phận với Trung Quốc là một bằng cớ.
Nếu họ chọn con đường dễ dàng cho mình và đùn cái gánh nặng đó cho những người CS hậu bối thì khi đó chính những con cháu của họ khi nhắc đến họ chỉ có thể tiếc nuối mà thôi.
Năm 1975, Việt Cộng có thể tự hào là đã đuổi người ngoại quốc ra khỏi và giành độc lập cho đất nước.
Nhưng ở các nước Bắc Phi thuộc địa của Pháp, Ben Bella đã giành được độc lập cho Algérie năm 1962, Vua Hassan II giành được độc lập cho Maroc năm 1956, Habib Bourghiba giành độc lập cho Tunisie năm 1956. Ba người này, không có ai là cộng sản cả. Nếu ở VN, CS không có xía vô thì người quốc gia đã giành hoàn toàn độc lập cho xứ sở từ lâu rồi và không phải tốn quá nhiều xương máu như đã phải chịu. Cho nên lấy cái 'giành được độc lập' mà hãnh diện là thấy như vậy mà không phải như vậy.
Hằng năm, vào ngày 30 tháng 4, CSVN thường tổ chức diễn hành trước Dinh Độc Lập. Nhưng ngày đó không phải là ngày toàn dân ăn mừng. Ngày đó, nhân dân miền Nam lo tìm đủ mọi cách để vượt biên không có ăn mừng. Ngày đó, Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát bị phỏng tay trên, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hối hận vô cùng, những người CS nằm vùng vỡ mộng, mấy người này không có ăn mừng. Ngày đó, nhân dân miền Bắc chờ đợi miền Nam thắng trận để họ được giải phóng luôn không có ăn mừng. Ngày đó thật sự chỉ có hai triệu đảng viên CS, quân đội và công an ăn mừng. Ngày đó giống như ngày ăn cướp đánh được một nhà giàu rồi lấy rượu thịt trong nhà ra nhậu với nhau. Từ năm 1945, cái ngày mà toàn dân mơ ước để ăn mừng nhiệt liệt chưa có đến.
Sở dĩ chế độ CS ở VN được thành lập và cho tới giờ này còn tồn tại là vì mặc dầu chống cộng là một chánh nghĩa, nhưng chánh nghĩa đó đã bị bọn cơ hội lạm dụng.
Trước năm 1975, không cần bàn đến những chủ trương, đường lối xa xôi gì cả, chỉ nội cái cá nhân tham lam, hành xử kiêu căng, cái tâm địa tàn ác, triệt tiêu các người khác chánh kiến của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cái mua quan bán tước công khai, kết bè kết đảng  của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ là đủ bôi lọ chánh nghĩa quốc gia rồi. Họ là những người lãnh đạo cuộc tranh đấu, hằng triệu triệu người nhìn vào các cử động của họ. Họ là cái gương. Mà cái gương đã chiếu ra quá nhiều tư dục và dã tâm thì cái chánh nghĩa họ kêu gọi, ai mà tin. Không phải quần chúng vong ân bỏ rơi lãnh tụ. Chính lãnh tụ đã tự mình phản bội trọng nhiệm của một lãnh tụ.
Sau năm 1975, việc chống cộng phải bị tách ra một ngã khác. Vì không còn hệ thống chánh quyền quốc gia nữa, nên không còn mối lợi thầu độc quyền nữa, chuyện chống cộng thành những trận võ tự do nho nhỏ.
Các ông Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch đều là những người dũng cảm. Nhưng kế hoạch dùng vũ lực của họ từ nước ngoài về đã phải thất bại. Mỗi người trong chúng ta đều có thể lý giải những cái thất bại đó khác nhau, nhưng chúng ta đều có thể thấy và đồng thuận là dùng vũ lực từ nước ngoài về là thất bại.
Nếu dùng võ không được thì dùng văn xem sao. Ông Trần Văn Lắm, cựu Chủ tịch Thượng Nghị Viện VNCH lúc sinh tiền cho rằng Việt Cộng vi phạm Hiệp Định Paris nên phải đem Việt Cộng ra Tòa Án Quốc tế. Còn GS Nguyễn Ngọc Huy thì để hết tâm tư và thời gian cho đến chết để thành lập Ủy Ban Quốc Tế Yễm Trợ VN Tự Do.
Thử lấy cái Ủy Ban này ra phân tách. Không dễ gì mời được một chánh khách tên tuổi vào Ủy Ban. Chắc chắn phải qua một sự giới thiệu hay dàn xếp sao đó, rồi phải hẹn hò, trình bày, thuyết phục thì mới mời người ta đuợc. Một hay hai năm sau cùng, mặc dầu bịnh ung thư đã phát rồi, Giáo Sư còn ráng qua Úc. Trong chuyến đi này, Giáo Sư đã được Thủ Lãnh John Howard của Đảng Tự Do lúc bấy giờ là Đảng Đối Lập tiếp kiến. Nhưng khi Giáo Sư mời John Howard vào Ủy Ban Quốc Tế Yễm Trợ Việt Nam Tự Do thì John Howard từ chối. Tới giờ chót, Ủy Ban cũng mời được một số người ở Âu, Mỹ, Úc, Gia Nã Đại.
Trong trường hợp mà GS Nguyễn Ngọc Huy không mất sớm và có thì giờ đi đây đi đó thì tối đa là Giáo Sư đi đến được một trăm nước và mời được một trăm ông Thủ Tướng, thì cái Ủy Ban đó là cái gì? Dạ thưa đó là Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bây giờ nếu Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhóm và biểu quyết rằng Việt Cộng là phiến loạn phải trao quyền lại cho người quốc gia thì sao?
Ngoại trừ có những bí ẩn động trời, chớ cái ý nghĩ rằng Việt Cộng sẽ run sợ một phán quyết của một Tòa Án Quốc Tế nào đó hay một cuộc biểu quyết của Đại Hội Đồng, rồi quỳ gối xuống dâng chánh quyền lên – là một ý nghĩ thật tình khó hiểu. Rồi ai dám về Hà Nội nhận cái bàn giao đó?
 Ta phải chia công cuộc chống cộng ra thành hai chủ  trương. Một chủ trương lật đổ chế độ CS và một chủ trương lên án CS.
CS Việt Nam là ngụy, nhưng họ đang có quyền lực. Lính CS biết bắn súng. Muốn lật đổ họ thì đối thủ cũng phải có một lực lượng. Lực lượng này có thể là một ngoại lực hay nội lực. Kẻ nào chọn dùng ngoại lực thì dầu có thành khẩn tới đâu rồi cũng có nguy cơ bán nước nhiều hơn là cơ may cứu nước. Tuy nhiên, ta chưa đến giai đoạn đó. Từ ba mươi sáu năm nay ta chỉ mới đi lòng vòng để không đi đến đâu.
Năm xưa, hồi thời chống Pháp, Việt Nam có hai đảng phái lừng danh. Đó là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng. Lúc khởi thủy, hai đảng này dùng hoàn toàn nội lực, và người Việt lớn hay nhỏ gì khi nghe nhắc đến hai đảng này đều tỏ ra vô cùng khâm phục. Sau năm 1975, khi ra ngoại quốc, đáng lý họ phải biết lợi dụng cái không khí tự do và an toàn để mà hội họp, bàn thảo và khuếch trương đảng, tăng cường nội lực nhưng các đảng quốc gia này đột nhiên có sáng kiến lạ lùng: họ tự chặt tay chơn của mình. Việc này cũng không cần giấu giếm. Từ việc lạnh lùng làm ngơ, bỏ rơi các đảng viên còn kẹt lại trong nước hay ở các trại tỵ nạn đến việc phân hóa chống đối nội bộ cho đến tàn lụi. Đây là một sự cố hết sức bất ngờ. Mà nội lực xưa nay vẫn là nền tảng tổ chức của một đảng ái quốc. Bây giờ thì – ai cũng có một chút bảo bối để cho là mình chánh thống – nhưng không ai có nội lực cả. Chẳng lẽ một đảng phái chỉ cần có một ban hội tề là đủ?
Chỉ có chủ trương dùng nội lực là đúng mà thôi. Mà nội lực là sự chung góp tài lực, trí lực, nhân lực của người Việt quốc gia tới giờ này không thực hiện được. Ngay chỗ này cũng cần minh bạch. Không phải ai cũng vô trách nhiệm hết. Chủ tiệm phở muốn đóng góp, chủ tiệm may muốn đóng góp, nghĩa là quần chúng rất nhiệt thành. Nhưng ai là người hiệu triệu? Ai dẫn đường?
Đâu phải khó khăn gì, chỉ cần nhìn vào những biểu hiện lúc sinh hoạt là có thể biết ngay! Các người tự cho mình là lãnh tụ quốc gia, các 'Sĩ phu hữu trách', các 'Đại thần' khi xưa chỉ cần giao thiệp với nhau hòa nhã, thân thiện, làm quyết định thật dân chủ, hợp tác với nhau thật chân thành để cho người dân – trong nước cũng như hải ngoại – nhìn vào một hình ảnh đẹp để mà so sánh. Cái mà họ cần làm – không phải là lên trời hái sao – mà làm sao tạo cho người dân lầm than trong nước cái cảm giác 'cũng là người Việt như nhau, nếu bọn CS bằng phân nửa người Việt hải ngoại thì đỡ khổ biết mấy!' Làm sao cho trong tối tăm những người cùng đường còn nuôi được một hy vọng.
Chán chường và khinh bỉ là những cảm xúc của con người tuyệt vọng. Cầu xin đừng tạo cho người dân Việt phải chịu những cảm giác này một lượt đến hai lần: 'nếu đuổi được đám CS này đi mà để đám hải ngoại kia về thì cũng như không!'
Ở Âu châu, ở Á châu, ở Mỹ châu, ở Phi châu, chỗ nào chữ 'Tự do' cũng viết bằng máu. Tự do không ai cho không, cũng không có ai đi tranh đấu giúp, phải tự mình đổ máu mới giành được. Trong lúc nội lực không có, lại cũng không chăm lo gầy dựng nội lực, mà hễ mở miệng ra là hô hào lật đổ chế độ CS ở Việt Nam thì quả thật là thê thảm, nó vừa khôi hài vừa tàn nhẫn.
Còn một khía cạnh thứ hai của công cuộc chống cộng là chủ trương lên án CS. Sự tự mình biết giới hạn là một hành động rất thiết thực và khôn khéo. Theo đường lối hành động này, từ ba mươi sáu năm nay người Việt đã tỏ ra vô cùng xuất sắc. Ở trong nước, các tôn giáo bằng hình thức này hay hình thức khác liên tục tố cáo các sai trái của chánh quyền CS. Ở ngoại quốc, các lãnh tụ CS khi đi công du đến đâu cũng gặp người Việt tập hợp phản đối. Những ngày lễ quan trọng như Tết Nguyên Đán, những kỷ niệm hãi hùng như ngày 30 tháng Tư đều được cộng đồng  nguời Việt Tự Do nhiệt tình tổ chức.
Thật là cảm động khi thấy các thanh niên mặc quân phục VNCH đứng trong nắng chang chang của Thành phố Richmond ca hát giúp đồng bào hưởng Tết tha hương. Thật là cảm động khi thấy các thiếu nữ trong áo dài tha thướt mời đồng bào mua dĩa nhạc của Phạm Quang Ngọc. Vô cùng hùng tráng là đoàn người từ các Tiểu bang tập hợp tại Canberra tưởng nhớ ngày Quốc nhục.
Uy vũ khuất phục không được, tiền bạc mua chuộc không được, ngạo nghễ với thời gian vẫn là các văn nhân, nghệ sĩ Việt nam khắp năm châu.
Nhưng những hành động bất bạo động này không thể lật đổ bạo quyền. Nó chỉ có giá trị tinh thần là nhắc nhở cho mọi người - nhứt là người CS - rằng chế độ CS là sai lầm, hại dân hại nước. Chế độ đó cần phải thay đổi.
Áp bức, bóc lột, bất công luôn luôn là lý do khiến người ta giương cờ Đại Nghĩa. Việt Nam ngày nay cũng lại cai trị bằng  'Ba Bê' mà tự xưng là làm cách mạng là sao? Quốc gia chia rẽ. Giai cấp lãnh đạo áp bức giai cấp bị trị. Việc người bóc lột người không còn bị coi là vô luân đáng hỗ thẹn mà nó lại được nhìn nhận là 'tự nhiên trong giai đoạn quá độ'. Nhân tâm ly tán. Người có chánh quyền trong tay có thể lợi dụng được ưu thế đó để kiếm 'đồng tiền dễ dàng'  mà sống phè phởn và người dân là công dân hạng hai phải giả đui, giả điếc để sống qua ngày. Đó là cách tốt nhứt để thi hành một câu ân cần mà cán bộ CS thường khuyên nhủ 'đừng có chỉ trích Đảng, ngoài ra thì muốn làm cái gì cũng được'.
Ai cũng muốn thay đổi tình trạng tự do phân nửa đó. Bất mãn thì có nhiều, nhưng những bất mãn này còn trong trình trạng rời rạc, chỉ là những hạt cát. Còn thiếu chất xi măng.
Tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu?
Có hai trường hợp có thể xảy ra.
Trường hợp thứ nhứt là khi sự lạm dụng chánh quyển đến mức quá độ và đường lối phát triển sai lầm đưa đến nền kinh tế suy sụp khiến người dân chịu không nổi hai gọng kềm này nữa thì bắt buộc phải xảy ra 'cùng tất biến'.
Cụ thể mà nói, khi nào có đất để bán hay cho mướn, hay khi nào còn mượn tiền của ngoại quốc được hay khi nào còn ký được những hợp đồng béo bở, thì đời sống vẫn còn thoải mái. Nhưng mãnh đất chỉ bán được một lần thì thôi. Đất cho ngoại quốc mướn làm đồn điền hay hãng xưởng thì cũng phải giao kèo gần một trăm năm. Còn tiền nợ ngoại quốc đến lúc trả tiền lời không nỗi nữa thì người ta đâu có cho mượn tiếp. Còn hợp đồng thì đâu có hoài để ký . . .
Trong bối cảnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ đến VN giống như một người bịnh ngặt nghèo đang nằm trên xe cứu thương mà lại bị thêm tai nạn lưu thông nữa . . .
Thiên hạ không còn có tiền nhiều để mua hàng nhập cảng nói chung thì hàng hóa xuất khẩu của VN cũng sẽ giảm. Hàng gia công như giày dép, áo quần cũng sẽ giảm, ngay cả chuyện đau lòng và nhục nhã nhất như nhân công xuất khẩu cũng sẽ giảm. Các kế hoạch xây cất khách sạn mới sẽ ngưng. Khách du lịch ngoại quốc sẽ giảm. Ngay cả tiền ăn nhậu của các cán bộ tham nhũng, của dân làm áp phe đã giúp các quán, các bar sống nhộn nhịp trước đây cũng sẽ giảm. . .
Những nhân công trước đây dù đồng lương ít ỏi nhưng vẫn có thể tự nuôi mình và có chút tiền nuôi gia đình. Bây giờ nếu họ bị thất nghiệp thì họ không còn đất đai ở nhà quê để mà trở về trồng trọt. Chén cơm bắt đầu phải chia hai rồi chia bốn. Chẳng bao lâu nữa, 80 triệu người Việt Nam sẽ bị kẹt cứng. Lúc đó chất xi măng sẽ xuất hiện.
Cái ngày bi đát đó sớm muộn gì rồi cũng phải đến vì bốn nguyên do khách quan. Dân số gia tăng. Tài nguyên giảm. Cạnh tranh quốc tế sẽ khốc liệt hơn và cuối cùng là cái bất tài lãnh đạo. Cái ngày bi đát đó cũng tự nó có mâu thuẩn. Cái ngày đó không thể một sớm một chiều mà đến liền được. Nếu vô casino đánh bài thì một đêm có thể thua một tỷ đô, nhưng nếu muốn phá nát cả nước VN thì phải cần nhiều năm lắm.
Trong lãnh vực kinh tế, hễ tỷ lệ phát triển ba năm liền mà âm thì là khủng hoảng kinh tế. Nhưng có khi không cần có khủng hoảng kinh tế mới có đại loạn. Nếu trong nước mà đời sống quá chênh lệch, một số ít quá giàu và phung phí tiền bạc ngang tàng và số đông quá nghèo, cơm không đủ ăn, nếu số người ở tù quá đông chỉ vì có ý kiến khác với chánh quyền, thì đó là những dấu hiệu chắc chắn của bất ổn xã hội sắp xảy ra.
Trong một nước, luôn luôn có một lực lượng xây dựng và một lực lượng phá hoại. Hễ xây dựng nhiều mà phá hoại ít thì có tiến bộ. Ngược lại xây dựng ít mà phá hoại nhiều thì nước sẽ đi thụt lùi. Hể cứ thụt lùi hoài thì sẽ đến ngày tàn lụi. Ai ai cũng mong mỏi ngày tàn lụi của CS đến càng sớm càng hay nhưng có nhiều lý do khiến ngày đó vẫn còn xa xôi. Nhưng ngày đó sẽ đến khi nước VN kiệt quệ. Ngày mong mỏi đó cũng là ngày đáng sợ nhứt. Cứ để theo tự nhiên, ngày đó sẽ đến như một chiếc xe tuột dốc mà không có thắng.
Thế giới ngày nay có quá nhiều thiên tai. Ngay cả những nuớc giàu có cũng khó khăn lắm mới cứu trợ thiên tai trong nước của mình. Cho nên việc cứu trợ quốc tế sẽ dần dần chỉ có tính cách tượng trưng.
Nếu lúc đó lại có thêm thiên tai thì nước VN sẽ vô cùng tàn nhẫn. Chính quyền sẽ không có khả năng cứu trợ sẽ xẩy ra tình trạng ai chết mặc ai.
Trường hợp thứ hai là có người CS thức thời muốn tránh cái nguy cơ trên thì phải hành động trước. Trói buộc người dân vào chủ nghĩa CS là người CS thì cởi trói cho người dân khỏi chủ nghĩa CS cũng phải là người CS. Đảng CSVN phải theo cái gương của Liên Sô.
Đứng chung với người CS phản động, tôi tin rằng vẫn có những đảng viên thành tâm và sáng suốt. Và những người này cũng biết đau lòng vì tình trạng đất nước. Chắc chắn rồi đây, trong số những người này, sẽ có người đủ hùng tâm, dũng khí để làm những chuyện phải làm. Đây là một chọn lựa rất khó khăn vì muốn đi con đường gian nan này thì phải bắt đầu bằng sự tự nguyện hy sinh những lợi lộc nhứt thời. Nhưng đây cũng là con đường vinh quang. Kết hợp trăm họ về một mối, đoàn tụ anh em, tạo dựng hạnh phúc cho mọi người xưa nay vẫn là hành động của những Đại Nhân.
Đế quốc Liên Xô tháo gỡ được thành công là nhờ Thế Giới Tự Do khuyến khích về tinh thần và giúp đỡ về vật chất.
Nguời Việt Tự Do thật sự yêu nước cũng phải giúp đỡ CSVN trong tiến trình này.
Thời gian nghiêng về đâu?
Đối với người Việt Tự do ở hải ngoại, nếu họ ở khoảng tuổi 60-80, bao nhiêu phấn đấu, cực khổ để định cư đã qua. Bây giờ  cuộc đời của họ đã ổn định rồi. Chén cơm, manh áo không còn phải lo nữa. An hưởng tuổi già chung quanh con cháu là hữu phước rồi, còn mong muốn gì hơn?
Nếu họ ở tuổi 30-50 thì hầu như đa số đã trải qua ít nhứt một lớp huấn luyện sinh ngữ để hòa nhập vào xã hội mới, một số đã được huấn luyện nghề nghiệp chuyên môn để tự lập, một số đã tốt nghiệp Đại học. Một số đã là tỷ phú rồi. Một số không ít đã nổi danh. Tất cả đều có công ăn việc làm. Tương lai rực rỡ mở rộng cho họ. Không ai có ảo vọng về VN tranh giành chức tước.
Đối với người Việt Tự do dầu ở lứa tuổi nào, nước VN có bị CS giày vò như thế nào và cho đến chừng nào, không có làm thiệt hại gì đến đời sống của họ hết. VN đã trở thành một dĩ vãng, một dĩ vãng có cả đau buồn và luyến tiếc. Nhưng chắc không còn ai dám đổ máu vì cái dĩ vãng xa xôi đó nữa. Thời gian giúp con người chấp nhận thực tế. Mặc dầu tình nước vẫn vấn vương, nhưng vấn đề VN không phải là vấn đề sinh tử đối với người Việt hải ngoại.
Trong bối cảnh đời sống thành đạt và phồn vinh của người Việt hải ngoại, thử lấy vấn đề nhân dụng ra bàn. Chắc chắn lương của một giám đốc ngân hàng ở các nước tiền tiến là phải hơn nhiều lương của một giám đốc ngân hàng ở VN. Tự nguyện bỏ  đồng lương lớn để lấy đồng lương nhỏ chỉ có thể xảy ra nếu có một động cơ ái quốc mãnh liệt. Nhưng lòng ái quốc này không còn bồng bột như xưa, lúc thanh niên lên đường ca hát vang trời 'Mùa thu rồi, ngày hai mươi ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. . . Rền khắp trời, lời hoan hô . . .'
 Vì cái kinh nghiệm của lịch sử, vì kiến thức có mở rộng hơn, vì cái dấn thân vào chỗ mơ hồ là quá phiêu lưu, nên cái đắn đo là tất nhiên.
Vì vậy khoan vội coi vấn đề trọng dụng nhân tài là đơn giản. Người có tự trọng không thể nào đi phục vụ cho một chế độ độc tài. Người có tài ba không thể đành lòng phí phạm thời giờ của mình với một chánh sách sai. Cho nên không hẳn phải dẹp bỏ liền đảng CS, nhưng vấn đề chia quyền phải được thẳng thắn đặt ra.
Nghe nói đến chia quyền là người ta thường, bĩu môi, khinh bỉ, vì nghĩ đến việc chia chác quyền lợi. Nhưng chia quyền trong chánh trị là một kỹ thuật tổ chức của những người thành tâm và viễn kiến tự bày ra để bảo đảm dân chủ, chẳng hạn chia quyền ra bốn cơ quan độc lập: hành pháp, lập pháp, tư pháp, ngôn luận để các cơ quan này kềm chế lẫn nhau, thì mới tránh được sự lạm dụng quyền hành. Chia quyền là tinh túy của tư tưởng chánh trị cổ kim.
Vì vậy, xin khoan vội hiểu 'chia quyền' là mời vài người Việt ở hải ngoại tham chánh là đủ. Chia quyền đây phải là bước đầu tiên để trả quyền chánh trị lại cho nhân dân, mà đại bộ phận của nhân dân là người trong nước. Và chia quyền lại không có nghĩa mời vài người ngoài đảng vào nội các trong nhiệm vụ thừa hành lệnh của đảng CS. Chia quyền phải thật sự là chấp nhận người ngoài đảng CS có quyền thảo luận và quyết định chánh sách của cả nước.
Thời phong kiến, các Vua anh minh không tự mình độc đoán trị dân mà lại tìm kiếm nhân tài. Người được giao trọng nhiệm được tự do sáng kiến, tận hết khả năng để làm việc. Và có khi để thật hữu hiệu, và để tỏ rõ quyết tâm, Vua còn ban cho quyền 'tiền trảm hậu tấu'. Ngày nay, nếu đảng CS vẫn cứ bo bo giữ độc quyền cai trị và kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt của người dân thì làm gì có nhân tài hưởng ứng?
Chỉ khi nào VN có thay đổi và nếu đất nước thật sự cần đến, thì nguời Việt hải ngoại chắc chắn không từ chối hợp tác. Không chỉ hợp tác về nhân sự mà là một sự hợp tác toàn diện, nó bao gồm cả kinh tế, tài chánh, thương mại, văn hoá. . . Hợp tác là đã hy sinh rồi. Ngoại trừ một số người cơ hội muốn thừa nước đục thả câu, còn phải chờ đến chừng nào thì chờ, chớ người có khả năng đâu có nôn nóng. Thời gian không có thúc người Việt hải ngoại được.
Năm xưa trong lúc tranh quyền, người CS có giết các nhà ái quốc đó là tội phản nghịch. Sau năm 1975, trong suốt hơn ba mươi sáu năm, chủ nghĩa CS không đem đến hạnh phúc cho nhân dân. Còn tiếp tục tôn thờ một chủ nghĩa đã sai là tội bất tài tập thể. Sau đó, biết rất rõ có cách để khai thông bế tắc mà không chân thành với chính mình, không đủ can đãm yêu nước, đây là tội tư kỷ. Cả hai tội này gom lại là một tội mới, tội cột chân nhân dân không cho tiến lên. Đừng tưởng thời gian sẽ xóa tội này được. Thời gian càng kéo dài, đất nước càng trì trệ, nhân dân càng đau khổ, thì cái tội này càng lớn.
Không cần phải là Trạng Trình cũng có thể biết chắc chắn là sau này Việt Nam sẽ là một nước thịnh vượng. Tài nguyên dồi dào. Người dân làm việc cần cù, trí óc thông minh và sống có đạo lý. Đó là các điều kiện cần thiết – nhưng chưa phải là đủ. Còn phải có nhân hòa nữa. Cho nên cái thịnh vượng này không chỉ đo bằng số lượng xe hơi, TV, tủ lạnh mà người dân mua được, mà nó còn phải biểu lộ ra bằng nếp sống hài hòa và cái tự do tự quyết của nguời dân.
Gia hòa vạn sự hưng. Cũng không cần phải là Trạng Trình cũng có thể biết rằng sự thịnh vượng này chỉ có thể đạt được nếu tất cả người dân có cơ hội đóng góp. Sự thịnh vượng này đến sớm hơn nếu có người Việt hải ngoại tiếp sức.
Tấm lòng yêu nước của mỗi người liên hệ có cao hay thấp không tùy thuộc vào sự kiên trì chỉ trích đối phương mà tùy thuộc hoàn toàn vào cái thành tâm và cái can đảm của mỗi người tự nhận lỗi của chính mình.
Tình tự dân tộc bấy lâu nay là nói nhảm, chừng đó mới thật sự bắt đầu.
 
hỒ tẤn vinh
Khởi viết ngày 13 tháng hai 2009
Bây giờ là tháng 10 năm 2011
mọi sự việc vẫn còn như vậy
            Melbourne

Lê Quang Vinh (Ba Cụt) Loạn Tướng Hay Anh Hùng

Lê Quang Vinh (Ba Cụt) Loạn Tướng Hay Anh Hùng
Trần Ngươn Phiêu
 
      Năm 2005 đã được đánh dấu bằng sự phổ biến Bạch thư về Nhân quyền của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Trong lúc hầu hết các diễn đàn dân chủ trên thế giới đều đồng loạt lên án nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay là một trong những tập đoàn độc tài, tham nhũng nhất trên thế giới, cuốn Bạch Thư thật đã là một tài liệu trơ trẽn, xấu hổ, nói cho có được, những việc không ai dại dột gì tin tưởng. Một đất nước khoe khoang có hơn 600 tờ báo nhưng không kể được có một tờ nào của tư nhân, một quốc gia không dám chấp nhận cho dân chúng tự do thực hành tín ngưỡng của các đạo giáo mà cố vỗ ngực khoe là một quốc gia tự do dân chủ bật nhất, thật không có gì có thể khôi hài hơn nữa! 

     Trong những tháng cuối năm 2005, đặc biệt ở miền Nam, nhà cầm quyền Cộng sản lại phát  động một phong trào đàn áp khốc liệt đối với tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Trong chủ trương ngăn cản việc phát huy các tôn giáo, người Cộng sản đã lấy quyết định chọn giáo phái Hòa Hảo để ra tay trước tiên vì họ nghĩ rằng Phật giáo Hòa Hảo không có uy danh quốc tế nên dễ đàn áp mà ít bị mang tiếng. Nếu thành công, họ sẽ tiếp tục tỉa dần các giáo phái khác.

     Trong quá khứ, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đã nhiều lần phải gánh nhiều pháp nạn, kể cả trong thời Đệ nhất Cộng hòa dưới chánh thể của T.T. Ngô Đình Diệm. Mặc dầu trong những buổi đầu trở về Việt Nam chấp chánh, T.T. Diệm đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của các giáo phái Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo...nhưng về sau, do những toan tính củng cố quyền hành của cố vấn Ngô Đình Nhu, ông Diệm đã quyết định dẹp bỏ các lực lượng giáo phái, giải tán Dân Xã Đảng...làm suy yếu những thành phần đã có công đối đầu từ lâu với lực lượng Việt Minh ở miền Nam.

     Vốn là một nhân vật xa lạ đối với dân chúng miền Nam, không có quá trình tham dự vào cuộc chiến từ ngày xảy ra cuộc Nam bộ Kháng chiến, ông Ngô Đình Diệm đã có những đối xử làm mất hẳn lòng ủng hộ của giới nông dân miền Nam. Trường hợp T.T. Diệm đối xử với nhân vật Ba Cụt của Nghĩa Quân Cách Mạng Hòa Hảo đã khiến ông mất hẳn uy tín đối với dân chúng nông dân. Với cái nhìn của một trí thức khoa bảng quan chức miền Trung, T.T. Diệm đã không thấu hiểu được tâm trạng của một chiến sĩ như Ba Cụt, một nông dân yêu nước chân chất đã từ trong quần chúng đồng bằng Sông Cửu, quật khởi đứng lên chống đối Việt Minh đã ám hại giáo chủ thần tượng của giới nông dân Phật giáo.

     Lê Quang Vinh tự Ba Cụt sanh năm 1923 tại rạch Bằng Tăng, xã Thới Long, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, thuộc một gia đình nông dân, đã được một người cậu tên Huỳnh Kim Hoành nuôi dạy học cho đến hết chương trình tiểu học. Lê Quang Vinh, đã phụ trách công việc đồng áng từ lúc nhỏ, nhưng khi lớn lên, đã được biết những lời giảng của Huỳnh Giáo chủ về Phật pháp và bổn phận tranh đấu chống ngoại xâm. Vinh  mê thích học võ nghệ với một ông thầy Sáu Kim. Anh đã có lần bị cha quở mắng nặng vì chểnh mảng bỏ bê công việc. Anh đã dùng phãng phát cỏ, tự chặt một lóng tay và nói: " Nếu ngón tay này mọc lại, sẽ về làm ruộng cho vui lòng tía." Kể từ ngày đó Vinh thường được biết với tên Ba Cụt.

     Thực dân Pháp trở lại tái chiếm miền Nam sau Đệ nhị Thế chiến. Năm 1945 Lê Quang Vinh, năm ấy được 21 tuổi, đã tụ họp các thanh niên ở rạch Bằng Tăng, phát động việc "Đâm Tây" giựt súng để thành lập toán võ trang địa phương đánh Pháp. Toán cảm tử quân Ba Cụt càng ngày càng bành trướng và năm 1946, được sát nhập vào Vệ Quốc Liên Đội Nguyễn Trung Trực của ông Nguyễn Giác Ngộ. Ngày 16 tháng Tư năm 1947, Việt Minh ám hại Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ tại Đốc Vàng Hạ. Việt Minh càng ngày càng gia tăng khủng bố giáo dân Hòa Hảo. Kẹt trong thế lưỡng đầu thọ địch,  ông Trần Văn Soái tức Năm Lửa, ngày 18-5-1947 đã phải ký kết Hiệp định Liên quân với Cluzet, Đại tá Tư lịnh miền Tây của Pháp. Ba Cụt không tán thành Hiệp định Liên quân và kéo quân vào bưng tiếp tục kháng chiến dưới danh nghĩa mới: Nghĩa Quân Cách Mạng.  Vốn là nông dân địa phương, nắm vững địa hình địa vật, bộ đội của Ba Cụt đã nhiều lần di chuyển  nhanh chóng lâm trận để tiếp ứng các toán võ trang bạn bị quân đội Pháp truy nã. Ba Cụt đã tỏ ra là một chỉ huy gan dạ, luôn luôn sát cánh với đồng đội, nhiều mưu lược nên đã được tôn vinh, kính nể. Những lần đụng độ với các chi đội Việt Minh, các chiến sĩ kháng chiến Hòa Hảo đã cang cường đương đầu với bộ đội của Nguyễn Bình nên thanh thế càng ngày càng tăng.

     Trong vùng người viết bài đã ở trước kia đã có một lần các toán võ trang Việt Minh định xâm nhập vùng trú quân Hòa Hảo. Vào thời đó, các kháng chiến quân Hòa Hảo đã áp dụng chiến thuật đóng chốt với các toán võ trang quyết tử đóng rải rác ở các vị trí hiểm yếu, khiến trận mạc này kéo dài từ sáng đến tối rồi cuối cùng Việt Minh đã phải thảm bại rút lui.

     Những ai có cơ hội theo dõi được hậu trường các hoạt động Hòa Hảo đều biết rằng Ba Cụt trong nhiều dịp, đã bí mật đến gặp Năm Lửa xin yểm trợ khí giới để tiếp tục chiến đấu. Ngay cả chính bộ phận võ trang của Ba Cụt cũng đã có đến năm lần đồng ý hợp tác với quân đội Pháp, gọi là năm lần liên quân để mong tạm giảm sức bị ép giữa Việt Minh và quân Pháp. Lần đầu tiên, muốn tiếp xúc với Ba Cụt, Pháp cũng đã nhờ đến ông Nguyễn Ngọc Thơ, lúc ấy là Tỉnh trưởng Long Xuyên. Ông Thơ, qua lời khuyên của ông Nguyễn Văn Tâm đã giúp cho Savany, Phòng Nhì Pháp gặp Ba Cụt ở vàm Lai Vung. Ba Cụt theo thỏa hiệp, về đóng quân ở Nha Mân (Sa Đéc) trong độ ba tháng, nhưng rồi cũng rút quân vào khu Trung An. Năm lần liên quân với Pháp nhưng cả năm lần, Ba Cụt là người hiếu động, không muốn đóng quân một nơi cố định, chờ Việt minh đến tấn công và cũng vì Ba Cụt không bao giờ tin tưởng người Pháp nên đã năm lần kéo quân trở ra khu. Tuy Pháp đã nhiều phen bực tức nhưng vẫn phải tiếp nhận mỗi khi Ba Cụt về hợp tác. Mỗi lần trở về, quân của Ba Cụt lại được tăng thêm võ khí mới. Pháp cũng nghi ngờ có sự âm mưu qua lại giữa Ba Cụt và ông Năm Lửa nhưng họ không nắm được chứng cớ cụ thể nên phải làm ngơ. Vì vậy Ba Cụt đã được người Pháp gán cho biệt danh đứa con bất trị của Phật giáo Hòa Hảo"(L'enfant terrible des Hoa Hao).

     Sau khi nhờ quân đội dẹp được lực lượng võ trang Bình Xuyên của Bảy Viễn ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Rừng Sát, ông Ngô Đình Diệm đã xoay qua chỉ thị tiếp tục thanh toán các lực lượng Hòa Hảo. Đại tá Dương văn Đức đã phối hợp Hải, Lục, Không quân trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt I từ 23-5-1955  đến 12-8-1955 và đợt II từ 29-9- 1955 đến cuối tháng 12 năm 1955 nhưng đã không đạt được kết quả đáng kể. Tướng Dương Văn Minh sau đó đã được chỉ định để nắm quyền chỉ huy Chiến dịch Nguyễn Huệ từ 1-1-1956 đến 31-5-1956. Để có được cơ hội tiếp xúc với Ba Cụt, ông Ngô Đình Diệm - theo đề nghị của ông Dương Văn Minh (?) - đồng ý nhờ ông Nguyễn Ngọc Thơ lúc ấy đang làm Đại sứ ở Nhật, trở về tìm cách tiếp xúc với Ba Cụt. Ông Nguyễn Ngọc Thơ nguyên gốc Long Xuyên, là một công chức cao cấp từng làm Tỉnh trưởng ở tỉnh này đã có nhiều công trình khuếch trương cho tỉnh nhà và có nhiều liên hệ với dân chúng ở đây. Ba Cụt như đã nói ở phần trên, đã lớn khôn nhờ được người cậu Huỳnh Kim Hoành nuôi dưỡng nên ông Thơ đã nhờ người cậu này làm môi giới để gặp được Ba Cụt.

     Vì lòng kính nể người cậu đã nuôi dưỡng mình và cũng vì ý thức được nước nhà nay đã thâu hồi độc lập sau Hiệp định Genève, Lê Quang Vinh đã đồng ý gặp ông Nguyễn Ngọc Thơ mà lúc nào Ba Cụt cũng kính nể gọi là ông Đại sứ, ở Thường Phước thuộc quận Hồng Ngự, ven biên giới Việt Miên. Lần tiếp xúc đầu tiên ngày 29-2- 1956 ở Cồn Tảo trên sông Mékông về phía bắc quận Tân Châu. Lần tiếp xúc thứ nhì vào ngày 4-4-1956, Ba Cụt đã đưa cho ông Nguyễn Ngọc Thơ những đề nghị cần được thỏa thuận để đem kháng chiến quân dưới quyền về gia nhập tổ chức quân đội. Hình ảnh cuộc gặp mặt này đã được ghi lại và ông Thơ đã cho Ba Cụt biết các yêu cầu của Ba Cụt có thể giải quyết được, ngoại trừ lời yêu cầu xin vinh thăng cấp tướng cho Ba Cụt  thì ông Thơ phải về trình lại T.T. Diệm. Có thể coi hai lần gặp gỡ nầy chỉ là những tiếp xúc thăm dò giữa hai cá nhân, để tìm hiểu nguyện vọng, không phải là những cuộc họp chính thức, có biên bản. Việc thương lượng như vậy là vẫn còn trong tình trạng cần phải tiếp diễn trong tương lai, hay đây chỉ là những mưu mô có tính toán của Ngô Đình Nhu để nhử cho Ba Cụt xuất đầu lộ diện?.

     Việc Ba Cụt yêu cầu được chấp nhận vinh thăng cấp tướng, theo kinh nghiệm, đã không phải là một chuyện động trời, không thể giải quyết vào thời buổi các thập niên 1940-1950. Thực dân Pháp đã từng chấp nhận phong ông Năm Lửa làm tướng mặc dầu là tướng một sao. Bảy Viễn cũng là một tướng Bình Xuyên. Chính quyền T.T. Ngô Đình Diệm cũng đã phong tướng cho ông Trịnh Minh Thế, khi tướng Thế đem toán quân Cao Đài gia nhập quân đội quốc gia. Lê Quang Vinh tức Ba Cụt đã chánh thức là Trung tá Trừ bị của Quân đội Quốc Gia do Sắc lịnh số 7/QP ngày 14-7-1954 (S.L. có đăng trên Công Báo) và mang lon Đại tá Giả định, Chỉ huy trưởng Trung đoàn 6 Khinh Binh. Cũng như Trịnh Minh Thế trong giáo phái Cao Đài, Lê Quang Vinh, trong giáo phái Hòa Hảo, là người đã có công chống Pháp, chống Việt Minh kể từ khi khởi đầu cuộc kháng chiến Nam Bộ từ ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trong hầu hết các binh chủng trên thế giới, trong giới quân nhân, những vị xuất thân từ cấp dưới lên đến cấp tướng, thường được coi là những người can trường, những cấp chỉ huy giỏi vì đã có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Quân đội Pháp rất quý trọng loại sĩ quan này, xuất thân từ cấp dưới lên (Officiers sortis des rangs), không xuất thân từ các quân trường danh tiếng.

     Trong khi còn trong vòng chờ đợi cuộc tiếp xúc thương thảo tiếp theo với ông Nguyễn Ngọc Thơ, sáng sớm ngày 13 tháng Tư năm 1956, tại Chắc Cà Đao, Lê Quang Vinh và một toán võ trang đã bị một đội Tình báo Bảo an phục kích bắt. Ba Cụt trong tinh thần đi ra để tiếp xúc điều đình đã ra lịnh cho toán hộ vệ võ trang không nổ súng kháng cự. Theo một nguồn tin xuất phát từ bà vợ thứ của Ba Cụt (bà C.T.N.), Lê Quang Vinh sau hai lần gặp gỡ nhưng chờ không thấy kết quả với ông Nguyễn Ngọc Thơ, đã có ý định và đã có những liên lạc để xin ra gặp tướng Dương Văn Minh. Lê Quang Vinh nghĩ rằng giữa người chiến sĩ với nhau, việc tiếp xúc với tướng Minh sẽ có nhiều ý nghĩa hơn.(Cho đến nay, khi thuật lại nguồn tin này, người viết bài rất tiếc chưa có được dịp gặp trở lại bà C.T.N. để xác tín về tin này).

     Những diễn tiến sau ngày Lê Quang Vinh bị bắt đã được các báo chí thời bấy giờ tường thuật, nhưng trong chính thể nhà Ngô, phóng viên không thể viết tất cả các điều cần phải nói. May thay có được ký giả Anh Thành, một trong những nhà báo đã có công lưu giữ nhiều tài liệu về 3 phiên tòa xử Ba Cụt. Nhìn trở lại các thủ tục truy tố Lê Quang Vinh, có những điểm chính yếu cần nêu trở lại để thấy rõ những đều bất ổn trong ba phen tòa của vụ xử án đưa đến tử hình này. Ông Nguyễn Ngọc Thơ, nhân vật quan trọng đã đi gặp Ba Cụt hai lần, lại không hề thấy được tòa án gọi ra tòa làm nhân chứng!

     - Phiên tòa thứ Nhất: Ngày 11-6-1956 Tòa sơ thẩm Đại hình nhóm tại Cần Thơ để xử riêng Ba Cụt và tuyên án tử hình. Ba Cụt bị cáo là tòng phạm trong nhiều vụ ám sát, như trong vụ bị cha vợ của Huỳnh Văn Y đứng đơn thưa là Huỳnh Văn Y bị giết vì không chịu đóng thuế cho bộ đội Ba Cụt. Ông chưởng lý buộc tội: ...Đại đội 21 của anh thường bắt buộc người ta. Ba Cụt đã trả lời: "...chiến sĩ tôi hoạt động bí mật, phân tán đóng quân, tôi làm sao kiểm soát hết được cấp dưới..."

     Luật sư Phạm Ngọc Thu đã nêu 2 yếu tố pháp lý: Tòng phạm bị tội là phải có nhúng tay vào, chớ thụ động thì không tội. Làm sao kết tội là Ba Cụt đã có thỏa thuận với chánh phạm trong 8 vụ vì không có tên chánh phạm nào đả bị bắt, không có lời cung khai hay có thể đối chất với chánh phạm. Không có một bằng chứng cụ thể nào nói rằng Ba Cụt đã có nhúng tay vào những vụ cố sát, đốt nhà để buộc tội Ba Cụt tòng phạm. Tòa chỉ có tài liệu giấy tờ và chỉ suy luận theo giấy tờ mà thôi!

     Tưởng cũng nên kể thêm những phút khôi hài trong phiên tòa xử án. Ba Cụt nói: Đã không bắt được thủ phạm giết người, không biết thủ phạm là ai, tại sao lại nói chúng nó là người của Ba Cụt? Ông chánh án: Nhưng người ta thấy rõ những kẻ ấy mặc đồ đen. Ba Cụt đưa tay lên trời: Nếu mặc đồ đen mà đi làm bậy rồi căn cứ vào bộ đồ đen đó nói là người của Ba Cụt, thì chết tôi rồi, ở thôn quê mà không mặc đồ đen chớ mặc đồ gì?"

     - Phiên tòa thứ Hai: Ngày 26-6-1956 tức là chỉ 15 ngày sau, tòa Thượng thẩm Đại hình đáng lý ra phải được diễn ra ở trụ sở cố định là Sài Gòn như từ bao nhiêu năm trước kia, lại được tổ chức lần đầu tiên trong lịch sử pháp đình Việt Nam ở Cần Thơ. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã phải ký Dụ số 33 ngày 14-6-1956 để tòa được nhóm ngoài trụ sở. Dụ này đã được ký chỉ 3 ngày sau khi tòa sơ thẩm Đại hình kết án tử hình Ba Cụt ngày 11-6-1956 và sau khi Ba Cụt đã kháng cáo. Dụ số 33 chưa kịp đăng vào Công báo mà ông Tổng trưởng Tư pháp đã ký sửa thành phần của tòa. Luật sư Vương Quang Nhường đã nêu việc pháp lý này để xin tuyên bố phiên tòa là bất hợp pháp nhưng phiên tòa vẫn cứ được tiếp tục để tuyên bố y án tử hình cho Ba Cụt.

     -  Phiên tòa thứ Ba: Đây là phiên tòa Quân sự Đặc biệt ngày 3-7-1956, chỉ có 7 ngày sau phiên tòa Thượng thẩm đã xử Ba Cụt bị án tử hình. Nay Tòa Quân sự được tổ chức để gia thêm một án tử hình thứ hai cho Ba Cụt trên danh nghĩa là Trung tá Trừ bị, Chỉ huy Trung đoàn 6 Khinh Binh. Bản án tòa Quân sự là loại án được đem ra thi hành ngay, không có thủ tục kháng cáo. Chiều ngày 4-7-1956 phiên tòa này đã gán một án tử hình thứ hai cho Ba Cụt.

     Ba phiên tòa liên tiếp nhóm trong vòng chỉ có 23 ngày, dồn dập, gấp rút tuyên hai án tử hình cho một tội nhân, bất chấp những lời phản kháng của các luật sư, đã nói lên chủ tâm của chánh quyền Ngô Đình Diệm muốn giết Ba Cụt càng nhanh càng tốt.

     Lê Quang Vinh chẳng những đã bị xử như một quân nhân phiến loạn mà còn được gán cho tội danh chánh là cướp bóc tài sản, bạo hành dân chúng. Ba Cụt đã nói trước tòa: "...Tôi nhìn nhận đã từng đụng chạm với quân đội vì chưa hiểu rõ lập trường của chánh phủ như thế nào..., còn buộc tội tôi phản quốc chống lại quốc gia Việt Nam thì tôi nhất định không nhận...Nói tôi giết người cướp của thì xin quý Tòa nhớ giùm: tôi không có nhà lầu, xe hơi, tiền gởi ở nhà băng. Nhà cửa của tôi là bưng biền, sự nghiệp tôi chỉ là một chiếc nóp mà thôi!"

     Việc bất thường trong diễn tiến các bản án là kể từ ngày bị bắt (13-4-1956)  cho đến ngày bị hành hình (13-7-1956) , kể cả các thủ tục kháng cáo, thời gian để định đoạt một mạng người, chỉ vỏn vẹn có ba tháng, một thời gian kỷ lục quá ngắn trong lịch sử pháp đình ở miền Nam, không đếm xỉa đến các lời phản kháng chánh thức của các luật sư Lê Ngọc Chấn, Đinh Xuân Các, Phạm Ngọc Thu và Vương Quang Nhường. Một phiên tòa Quân sự xử chung thẩm cũng đã được tổ chức để ra thêm một án tử hình thứ Hai!

     Quyết định tối hậu về mạng sống của Ba Cụt đến lúc chót này ở trong tay ông Ngô Đình Diệm. Với tư cách một Tổng Thống, ông Diệm là người có quyết định cứu xét đơn thỉnh cầu ân xá của tội nhân. Trong một cuộc phỏng vấn được thâu hình và phát thanh do đài Sai Gòn TV ở California, ông Lâm Lễ Trinh có cho biết là ông đã tình cờ chứng kiến được việc ông Ngô Đình Nhu vào trình lên ông Diệm, thơ can thiệp của Đại sứ Anh quốc ở Việt Nam, đề nghị xin nên ân xá Ba Cụt.

     Tuy là một tín đồ đạo Gia Tô, một trong những tôn giáo lớn trên thế giới với những lời thuyết giảng về tình thương và tôn trọng sự sống, ông Ngô Đình Diệm đã ký sắc lịnh số 98-TP ngày 8-7-1956,  không ân xá cho Lê Quang Vinh!

     Là một quân nhân có cấp bậc chánh thức là Trung Tá trong quân đội Việt Nam, Lê Quang Vinh xin được xử bắn ở pháp trường. Nhưng lời yêu cầu được chết trong danh dự này của một sĩ quan cũng không được chấp thuận! Cái máy chém của thực dân Pháp sử dụng trong thời Pháp thuộc đã được đao phủ thủ là Đội Phước lau chùi, đem từ Sài Gòn xuống Cần Thơ để xử trảm Ba Cụt.

     Sau khi đã bị chặt đầu, thi thể Lê Quang Vinh đã không được trao trả cho thân nhân chôn cất. Xác của người quân nhân áo vải Nam Bộ này hình như đã bị chặt thành nhiều đoạn và phân tán ở những nơi bí mật nào đó, một việc làm tàn ác, bất nhân, trái với đạo lý và văn hóa dân tộc Việt.

     Nhân dịp nói đến cái máy chém (Guillotine) của thực dân Pháp đã dùng ngày trước trong vụ xử án 13 liệt sĩ Yên Báy và để đe dọa các nhà cách mạng Việt Nam chống Pháp, người viết bài đã thực sự chán chê mỗi khi đọc hay tiếp xúc với các người làm văn hóa miền Bắc và nghe họ lải nhải câu: Ngô Đình Diệm đã "lê máy chém" đi khắp các vùng chiến thuật để triệt tiêu cán bộ Cộng sản nằm vùng. Cầu mong sao trong các chứng nhân có liên hệ đến ngành Tư Pháp ở miền Nam trước 1975, hãy lên tiếng chánh thức, để cho biết cái máy chém ở khám Lớn Sài Gòn củ, đã được "lê đi"sử dụng bao nhiêu lần, sau phiên xử Ba Cụt?

     Một bản án đưa đến xử tử hình một tội nhân trong thời gian vỏn vẹn trong vòng  ba tháng, cộng thêm việc từ chối đơn xin ân xá án, đã chứng tỏ ông Ngô Đình Diệm dứt khoát muốn loại trừ bộ phận võ trang Hòa Hảo dưới sự chỉ huy của Ba Cụt, một người đã bắt đầu cuộc kháng chiến từ ngày thực dân Pháp trở lại thôn tính Việt Nam sau Đệ nhị Thế chiến. Kể về thành tích chiến đấu, khó có thể kể được một sĩ quan Việt nào có thể tự hào vỗ ngực đã có thành tích chỉ huy đương đầu với quân đội Pháp, bộ đội Việt Minh và cả...quân đội Quốc gia! Chỉ có Ba Cụt mới làm được việc đó thôi, nhưng  Ba Cụt đã nói thêm trước tòa án: sở dĩ phải đụng chạm với quân đội quốc gia là vì tôi ở trong cái thế kẹt tứ phía, chớ mỗi lần đụng độ như vậy, tôi hết sức đau lòng. Bởi vì tôi nghĩ rằng một ngày nào đây, tôi cũng trở về với quân đội quốc gia.

     Điều động cả một ông Đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ đang công cán ở ngoại quốc về để tìm cách chiêu dụ Ba Cụt ra hàng, nhưng đã hành sử không trong sáng, cạn tàu ráo máng với một người đã góp nhiều công trong việc đương đầu với Việt Minh, với quân đội Pháp, một chiến sĩ gốc nông dân nhưng đã giữ vững được ba khu vực quân sự: khu Thốt Nốt Cờ Đỏ (Đồn điền Mazin), khu Đồng Tháp Mười và khu rừng tràm Long Châu Hà, ông Ngô Đình Diệm đã thật sự đánh mất lòng tin tưởng của người đồng bằng Sông Cữu.

     Nhiều việc làm về sau lại làm cho giáo dân Hòa Hảo đinh ninh thêm, gán cho ông Ngô Đình Diệm là người thất tín vì đã thủ tiêu hoặc trù đập sau này những nhân vật từng có công ủng hộ ông, khi ông trở về nước làm Thủ tướng năm 1955 như các ông Nguyễn Bảo Toàn, Nhị Lang, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn, Trần Văn Ân, Nguyễn Thành Phương....Đặc biệt ông Nguyễn Bảo Toàn, một nhà ái quốc đã từng bôn ba tranh đấu thời thực dân Pháp, tuy ông không phải thuộc giáo dân Hòa Hảo nhưng đã được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ tín nhiệm trong chức vụ Tổng Bí Thơ đầu tiên của Dân Xã Đảng. Mật vụ của Ngô Đình Nhu đã bí mật bắt Nguyễn Bảo Toàn, bỏ vào bao bố, cột vào trụ xi măng và xô nhận chìm thân xác ở sông Nhà Bè. Khi Bảo Đại từ Cannes gởi liên tiếp hai công điện ngày 28-4 và 30-4-1955 để triệu hồi"Ngô Đình Diệm, ông Diệm đã không tuân hành, chính nhờ có Hội nghị các 18  Chính đảng và 29 Nhân sĩ miền Nam ngày 29-4-1955 do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa đã đưa đến Quyết định: Truất phế Bảo Đại, giải tán chánh phủ Diệm và ủy nhiệm Ngô Đình Diệm thành lập Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời, tổ chức tổng tuyển cử. Ông Diệm về sau đã trở thành Tổng Thống, chế độ Cộng Hòa đã được thành hình phần lớn là do Hội nghị ủng hộ ông Diệm này, do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa.

     Vì e ngại uy tín có thể lấn lướt của Nguyễn Bảo Toàn nên Ngô Đình Nhu đã nhẫn tâm bí mật thủ tiêu người đã giúp thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam. Cũng tại khúc sông Nhà Bè này, vào khoảng tháng 10 năm 1962, các thủ hạ thân tín của Ngô Đình Nhu như Đào Quang Hiển, cũng đã lập lại việc thủ tiêu tàn ác tương tự, với 4 cán bộ cao cấp của bộ tham mưu Tổ Đình Hòa Hảo được phái lên Sài Gòn để tham dự một phiên họp. Phái đoàn cùng đi chung trong một xe Ford Vedette số NBI-010 của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và đã bị mất tích. Bà dân biểu Hòa Hảo Long Xuyên đương thời là Nguyễn Kim Anh đã đến gặp Ngô Đình Nhu để nhờ điều tra tông tích các cán bộ Hòa Hảo mất tích, không đến Sài Gòn họp. Ngô Đình Nhu đã ỡm ờ hứa sẽ chỉ thị cho điều tra sự việc. Bà Kim Anh sau đó đã đến gặp các chức sắc Tổng Nha Cảnh Sát ở đường Nguyễn Trãi. Nơi đây cũng cho biết là việc điều tra chưa đưa đến kết quả nào. Khi ra về, đứng chờ xe trước cửa Tổng Nha, tình cờ bà chợt nhận dạng ra chiếc xe Vedette của phái đoàn Hòa Hảo đã dùng, đang chở nhân viên cảnh sát ra cổng, có lẽ là để đi ăn trưa! (Người viết bài có được tài liệu về việc này, do bà Nguyễn Kim Anh chính thức thuật lại). Việc phát giác này về sau đã đưa đến phiên xử trước tòa án Đại hình Sài Gòn các tay sát nhân, sau khi nhà Ngô bị đảo chánh. Các thủ phạm này thú nhận đã thi hành chỉ thị của Ngô Đình Nhu. Khưu Văn Hai và các bị can đã khai là Đào Quang Hiển đã ra lịnh cho họ thủ tiêu các cán bộ Hòa Hảo. Họ đã siết cổ, cột xác vào trụ xi măng và quăng giữa sông Nhà Bè. Đại tá Tổng Giám đốc Cảnh sát Nguyễn Văn Y đã vào tù trong vụ án này.

     Trong việc xử án Ba Cụt, việc cố tình thủ tiêu đối thủ của các ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã quá rõ ràng. Các nhà viết sử trong tương lai cũng nên truy tìm xem những ai ở hậu trường trong ngành Tư pháp vào thời buổi này, đã bày mưu đặt kế để các thủ tục pháp lý có thể đưa đến xử một án tử hình gấp rút trong ba phiên tòa liên tiếp trong vòng 23 ngày? Không cần phải suy luận dông dài: Đây là một cố tình chánh trị, dứt khoát thủ tiêu một chướng ngại trong tương lai cho quyền lực của Ngô triều. Thái độ đó có lẽ sau này cũng đã được những người lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm suy nghiệm lại, đưa đến quyết định cuối cùng là cái chết thê thảm của hai ông Diệm và Nhu?

     Ngày 13 tháng 7 năm 1964, một Lễ Kỷ niệm 18 năm Ba Cụt bị bức tử đã được long trọng tổ chức ở Thốt Nốt với sự tham dự của hơn năm ngàn chiến sĩ Dân Xã Đảng. Đại diện Chánh phủ có Tổng trưởng Nội vụ, Thiếu tướng Lâm Văn Phát và Tổng trưởng Thông tin ông Phạm Thái. Một Kiến nghị xin hủy bỏ các bản án, phục hồi công quyền và phục chức của Lê Quang Vinh đã được trình lên Chánh phủ nhưng Ba Cụt đã đi vào cõi vĩnh hằng!

     Cái chết đáng thương tâm của Lê Quang Vinh chỉ là một trong những pháp nạn trong những pháp nạn to lớn khác của Phật giáo Hòa Hảo. Dưới các chánh thể từ thời thực dân Pháp chiếm đóng cho đến thời Xã hội Chủ nghĩa, một giáo phái Phật giáo bình dân, đề cao Tứ Ân, khuyên dạy giáo hữu giác ngộ làm lành, lánh dữ, lại phải nhiều phen bị điêu đứng vì các thế lực chánh trị muốn lôi kéo, lợi dụng khối tín đồ trên mấy triệu người này. Trớ trêu nhất là chánh quyền hiện hữu, một chánh quyền luôn luôn vỗ ngực tự xưng là chánh quyền nhân dân, lại là chánh quyền đã đàn áp quyết liệt nhất, dã man nhất một giáo phái Phật giáo nhân dân, một giáo phái đã uyển chuyển gia nhập vào đời sống nhà nông miền Nam. Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, trong tình thương từ bi người nông dân chất phác Nam bộ, đã thuyết giảng gầy dựng ở địa linh Sông Cữu, một nền Phật giáo thời đại, không chủ trương xây chùa hay đúc tượng, không hệ thống tăng ni, không chuông mõ..., một hình thái Phật giáo phát xuất từ nhân dân đi lên, đáp ứng được nhu cầu tâm linh của giới bình dân chưa có đủ trình độ để thông hiểu thiên kinh vạn quyển của nhà Phật.
 
Ba Cụt, một nông dân, được giáo huấn trong tinh thần Phật giáo Hòa Hảo, với những công trạng và thành tích chiến đấu can trường, một quân nhân đã giữ vững phẩm cách một người chiến sĩ cho đến giờ phút chót trước khi bị hành quyết, thật đáng được vinh danh là Tướng Lê Quang Vinh, một cấp bậc mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã không đồng ý ban cấp mặc dầu ông đã đặc cách phong Tướng cho Trịnh Minh Thế của Liên Minh Cao Đài. Tướng Trịnh Minh Thế, người hùng của hai chiến khu Bù Lu và Núi Bà Đen đã vinh quang tử trận tại dốc cầu Tân Thuận vào ngày 3 tháng 5 năm 1955. Những ai từng để công nghiên cứu về Kháng chiến Nam Bộ đều biết: Trịnh Minh Thế và Ba Cụt là hai chiến sĩ đã từng hỗ trợ cho nhau trong cuộc chiến về mặt huấn luyện, vũ khí, phối hợp chiến thuật... So với tư cách một vài trường hợp của những vị tướng khác, những vị tướng trong hàng trí thức, xuất thân từ những trường võ bị, nhưng vị thì chết vì thượng mã phong, hay vị thì chỉ được biết vì thành tích đoạt người yêu của thuộc cấp hoặc cướp vợ của bạn, thì Lê Quang Vinh, xét cho cùng, quả thật xứng đáng được vinh danh là một Tướng, một loạn tướng anh hùng. 
 
   
         Trần Ngươn Phiêu