12 November 2011

Người Còn Nhớ Hay Người Đã Quên

Truyên ngắn: Người Còn Nhớ Hay Người Đã Quên

Tác giả :
Minh Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

 
 
Thỉnh thoảng đám bạn già lại tụ họp nhau ôn lại chuyện xưa, vỗ về an ủi nhau, ai còn ai mất. Ai hiểu được lòng thổn thức nỗi niềm mất nước nhà tan, lưu vong nơi xứ người?

 
 
Thày Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc "mobile home" trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thày chỉ nuôi mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui và một con chó nhỏ để làm bạn. Sát hàng rào Thày trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, dàn bàu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm. Sân trước, Thày đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh "Sơn Thủy Tùng Đình" với "Ngư Tiều Canh Mục", trông cũng vui mắt. Trong hồ có cá vàng bơi lội tung tăng, vài con rùa thỉnh thoảng lại trồi lên mặt nước ngoe ngoảy.

Những lúc rảnh rỗi Thày ra ngồi trên chiếc ghế đá đặt cạnh hồ đọc sách hoặc uống trà, có khi ngồi thiền nữa. Đúng là khung cảnh nhà quê Việt Nam của kẻ nhàn hạ ẩn dật. Kể ra cuộc sống cũng tạm đầy đủ, thỉnh thoảng có khách lại thăm, mang cúng dường vài bao gạo, mấy chai tương đủ cho Thày dùng cả năm. Phật tử theo Thày đa số là bạn bè cũ, hoặc mấy người theo học khóa tu thiền. Thày cất mấy cốc nhỏ sau chánh điện làm phòng ngủ cho chính Thày và cho khách phương xa cần ở lại.

Thỉnh thoảng Chùa vẫn mở khóa tu thiền, thường kéo dài từ 4 ngày đến 1 tuần. Phật Tử đến tu tập xúm nhau nấu ăn tập thể, nghe Thày thuyết pháp và tập thiền; Đa số là những ngươì lớn tuổi, thời giờ rảnh rỗi, muốn tìm về nơi yên tĩnh để được hit thở không khí trong lành, như một cuộc nghỉ mát hằng năm cho tâm hồn thư dãn. Chùa ở xa thành phố nên cũng it khách thập phương vãng lai.

Thày là người điềm đạm, thông thái và vui tính. Ai có điều khó giải quyết trong gia đình cũng lại Chùa để trút bầu tâm sự và nghe lời Thày khuyên răn. Thày đã lăn lóc hơn nửa đời người ngoài đời nên cũng có chút kinh nghiệm về đời sống gia đình. Dạo gần tết, có người biếu Thày một chậu mai vàng, Thày vẫn chưng trong phòng khách cùng với mấy chậu kiểng bonsai. Bên Mỹ, loại mai rừng năm cánh dài và nhỏ xíu thì rất nhiều, nhưng Mai Việt Nam thì hiếm, quý lắm, thế mà có người trồng được, hay họ nhập cảng từ VN không chừng. Phòng khách, phía sau chánh điện, trên tường có treo bức tranh thật đẹp, có lẽ Phật Tử vẽ tặng Thày; Hình một tháp chuông của ngôi Chùa nào đó, ở góc tháp, chỉ thấy chiếc áo nâu của vị Sư đang nhìn về phía núi rừng trước mặt, trong buổi chiều tà. Phía dưới hình tháp chuông là bài kệ "Cáo Tật Thị Chúng" của Thiền Sư Mãn Giác:
 
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
 
Bài kệ này đã được cụ Ngô Tất Tố dịch ra như sau:
                           
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai
 
Bài kệ đã được sáng tác hàng ngàn năm trước, có lẽ sẽ còn truyền tụng nhiều ngàn năm sau và mãi mãi. Thiền Sư Mãn Giác đã khéo léo dùng hình ảnh hoa rụng rồi hoa nở để nói lên kiếp luân hồi của chúng sanh, như thiên nhiên có đi rồi có về, dòng đời vẫn trôi vô tình.

Một buổi chiều cuối tuần có người khách từ phương xa đến trao cho Thày tấm thiệp. Thày Năng Tĩnh cầm tấm thiệp, lật qua lật lại xem tỉ mỉ. Tấm thiệp cũ kỹ, bạc màu, đã sờn rách mấy góc cạnh, không có địa chỉ người gởi nhưng địa chỉ người nhận đã bị sửa đổi nhiều lần, chứng tỏ nó đã chuyền qua nhiều người trước khi tới tay Thày. Thày lẩm nhẩm đọc tấm thiệp từ Việt Nam gởi tới: "Nội của cháu nhắc đến Ông luôn, Nội đã mất rồi. Cháu tình cờ đọc được bài viết về Ông trên mạng. Cháu cám ơn Ông và bạn của Ông đã cứu gia đình cháu, Huế, Mậu Thân." Thày nhìn mãi tấm thiệp như đang nhìn hình ảnh đời thày trong dĩ vãng.
 
*
Thày Năng Tĩnh sinh ra và lớn lên ở Huế. Những gì còn lại trong Thày chỉ là mấy bài thơ nhớ Huế, và vài kỷ niệm của cậu "Bé Tư" hoang đàng chơi nhiều hơn học.

Mỗi khi trời se lạnh, rong chơi trên những con đường Thành Nội, lại được ngắm những tà áo trắng học trò khoác hờ một chiếc áo len đủ màu, ôi dễ thương làm sao! Những buổi trưa hè cùng đám bạn "Trời đánh" đạp xe ra hồ Tịnh Tâm hay lên đồi Vọng Cảnh hoặc nằm dưới gốc mấy cây Phượng Vĩ hoa đỏ rực gần cầu Trường Tiền. Huế chỉ còn lờ mờ trong ký ức đâu đây. Chùa Linh Mụ trang nghiêm soi mình trên giòng sông Hương thơ mộng, núi Ngự Bình hiền hòa như vòng tay Mẹ giang ra ôm những người con xứ Huế vào lòng. Còn gì nữa nhỉ, phải rồi, những buổi hẹn hò đi ăn chè Cồn, ăn cơm Âm Phủ,  bún bò Huế ở caí quán sập xệ bên đường quốc lộ 1, dưới gốc tre già, ngon tuyệt vời và cay xé họng,  hay những ngày còn bé bỏng lẽo đẽo theo Mạ trong chợ Đông Ba. Vâng, chỉ có thế thôi, còn lại là máu và nước mắt. Máu của đồng đội và nước mắt của những bà mẹ mất con, người vợ mất chồng. Huế là những tang tóc điêu tàn của Tết Mậu Thân, là ngơ ngác lo âu hoảng loạn của nhũng ngày cuối cùng thời VNCH.

Đời người thật ngắn ngủi, mới hôm nào đây, Thày còn là một chàng trai trẻ "Cậu Tư" vẫn cắp sách đến trường, rồi bị gọi động viên vào quân ngũ. Cậu mê màu xanh rằn ri và cuộc sống hào hùng của những "Thủy Thần Mũ Xanh", thế là tình nguyện gia nhập TQLC. Trải qua bao nhiêu gian khổ, sống chết trong gang tấc. Những đứa con yêu xứ Huế đã mấy lần cứu đất Mẹ, để trả một chút ân tình cưu mang. Tết Mậu Thân, hối hả theo đơn vị từ Saigon về Phú Bài, suốt gần một tháng hành quân giải tỏa, đổ bao nhiêu xương máu của anh em, bạn bè, đồng đội để giành lại từng căn nhà, từng con đường, cuối cùng cũng treo được lá cờ vàng trên Kỳ Đài Huế, lính tráng vỗ vai nhau cười mừng rỡ. Cha Mẹ ở đó, bà con anh em ở đó, thày cô ở đó, ngôi trường thân thương thời niên thiếu ở đó, bây giờ đã chiếm lại được! Cái giá phải trả quá cao nhưng vẫn là đáng giá. Đã là trả chữ hiếu thì  nghĩ gì đến giá cả! Đơn vị lúc ra đi đầy đủ quân số, giải tỏa xong chỉ còn lại một phần ba.

"Mùa Hè Đỏ Lửa" Cậu Tư theo đoàn quân cấp tốc từ Ái Tử kéo về dàn hàng ngang bờ nam sông Mỹ Chánh. Bắc quân, với quân số cao gấp mấy lần, đang hùng hổ vượt sông Bến Hải kéo nhanh về phương nam, Hy vọng sẽ chiếm Huế một lần nữa trong thời gian rất ngắn, nhưng bị khựng lại ngay bờ sông Mỹ Chánh.

Những đứa con yêu đất Thần Kinh đã dựng một bức tường lửa ngay ở đó đốt rụi đám quân "Sinh Bắc Tử Nam" điên cuồng, rồi đẩy bật "những con thiêu thân" đó ra khỏi Cổ thành Quảng Trị. Máu đổ thịt rơi, trên 3000 chiến hữu đã bỏ mình để đổi lấy sự tự do cho miền địa đầu giới tuyến. Quảng Trị ơi, quê hương ta đấy!. Quê hương đầy máu lửa và hận thù, do giặc phương Bắc mang đến. Thời trai tráng đã đi qua mau chóng sau những chiến trận đẫm máu, Cậu Tư đã trở thành Ông Tư lúc nào không biết.

Tháng 3/75 đám bạn bè của Ông muốn cứu đất Mẹ lần thứ ba, nhưng không còn cơ hội nữa, thế là "Gãy Súng", thế là "Tan Hàng", nhưng không ai còn nhớ những đứa con thân yêu bị bỏ rơi ở cửa biển Thuận An, ở Non Nước Đà Nẵng. Đồng đội của Ông đã hy sinh trên những "Pháp Trường Cát" đó. Người ta đã quên đi, nhưng Ông thì không, bạn bè, anh em còn nằm lại đó, làm sao quên được.

Ông Tư bị đi tù cải tạo tận miền Bắc, ngày được tha về, vợ Ông đã qua đời. Gia đình cha mẹ chẳng còn ai. Nhà cửa bị tịch thu, đứa con gái nhỏ vượt biên chẳng ai biết tin tức ra sao. Nghĩ đến gia đình tan nát Ông lại ứa nước mắt. Ông tự hỏi từ ngày ra đi, vợ con Ông làm sao để sống? Bao nhiêu cay đắng nhọc nhằn nay mới được dịp tuôn trào như nước vỡ bờ. Ông theo người bạn, sắm một thùng đồ nghề nho nhỏ để sửa xe đạp, "bản doanh" đặt ở gốc cây gần ngã tư.  Thời điểm đó chương trình đoàn tụ gia đình (ODP) đang lên cao. Nhờ chút vốn liếng Anh Văn trong những lần Quân Đội cho tu nghiệp bên Mỹ trước kia, Ông đổi nghề làm thày dạy Tiếng Anh tại tư gia cho những gia đình sắp đi đoàn tụ, học trò của Ông nhiều quá phải chia bớt cho đám bạn tù khác. May mắn gặp người bạn giới thiệu dạy mấy lớp tiếng Anh trong một trường tư thục, cũng tạm đủ sống. 

Lúc nạp đơn theo diện HO đi Mỹ, Ông vẫn còn lưỡng lự giữa đi và ở lại, cuối cùng Ông quyết chí ra đi để tìm đứa con thất lạc.

Qua Mỹ, nhờ bạn bè cũ, ra đi từ trước, ông được giúp đỡ kiếm việc và hướng dẫn hội nhập vào đời sống mới. Việc làm lao động cực nhọc, dù cực mấy cũng không bằng những năm tù cải tạo. Ông làm việc không nghỉ, những ngày cuối tuần lại đi làm công quả ở Chùa, để khỏi phải nhớ về dĩ vãng. Ông muốn quên đi, nhưng không làm sao quên được. Có những đêm mệt mỏi đặt lưng xuống giường nhưng mắt vẫn mở thao láo, dĩ vãng lại ùn ùn kéo về như mây mùa thu. Đôi khi chợt thấy mình còn đang nhọc nhằn trong trại tù cải tạo, giật mình thức giấc nửa đêm, mồ hôi ướt đẫm áo ngủ, sờ xoạng trên tấm nệm một lúc mới tin rằng mình đang ở bên Mỹ. Có những lúc thương nhớ người vợ đã ốm đau trong lúc nước mất nhà tan, chồng tù tội, không thuốc thang, rồi đột ngột bỏ đi về bên kia thế giới không lời từ giã với Ông, để lại đứa con gái trẻ dại, không biết nương tựa vào đâu, Ông ngồi khóc một mình trong nỗi cô đơn nơi xứ lạ quê người. Đứa con vẫn chẳng có tin tức gì.

Thỉnh thoảng đám bạn già lại tụ họp nhau ôn lại chuyện xưa, vỗ về an ủi nhau, ai còn ai mất. Ai hiểu được lòng thổn thức nỗi niềm mất nước nhà tan, lưu vong nơi xứ người?. Những vết thương xưa trong lòng hầu như khó lành, thỉnh thoảng lại vỡ ra. Hãy quên đi! Hãy quên đi! Hãy quên đi! Giọt nước mắt lưng tròng không gọt rửa được tủi  nhục và lòng thương nhớ anh em bạn bè, những kẻ kề vai sát cánh, sống chết với mình đã vĩnh viễn nằm lại.

Mỗi lần nghe bản nhạc: "Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…" Đám bạn bè của Ông cúi đầu mắt đỏ hoe. Ai hiểu được nỗi niềm của kẻ tha hương muốn đem nắm xương tàn về với quê hương bên đồng đội của mình:
 
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi ! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô
Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.
(Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển. Thơ Nguyễn Văn Phán)
 
Một ngày giúp Sư Cụ dọn dẹp kệ sách trong Chùa, bất ngờ ông đọc được bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác. Tục truyền rằng bài kệ đó, Thiền Sư đã ban cho các đệ tử trước khi Ngài viên tịch, để an ủi những người còn thương tiếc Ngài.  Ông Tư ngộ ra rằng kiếp nhân sinh  là vô thường nên quyết tâm cạo đầu xin quy y làm đệ tử Phật Môn. Sư Cụ cũng hoan hỷ chấp thuận. Ông Tư nay đã trở thành Thày Năng Tĩnh, sớm hôm theo Sư Cụ học đạo và tụng kinh.
 
*
Thày Năng Tĩnh chợt nhớ ra, tuần lễ đầu tiên về giải tỏa Huế trong trận đánh Mậu Thân, đơn vị của Thày đã mất một phần ba quân số chỉ để băng qua một con đường, tiến vào khu trường học. Hóa ra ngôi trường là khu giam giữ những người dân chẳng may lọt vào tay  lũ Việt Cộng nằm vùng. Hằng đêm chúng mở ra phiên tòa, buộc những tội vu vơ hay chỉ là tư thù cho người bị bắt rồi mang đi thủ tiêu. Một số người may mắn được đơn vị Ông cứu kịp, thoát chết, mặt mày ngơ ngáo, đói khát, trong đó có gia đình người thày giáo biệt phái bạn học cùng trường với Ông. Người bạn đã ôm chặt lấy Ông và khóc ròng. Nhiều người đã quỳ xuống đất lạy tứ phương như cám ơn những người lính VNCH và Trời Phật đã cứu họ vừa đúng lúc. Lính tráng chẳng có nhiều đồ ăn nhưng cũng chia cho đám "tù nhân" thê thảm đó ít cơm sấy ăn đỡ lòng. Đứa bé viết lời cám ơn gửi tới Ông chắc là cháu của Ông thày giáo hay là của một người nào đó trong đám tù nhân được Ông và đồng đội  giải thoát.

Đôi tay run run, Thày lau nhẹ hai giọt lệ lăn trên gò má rồi tất tả đi vào chánh điện lạy Phật, tụng một hồi kinh sám hối. Thày bước qua góc phải đến trước bàn thờ Hương Linh,

Trên bàn thờ có hình ảnh 5 vị Tướng VNCH tuẫn tiết và thấp thoáng rất nhiều hình ảnh các cựu chiến binh. Thày thắp nhang, vái lạy và ngồi tụng một hồi kinh. Tiếng thày sang sảng nhịp đều theo tiếng mõ. Thỉnh thoảng âm vang tiếng chuông giải thoát trong không gian tĩnh mịch như muốn thức tỉnh những ai còn đang u mê trong cõi trầm luân.

Nửa đêm, Thày chợt tỉnh giấc, trong tay vẫn cầm tấm thiệp, nước mắt còn hoen ố trên mi. Thày thì thầm đọc bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác:
 
"Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai"
 
Đúng vậy, Chết không phải là hết, Miền Vĩnh Cửu vẫn là điều mong ước như cành mai còn nở vào độ xuân tàn. "Nhất Chi Mai" tượng trưng cho niềm hy vọng, chân thiện mỹ. Những sự hy sinh bản thân mình của các vị anh hùng cho tha nhân giống như những giá trị siêu việt, vẫn trường tồn bất diệt. Thày mỉm cười, khoác thêm tấm áo lạnh, đầu chùm chiếc mũ len, lặng lẽ đi ra phía bờ hồ, con chó con lẽo đẽo theo sau. Thày châm lửa đốt tấm thiệp, rồi ngồi tọa thiền đến lúc nghe tiếng gà gáy, con chó vẫn nằm yên dưới chân chủ nó. Thày thủng thẳng đứng dậy, đi về hướng chánh điện. Sau một đêm tọa thiền, ánh sáng ban mai đã xua đuổi hẳn màn đêm tăm tối ra khỏi bàu trời mênh mông và ra khỏi tâm trí Thày Năng Tĩnh.

Thày là người tu hành, những tưởng rằng nương tựa cửa Phật thì sẽ quên mọi sự nhưng dù sao Thày cũng chỉ là con người như trăm ngàn con người khác với đủ cả "hỉ nộ ái ố" … Thầy sửa soạn để tụng hồi kinh sớm với tấm lòng từ bi, một trái tim biết sót thương đồng loại!
 
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

06 November 2011

VÌ SAO CHÚNG TA ĐẾN VIỆT NAM ?

VÌ SAO CHÚNG TA ĐẾN VIỆT NAM ?
[VIETNAM: WHY DID WE GO ? – Avro Manhattan]
CHƯƠNG 15

_________________________

Ngày Tàn Của Nền Độc Tài Công Giáo

Sự Sát Hại Hai Tổng Thống Công Giáo
.


Đối với Vatican, Việt Nam là một cuộc thao dượt khác để cấy chủ nghĩa Công giáo toàn trị vào một đất nước lạ bất chấp ước vọng của đại đa số quần chúng. Vatican là một bậc thầy trong việc lợi dụng các cơ hội chính trị và quân sự để thăng tiến những chính sách tôn giáo của riêng mình, cuối cùng có nghĩa là sự mở rộng của Giáo hội Công giáo mà nó đại diện. Như một quy tắc, để thúc đẩy các chính sách như vậy, nó sẽ sử dụng những cá nhân cuồng đạo để thực hiện các hoạt động tôn giáo và chính trị của nó.

Trường hợp của Diệm là một ví dụ điển hình. Vatican hỗ trợ Diệm, bởi vì ông ta là một giáo dân Ca-tô cuồng đạo, Mỹ ủng hộ ông vì ông là một kẻ chống Cộng hăng say. Vào thời điểm này, vì chính sách của Giáo hội Công giáo là toàn diện chống Cộng, nên hậu quả là kẻ cuồng đạo phải phục tùng Nhà Thờ và thành kẻ hăng say chống Cộng tựa như nó.

Do đó, đối với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ và với Vatican, tính cuồng đạo và lối sống khắc khổ của Diệm là sự bảo đảm chắc chắn nhất rằng Diệm sẽ thực thi chính sách phối hợp của họ với mức trung thành tối đa, và những sự kiện tiếp diễn về sau đã chứng minh rằng họ đã đúng ở điểm này. Tuy nhiên những kẻ biết chuyện, đã không hề đồng quan điểm về tính thích nghi của Diệm. Tòa Đại sứ Mỹ chẳng hạn, đã khuyến cáo chống lại ông từ đầu. Cảnh báo của tòa Đại sứ đã hoàn toàn bị Washington bỏ qua, và mặc dù ngay cả Bộ Ngoại Giao chống lại sự lựa chọn này, Sở Chiến Dịch Đăc Vụ của Ngũ Giác Đài lại dứt khoát chọn Diệm. Nó đã thành công. Lời giải thích? Một bọn nào đó ở Ngũ Giác Đài đã được xúi giục bởi một đám người trong CIA vốn có các liên kết mật thiết với nhóm vận động hành lang Công giáo ở Washington và mấy tay Hồng y ở Mỹ và qua đó đã hoàn toàn ăn ý với Vatican, đã quyết định phải có một giáo dân Công giáo trung thành tại Nam Việt Nam.

Nên ghi nhớ rằng đây là giai đoạn tồi tệ nhất của Cuộc Chiến tranh Lạnh. Những kẻ cổ vũ quái quỷ của nó chính là anh em nhà Dulles – một tại Bộ Ngoại giao và một tại CIA - và Giáo hoàng. Pius XII tại Vatican, đang tiến hành một đại chiến lược phối hợp về ngoại giao, chính trị và hệ tư tưởng bao gồm cả phương Tây và Viễn Đông mà Việt Nam là một phần trong đó.

Sự lựa chọn đã tỏ cho thấy là một thảm họa cho miền Nam Việt Nam và cho các chính sách Á châu của Hoa Kỳ. Như chúng ta đã thấy, vấn đề tôn giáo rốt ráo đã làm mất hiệu lực cả toàn bộ chiến lược lớn của Mỹ ở đó.

Hai Tổng thống Công giáo, Diệm và Kennedy, đã trở thành những kẻ đứng đầu của hai quốc gia có liên quan mật thiết trong một cuộc chiến tranh gây tranh cãi nhiều nhất. Nếu nhìn từ quan điểm của Vatican và sự tiến hành của các kế hoạch của nó tại châu Á, thì điều này có những khả năng vô giới hạn. Trong những hoàn cảnh khác, sự chia sẻ những tín ngưỡng tôn giáo chung đã có thể giúp nhau trong việc tiến hành một chính sách chung, vì lợi ích chính trị của hai nước đều song hành.

Tuy nhiên, với giáo dân, Diệm đang theo đuổi những cuộc đàn áp tôn giáo lỗi thời, giáo dân Kennedy càng cảm thấy chẳng thoải mái chút nào, vì ông ta vốn là đã một nhà chính trị quá tinh khôn để chịu làm hỏng sự nghiệp chính trị của mình hoặc hy sinh lợi ích của Hoa Kỳ chỉ vì một đồng đạo Công giáo, kẻ rốt cục đã làm sĩ nhục đại đa số dân Mỹ, mà phần lớn vẫn nghi ngờ đạo Công giáo của Kennedy. Vì thế mà chính quyền Kennedy cuối cùng đã cho phép lật đổ chế độ Diệm. Thông thường, với trường hợp người Công giáo cầm quyền, bất cứ khi nào hoàn cảnh cho phép và không bị hạn chế bởi các điều khoản của hiến pháp hoặc các sự chế tài khác, thì họ có xu hướng thi hành chính sách ngày càng đồng bộ với tinh thần tôn giáo của họ. Kết quả, do kết hợp các lợi ích của đất nước với những quyền lợi của Giáo hội của họ, thường là họ tạo nên các lĩnh vực xã hội và chính trị không cần thiết.

Khi việc nước đi dần đến chỗ khủng hoảng do sự kháng cự của phe đối lập phi-Công giáo thì liền đó, đám giáo dân Ca-tô nắm quyền lực chính trị hay quân sự sẽ không ngần ngại sử dụng sức mạnh ấy chống lại những người phản đối họ. Ở giai đoạn này, như là một quy luật, quyền lợi của Giáo Hội của họ vượt lên trên quyền lợi của đất nước họ.

Công thức này đã được chứng minh là đúng trong trường hợp của miền Nam Việt Nam. Tổng thống Diệm, đã lỡ kích động một cuộc khủng hoảng như thế, lại coi thường lợi ích của đất nước, và của cả những kẻ đở đầu cho mình là Hoa Kỳ, để theo đuổi những gì mà ông ta cho là lợi ích của Giáo hội của ông.
 
Trong khi các yếu tố chính trị và quân sự vốn không quan trọng đã đóng một vai trò hàng đầu trong thảm kịch cuối cùng, chính yếu tố tôn giáo đã che khuất tầm nhìn về chính trị và quân sự của Tổng thống Diệm, và đã dẫn ông đến điều bất hạnh. Chỉ có hai mươi năm trước, tại châu Âu, một giáo dân Ca-tô khác, Ante Pavelich, đã tạo ra nước Croatia Công giáo, trong đó Giáo hội Công giáo cai trị tối cao để loại trừ bất kỳ tôn giáo khác. Giống như Diệm, Pavelich đã biện minh cho chế độ Toàn trị Công giáo trên cơ sở là một nền độc tài Công giáo là cách phòng thủ tốt nhất chống lại chủ nghĩa Cộng sản.

Theo quan niệm như vậy mà y cho mình có quyền không chỉ để phát động các cuộc đàn áp bất cứ ai hoặc bất cứ điều gì phi-Công giáo, trong trường hợp của y là Giáo hội Chính Thống, nhưng còn tiêu diệt hơn 600 ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em - một trong những hành động khiếp đãm nhất của Thế chiến II.

Ở châu Á, tình hình thì đa dạng và các bối cảnh chính trị và quân sự đang bị giám sát bởi một quyền lực hùng mạnh là Hoa Kỳ, các vụ lạm quyền như vậy đều không được phép. Thế nhưng những việc chuẩn bị cho các cuộc đàn áp tôn giáo và các trại tập trung đã là chỉ dẫn cho những gì có thể đã xảy ra nếu dư luận thế giới và ảnh hưởng hạn chế của Hoa Kỳ không kịp thời can thiệp vào. Tuy nhiên, các tham vọng chính trị và tôn giáo của hai kẻ độc tài Công giáo và mối quan hệ của họ với Giáo hội Công giáo đều đồng bộ. Vì vậy, khi bộ máy chính trị và quân sự bị kiểm soát bởi những kẻ độc tài Nam Việt Nam và Croatia được dùng vào việc phục vụ Giáo hội Công giáo, Giáo hội này liền đặt bộ máy tinh thần và nhà thờ của mình vào tay của hai kẻ độc tài để họ làm tất cả mọi người và mọi thứ phải qui phục chính sách độc tài tôn giáo và chính trị của nó.

Cả Diệm và Pavelich đã theo đuổi ba mục tiêu cùng một lúc: (1) sự hủy diệt của một kẻ thù chính trị, tức là chủ nghĩa Cộng sản; (2) sự biện minh cho sự hủy diệt của một giáo hội thù địch, tức là Giáo hội Chính Thống trong trường hợp Pavelich và Phật giáo trong trường hợp của Diệm; (3) sự thiết lập nền độc tài tôn giáo và chính trị Công giáo tại mỗi quốc gia.

Không cần bàn đến những hoàn cảnh và bối cảnh địa lý cùng nền văn hóa khác nhau, các mô hình của hai chế độ đều y khuôn: Bất cứ điều gì và bất cứ ai không chịu uốn mình và phục tùng đạo Công giáo đều bị tiêu diệt một cách tàn nhẫn bằng bắt giữ, ngược đãi, các trại tập trung và xử tử. Với kết quả do việc xem thường lợi ích của đất nước của họ mà chỉ thúc đẩy các lợi ích của tôn giáo của họ, cả hai kẻ độc tài cuối cùng đã đưa đất nước của họ vào đáy vực.

Trong trường hợp của Tổng thống Diệm, khi ông đưa Công giáo lên hàng đầu, ông đã xa lạ không chỉ với đại đa số quần chúng Nam Việt Nam, nhưng nguy hiểm hơn là số lượng lớn nhất của quân đội Nam Việt Nam, những người đã từng ủng hộ ông toàn bộ về chính trị. Ở điểm này, tiềm năng và thực tế đầy nguy hiểm của mặt trận chống Cộng mà chính sách của Diệm dựa vào, cuối cùng đã lôi việc can thiệp quân sự của Mỹ vào và đã dẫn đến các hậu quả tai hại.

Tuy Diệm vẫn là kẻ được đở đầu chính trị của Hoa Kỳ, nhưng bằng cách theo đuổi một chính sách lấy cảm hứng từ nhiệt tình tôn giáo của riêng cá nhân mình, và bằng cách bỏ qua lợi ích ngoại giao chính trị nhất định đã được kết nối với chiến lược quân sự chung của Hoa Kỳ, ông ta đã gây nguy hiễm cho cả một chính sách toàn bộ ở Đông Nam Á. Điều này trở nên rõ ràng hơn, không chỉ vì những sự bất ổn đặc biệt do ông gây trong cả nước, nhưng trên tất cả, vì các cuộc đàn áp tôn giáo của ông đã gây nguy khốn nghiêm trọng đến hiệu quả của quân đội.

Nên ghi nhớ rằng đại đa số quân đội Nam Việt Nam là Phật giáo đồ. Nhiều người trong số này, khi thấy tôn giáo của họ bị đàn áp, tăng sĩ của họ bị bắt, người thân của họ bị giữ trong các trại giam, đã trở nên chán nãn, và dĩ nhiên muốn gây binh biến. Những trường hợp vắng mặt ngày càng tăng, đào ngũ, và thậm chí cả nổi loạn. Kết quả toàn bộ của điều này không phải vì cuộc chiến tranh tôn giáo đã tự nó bất lực hóa chế độ Diệm, nhưng còn tệ hơn, là những tính toán quân sự của Mỹ đã bị hiễm nguy nghiêm trọng. Vấn đề tại thời điểm này càng trở thành bi thảm hơn, vì trong cùng thời gian đó, Hoa Kỳ đã bầu lên vị tổng thống Công giáo đầu tiên của họ, và còn bi đát hơn nữa về phương diện cá nhân, chính Kennedy trước khi vào Nhà Trắng, lại là một người kiên trì ủng hộ giáo dân Công giáo Diệm. Thật vậy, ông đã là một trong những thành viên có ảnh hưởng lớn nhất của nhóm vận động hành lang Công giáo đã lái Hoa Kỳ hướng về chiến tranh Việt Nam.

Khi tình hình nội trị và quân sự bên trong miền Nam Việt Nam đã đi từ xấu đến tồi tệ hơn, các nhà thảo kế hoạch của khu vực Đông Nam Á đã báo cáo rõ cho ông ta (Kennedy) phải làm một điều gì đó mạnh mẽ với sự hỗ trợ hoàn toàn cho giới quân sự tại chỗ để ngăn chặn sự rã ngũ rộng rãi của quân đội Nam Việt Nam. Những căng thẳng leo thang với Liên Xô Nga và Trung Quốc Đỏ đã buộc Washington đi nước cờ cấp bách, vì sự suy thoái nội bộ và quân sự có thể làm mặt trận chống Cộng sản bị sụp đổ hoàn toàn từ bên trong. Áp lực đã trở thành không thể cưỡng lại được và những bước gở đầu tiên được đưa ra. Trợ cấp cho Lực lượng Đặc biệt Việt Nam bị ngưng. Các chỉ thị bí mật đã được ban ra cho các ngành có kết nối chặt chẽ với các đường dây nội bộ giữa Hoa Kỳ và chế độ Diệm. Cuối cùng, vào ngày 4 Tháng 10, 1963, John Richardson, người đứng đầu của CIA tại Việt Nam, bất ngờ bị giải nhiệm và gọi về Washington. Một số cá nhân hiểu rằng họ đã được giao lệnh tự do hành động cho một một cuộc đảo chính chống Diệm.

Một cuộc đảo chính đã được thiết kế thành công, Tổng thống Diệm và em trai, kẻ đứng đầu đáng ghét của ngành mật vụ phải chạy trốn. Họ đã bị phiến quân phát hiện đang ẩn náu trong một nhà thờ nhỏ. Bị bắt giữ, họ đã bị đẩy vào trong một chiếc xe cơ giới như những tội phạm quốc gia. Vừa đến nơi phải tới - cả Diệm và em trai ông đã bị bắn chết. Xác chết của họ đã được đặt chỉ cách vài trăm mét từ chùa Xá Lợi, trung tâm của cuộc kháng chiến chống sự đàn áp Phật giáo của Diệm [1].

Hai mươi ngày sau vụ ám sát Diệm, tổng thống Công giáo đầu tiên của Nam Việt Nam, tổng thống Công giáo đầu tiên của Mỹ, John F. Kennedy, lại bị ám sát tại Dallas, Texas. Tại sao, và bởi ai vẫn là một bí mật từ bấy giờ.

Sau sự sụp đổ của chế độ độc tài của Tổng thống Diệm, sự tham gia của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam lại kéo dài thêm mười năm nữa từ 1963-1973 [2].
 
Vào tháng Tư năm 1975, Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay Cộng sản. Năm sau, ngày 24 tháng 6 năm 1976, phiên họp đầu tiên của Quốc hội Việt Nam khai trương tại Hà Nội ở miền Bắc. Ngày 2 Tháng 7 năm 1976, Bắc và Nam tuyên bố thống nhất, như thế kết thúc 20 năm chia cắt. Lá cờ mới của họ, một ngôi sao năm cánh vàng trên nền đỏ, đã trở thành biểu tượng cho quốc gia mới, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người dân Việt Nam đã tổn thất hàng trăm ngàn người bị thương và chết, sự tàn phá đất nước của họ và sự đau khổ vô bờ của con người. Hoa Kỳ đã hao tốn hàng tỷ và hàng tỷ đô la, sự cay đắng nội bộ và bên ngoài nước, sự tham gia của hơn 5 triệu rưỡi thanh niên Mỹ với sự mất mát của hơn 58 ngàn mạng sống của người trẻ Mỹ.[3]
 
Ghi chú cuối chương:

[1]. Người bị cáo buộc đã giết ông ta (Diệm) là một Đại úy Nguyễn Văn Nhung, người đã tự tử vào ngày 31 tháng 1, 1965.
[2]. Hoa Kỳ đã buông bỏ trực tiếp tham gia vào Việt Nam vào tháng Giêng, 1973. Sau đó, Quốc hội, mặc dù các cam kết hỗ trợ, đã quyết liệt cắt giảm viện trợ cho quân đội Nam Việt Nam – trong khi Liên Xô lại tăng gấp đôi hỗ trợ của nó. Nam Việt Nam tan rã vào tháng tư, năm 1975.
[3]. U.S. News and World Report, ngày 10 tháng 10, 1983.
 
Tác giả: Avro Manhattan

Người Dịch: Trần Thanh-Lưu
 

05 November 2011

Iran sẵn sàng đánh lại nếu Mỹ, Anh tuyên chiến

Iran sẵn sàng đánh lại nếu Mỹ, Anh tuyên chiến

Iran san sang danh lai neu My, Anh tuyen chien
Chương trình hạt nhân của Iran là nguồn cơn gây căng thẳng giữa nước này với phương Tây

Iran hôm qua (3/11) đã lên tiếng cảnh báo phương Tây rằng nước này đã sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh nếu Mỹ và Anh tuyên chiến. Lời cảnh báo được đưa ra trong bối cảnh có tin Anh, Mỹ đang chuẩn bị kế hoạch tấn công Iran.

Ngoại trưởng Iran Ali Akbar Salehi tuyên bố, Tehran sẵn sàng trừng phạt "bất kỳ mối đe dọa nào" khi căng thẳng xung quanh chương trình hạt nhân leo thang.

"Mỹ không may đã mất đi sự khôn ngoan và thận trọng trong khi xử lý các vấn đề quốc tế. Nước này chỉ phụ thuộc vào sức mạnh. Tất nhiên, chúng tôi đã sẵn sàng cho điều tồi tệ nhất nhưng chúng tôi hy vọng họ sẽ nghĩ hai lần trước khi có ý định đối đầu với Iran", ông Salehi đã phát biểu như vậy trong chuyến thăm đến thành phố Benghazi của Libya.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn tờ Hurriyet của Thổ Nhĩ Kỳ, Ngoại trưởng Salehi đã nhấn mạnh, "Iran luôn sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh".

"Iran luôn bị đe dọa bởi Israel. Điều này không mới lạ gì với chúng tôi. Chúng tôi đã liên tục phải nghe những lời đe dọa từ Israel trong suốt 8 năm qua. Đất nước chúng tôi là một đất nước đoàn kết, thống nhất. Gốc rễ của chúng tôi đã bám sâu trong lịch sử. Những lời đe dọa kiểu đó chẳng có gì lạ lẫm với chúng tôi. Chúng tôi rất tự tin về bản thân mình. Chúng tôi có thể bảo vệ đất nước mình", Ngoại trưởng Iran nói thêm.

Mỹ và Anh được cho là đang hối hả lên kế hoạch hành động sau khi có tin Iran hiện đã có đủ uranium cho 4 quả bom nguyên tử.

Iran đã trở thành mối quan tâm chính của thế giới hiện giờ sau khi cuộc xung đột ở Libya chấm dứt. Lo ngại về một cuộc chiến tranh nổ ra ở khu vực Trung Đông vốn đã đang rất căng thẳng bắt đầu dấy lên từ hôm 2/11 sau khi một số nguồn tin báo chí tiết lộ, Thủ tướng Israel đang cùng với Bộ trưởng Quốc phòng thuyết phục nội các ủng hộ phương án đánh Iran. Cùng lúc, Israel cũng tiến hành thử nghiệm một tên lửa hạt nhân có thể bắn tới Iran. Một ngày sau đó lại có tin, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thủ tướng Anh David Cameron đang lên kế hoạch tiến hành một cuộc tấn công vào Nhà nước Hồi giáo.

Việc Mỹ và Anh hối hả lên kế hoạch đánh Iran được cho là do những bằng chứng "giật mình" được đưa ra trong bản báo cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) về chương trình hạt nhân của Iran. Theo đó, Tehran được cho là đang theo đuổi một chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân song song với chương trình hạt nhân dân sự.

Israel xem Iran là mối đe dọa lớn nhất đối với họ bởi giới lãnh đạo ở Tehran thường xuyên đe dọa sẽ phá hủy Nhà nước Do Thái. Mối quan ngại của Israel với Iran ngày một tăng lên khi Iran được cho là đang phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Chưa hết, Iran còn ủng hộ cho những nhóm chống Israel như Hamas và Hezbollah.

Israel và Mỹ luôn để ngỏ khả năng tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran. Trước đây, Israel đã nhiều lần muốn tiến đánh Iran nhưng vẫn chưa nhận được sự ủng hộ của Mỹ. Đã có thời điểm người ta tin rằng, Israel sẽ tấn công phủ đầu của Iran để đặt người đồng minh thân thiết Mỹ vào tình trạng đã rồi và buộc nước này phải nhảy vào cuộc chiến để hậu thuẫn cho họ.


Kiệt Linh - (theo DM, Tele, Reuters)

04 November 2011

Tin sốc: Mỹ, Anh đang lên kế hoạch tấn công Iran

Tin sốc: Mỹ, Anh đang lên kế hoạch tấn công Iran

Tin soc: My, Anh dang len ke hoach tan cong Iran


Tờ Dailymail tối qua (2/11) đưa tin, Anh và Mỹ đang lên kế hoạch thực hiện một cuộc tấn công vào Iran trong bối cảnh căng thẳng ở khu vực Trung Đông đang ngày một leo thang.

Theo tờ Dailymai của Anh, Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng David Cameron đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh với Iran sau khi có thông tin Tehran đã tích trữ đủ số uranium làm giàu cho 4 quả bom hạt nhân.

Những bằng chứng hạt nhân khiến phương Tây giật mình.

Theo một bản báo cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) dự kiến sẽ được công bố vào tuần tới, Iran đang tìm cách thực hiện các vụ thử vũ khí hạt nhân tại một loạt những cơ sở sản xuất bị cấm. Đây rõ ràng là một hành động thách thức các biện pháp trừng phạt của Liên Hợp Quốc.

Những bằng chứng được đưa ra trong bản báo cáo của IAEA chắc chắn sẽ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực Trung Đông.

Ông Yukiya Amano, Tổng giám đốc IAEA, hiện vẫn chưa đưa ra một kết luận dứt khoát về việc Iran đang tìm cách sản xuất vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, theo các nhà ngoại giao phương Tây, những bằng chứng thu thập được khiến bất kỳ kết luận khác đều không hợp lý.

Phương Tây tin rằng, IAEA có đủ bằng chứng từ các thông tin tình báo, từ các cuộc phỏng vấn với những nhà khoa học Iran và qua các cuộc kiểm tra tại hiện trường chứng tỏ Tehran đang ngầm theo đuổi một chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân song song với chương trình hạt nhân dân sự.

IAEA cũng đánh động về việc các nhà khoa học Iran đang tìm cách phát triển một đầu nổ của tên lửa đạn đạo có khả năng mang ngòi nổ hạt nhân. IAEA cũng phát hiện ra những bằng chứng chứng tỏ Tehran đang nghiên cứu phát triển ngòi nổ hạt nhân.

Các giám sát viên của IAEA còn nghi ngờ Iran đang theo đuổi những chương trình bí mật được thiết kế để tiến hành các vụ thử vũ khí hạt nhân.
Một quan chức IAEA cho biết: "Người Iran đã trốn tránh rất giỏi và họ đã tỏ ra rất thông minh. Rất khó để phát hiện mùi thuốc súng nhưng những bằng chứng chúng tôi thu thập được đã khiến mọi việc trở nên chi tiết hơn. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi sẽ tăng cường áp lực" lên Iran .

Mỹ, Anh lên kế hoạch tấn công Iran

Trước những bằng chứng được cung cấp trong bản báo cáo nói trên của IAEA, có tin Anh và Mỹ đang bàn kế hoạch tấn công Iran .

Anh có thể sẽ nhất trí với bất kỳ quyết định nào của Mỹ trong việc đánh Iran dù cho Bộ Quốc phòng Anh đang bị căng sức quá mức bởi những khoản cắt giảm ngân sách và những khoản chi khổng lồ cho hai cuộc chiến ở Afghanistan và Libya.

Một phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Anh cho biết: "Chính phủ Anh tin rằng một chiến lược áp dụng song song hai biện pháp gây áp lực và khuyến khích là cách tốt nhất để giải quyết mối đe doạ từ chương trình hạt nhân Iran mà vẫn tránh được một cuộc xung đột khu vực. Chúng tôi muốn một giải pháp đàm phán nhưng tất cả mọi lựa chọn đang được đặt lên bàn".

Một đơn vị đặc nhiệm thuộc Bộ Quốc phòng Anh đang được giao nhiệm vụ vạch ra chiến lược cho Anh nếu quân đội nước này tiến hành một cuộc xâm lược vào Iran .

Các nhà lên kế hoạch chiến tranh của Anh cũng đang xem xét khả năng triển khai tàu chiến và tàu ngầm được trang bị tên lửa Tomahawk, chiến đấu cơ RAF, bom chính xác Paveway IV, Brimstone và các máy bay do thám… cho cuộc chiến sắp tới.

Tình báo phương Tây cho rằng, Iran đang giấu nguyên liệu hạt nhân trong những chiếc hầm ngầm kiên cố dưới lòng đất mà các tên lửa thông thường không thể với tới.

Tổng thống Mỹ Barack Obama được cho là không muốn đánh Iran trước thềm cuộc bầu cử tổng thống vào năm tới. Tuy nhiên, Washington có thể bị Israel gây áp lực nếu chương trình hạt nhân của Iran không được kiểm soát.

Thủ tướng Israel Netanyahu rõ ràng đang vận động sự ủng hộ của nội các để tiến hành một cuộc tấn công nhằm vào Iran bất chấp việc hành động này sẽ vấp phải đòn trả thù mạnh mẽ từ Nhà nước Hồi giáo.

Israel xem Iran là mối đe dọa lớn nhất đối với họ bởi giới lãnh đạo ở Tehran thường xuyên đe dọa sẽ phá hủy Nhà nước Do Thái. Mối quan ngại của Israel với Iran ngày một tăng lên khi Iran được cho là đang phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Chưa hết, Iran còn ủng hộ cho những nhóm chống Israel như Hamas và Hezbollah.

Israel luôn để ngỏ khả năng tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran . Tuy nhiên, đến nay Israel vẫn chưa nhận được sự ủng hộ của Mỹ trong lựa chọn này. Đã có thời điểm người ta tin rằng, Israel sẽ tấn công phủ đầu của Iran để đặt Mỹ vào tình trạng đã rồi và buộc nước này phải nhảy vào cuộc chiến để hậu thuẫn cho đồng minh thân thiết.

Mặc dù một cuộc tấn công như thế chưa xảy ra nhưng trước những bằng chứng mới về chương trình hạt nhân của Iran, rất có thể Israel sẽ qua mặt Mỹ để tấn công Iran. Sau đó, Mỹ và Anh sẽ buộc phải nhảy vào. Tuy nhiên với thông tin Mỹ, Anh đang lên kế hoạch tấn công Iran thì nhiều khả năng, hai nước này sẽ cùng Israel đánh Iran .

Kiệt Linh - (theo DM, Tele, Reuters)

Một thế giới mới đang ra đời ?

Một thế giới mới đang ra đời ?

Nguyễn Hoài Vân
Kỳ họp G20 tại Cannes ngày thứ năm tuần này sẽ cho thấy một thế giới mới. Tiền bạc đang tách ly khỏi những giá trị thật của kinh tế. Dân chủ đang phải đối đầu với thế lực tài chính. Và, sau hết, các nước giàu đang ngã quỵ phải quay sang cầu khẩn sự giúp đỡ cũa những nước « đang phát triển » đặc biệt là Trung Quốc.

Tư thế của Trung Quốc :

Thật vậy, những ông chủ cũ của trần gian sẽ phải cúi đầu nghe những lời khiển trách đến từ các quốc gia đã từng bị mình « giáo hóa » cách đây vài thập niên, từng bị ép buộc phải thắt lưng buộc bụng, tăng thu giảm chi, để được nhận đầu tư và được Quỹ Tiền Tệ Thế Giới cho vay ... Riêng với Trung Hoa, ngay sau cuộc họp thượng đỉnh Âu Châu vừa qua, Tổng Thống Sakozy đã điện thoại cho Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào để yêu cầu nước này tham gia vào quỹ ổn dịnh tài chính Âu Châu. Phía bên kia Đại Tây Dương, Hoa Kỳ, con nợ lớn nhất của Trung Quốc, vỗ tay tán thưởng...

Trung Hoa hiện có ba lợi thế kinh tế :

- Có tiềm năng sản xuất lớn nhất thế giới
- Là một thị trường tiêu thụ vĩ đại
- Có trữ lượng tiền tệ lớn nhất

Ba lợi thế ấy đều đi kèm với những khó khăn :

- Sản xuất càng cao càng đòi hỏi nhiều tài nguyên, nguyên liệu, và thị trường tiêu thụ. Các thứ này đều mỗi ngày mỗi suy giảm. Cấp bách nhất là nguy cơ tiêu thụ suy sụp ở Âu Châu và Hoa Kỳ, do khủng hoảng kinh tế. Một khía cạnh khác đáng chú ý đối với người Việt Nam là hình ảnh xấu về chính mình mà Trung Quốc hiện phơi bày qua những tranh chấp về chủ quyền lãnh hải. Điều này chắc chắn không thuận lợi cho việc xuất cảng hàng hóa Trung Hoa sang các lân bang, bao gồm gần 1 tỷ rưỡi người tiêu thụ (không kể Nga).

- Thị trường tiêu thụ nội địa khiến Trung Hoa có nhiều nét hấp dẫn đối với nền sản xuất tại các nơi khác, đồng thời cũng cho phép hấp thụ phần nào sự tụt giảm xuất cảng sang các nước đang khủng hoảng. Để người dân mạnh dạn tiêu thụ, Trung Quốc cần tăng lương (+ 20,8% vào đầu năm 2011), tăng bảo hiểm sức khỏe và hưu trí (+ 13,8% năm 2011). Giữa tháng giêng và tháng tám năm 2010, sự tiêu thụ quần áo và dày dép tại Trung Quốc đã tăng 23,7%. Tổng quan, số hàng bán lẻ tăng 18,4% trong năm 2010, hơn năm 2009 khoảng 1,5%. Tuy nhiên các biện pháp « phát tiền cho dân » ấy làm tăng giá thành của hàng hóa và là một trở ngại cho xuất cảng. Chúng cũng hạn chế khả năng đầu tư của Trung Hoa ra nước ngoài, như viễn tượng giúp đỡ Âu Châu.

- Có nhiều tiền để dành cũng sanh ra lắm vấn đề ! Trước hết là phải luôn tìm chỗ đầu tư để món tiền ấy sinh lợi, hay ít ra cũng không bị mất giá. Trung Quốc nắm hàng trăm tỷ nợ xấu của Hy Lạp và Ý, chưa kể những món khác. Làm sau cứu được những món nợ ấy ? Nắm giữ nợ của một quốc gia cũng là một hình thức bị tùy thuộc vào quốc gia này. Qua thí dụ của Hy Lạp (và Nga 10 năm trước), chúng ta thấy một quốc gia có thể thản nhiên quỵt nợ ! Mặt khác, tiền Trung Quốc hiện giữ là Đô La, khiến nước này cũng bị ràng buộc chặt chẽ vào chính sách tài chính của Hoa Kỳ.

Trung Quốc có thể sẽ dành cho Âu Châu khoảng 100 tỷ USD, hoặc trực tiếp, qua công khố phiếu, hoặc gián tiếp, qua Quỹ Tiền Tệ Thế Giới. Tuy nhiên, họ sẽ phải đối đầu với những chỉ trích từ trong nội bộ. Nhiều người Trung Hoa sẽ không sẵn sàng chấp nhận việc bỏ tiền giúp đỡ Âu Châu trong khi Trung Quốc vẫn còn là một nước với hơn 100 triệu người rất nghèo (mức thu nhập dưới 220,72 USD 1 năm), thiếu hạ tầng cấu trúc, lương bổng, hưu trí và an sinh xã hội thấp kém. Vì thế Trung Quốc sẽ chỉ bỏ tiền ra nếu tranh thủ được những quyền lợi tương xứng, như quy chế « kinh tế thị trường » cho phép họ xâm nhập dễ dãi hơn vào một số thị trường. Họ cũng có thể đòi được mua những công ty có tầm vóc chiến lược của Âu Châu với giá hạ (các hải cảng lớn của Hy Lạp đã nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc). Bên cạnh đó, các mũi dùi tấn công Trung Hoa quanh hối suất cực thấp của đồng Yuan chắc chắn sẽ phải bị nới lỏng. Riêng người Việt Nam cũng cần tự hỏi thái độ của quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ và Âu Châu, đối với những tranh chấp trên biển Đông sẽ bị ảnh hưởng ra sao ?

Đối đầu giữa Dân Chủ và các thế lực tài chính :

Sau vô số khó khăn, Hội Nghị Thượng Đỉnh Âu Châu cách đây vài hôm đã đi đến được một thỏa hiệp trong việc cứu nguy cho Hy Lạp. Thị trường chứng khoán hân hoan đón chào « thắng lợi » ấy với những chỉ số tăng vọt (CAC : + 6 % trong một ngày !). Nhưng người ta đã không để ý đến một chi tiết : người dân Hy Lạp. Theo một thăm dò, 60 phần trăm dân chúng chống lại chương trình trợ giúp vừa được quyết định. Trước tình thế ấy Thủ Tướng Hy Lạp Papandreou quyết định tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý. Một phản ứng hoàn toàn phù hợp với tinh thần dân chủ ! Mặc dù thế, toàn thể chính giới Âu Châu lên án Papandreou là vô trách nhiệm, coi ông như một tội phạm ... Các thị trường chứng khoán lại tụt dốc (CAC : - 5,38%). Biến cố này cho thấy một sự đối nghịch giữa các thế lực tài chính và nguyện vọng của người dân. Chúng ta có thể nói : các thế lực tài chính « thông minh » hơn người dân, và quyết định của họ sáng suốt hơn nguyện vọng của dân chúng. Trong trường hợp ấy chúng ta bước sang một thế giới trong đó dân chủ chỉ còn là một thủ tục hình thức.

Tôi cũng muốn chia sẻ với bạn đọc một chi tiết có vẻ nhỏ nhặt khác, không phải xảy ra ở Hy Lạp mà ở Đức. Fianancial Times, ngày 16 tháng 10 vừa qua cho biết Deutsche Bank vừa đầu tư gần 5 tỷ USD vào ... sòng bạc Las Vegas. Đây là một đầu tư được coi như nhiều rủi ro. Đức hiện là nước tiên phong trong việc hô hào giúp vốn cho các ngân hàng. Thử hỏi nếu người dân Đức biết chuyện này, họ có vẫn tiếp tục vui vẻ bỏ tiền vào cho ngân hàng Deutsche Bank để ngân hàng này nâng đỡ hoạt động của sòng bạc Las Vegas ? Mặt khác, làm sao cấm được các ngân hàng có tầm vóc quốc tế đầu tư vào bất cứ nơi nào họ nghĩ là có lợi ?

Tiền bạc và kinh tế :

Một điều thú vị là trước những khủng hoảng « rùng rợn » vừa kể, chúng ta buộc phải nhận xét là các nhà máy vẫn chạy tốt, nền sản xuất vẫn thừa sức đem lại cho chúng ta mọi thứ hàng hóa và nông nghiệp vẫn cho ra dư thừa thực phẩm. Tức là kinh tế thực sự, dựa trên sản xuất, không có vấn đề. Vấn đề chỉ đến từ ... tiền bạc. Mà vấn đề tiền bạc ở đây không liên hệ gì đến giá trị thật của hàng hóa, mà chỉ là những con số đến từ sự trao đổi của chính bản thân ... tiền bạc ! Tiền bạc tự nó tạo ra khủng hoảng cho chính nó...

Trong điều kiện ấy, tiền bạc có còn thực sự cần thiết hay không ? Để trả lời câu hỏi ấy chúng ta có thể hình dung những siêu thị đầy hàng hóa nhưng không có ai vào mua vì không có tiền (trường hợp deflation), những hãng xưởng hoàn toàn chạy tốt nhưng không có thợ làm việc vì không được trả lương ... Chúng ta có thể họp nhau phá cửa siêu thị để xông vào lấy hàng hóa, nhưng sau đó siêu thị sẽ trống trơn vì không còn ai bán hàng cho nó nữa. Kịch bản giả tưởng này sẽ không xảy ra vì khủng hoảng sẽ không một sớm một chiều trở thành toàn diện. Mặc dầu thế, dù khủng hoảng tài chính có chỉ xảy ra một cách hạn chế, như hiện nay, đời sống của chúng ta cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Lý do vì mọi khía cạnh nhỏ nhặt nhất của đời sống của chúng ta đều phải qua trung gian của tiền bạc. Trong căn bản, điều này không có gì tai hại. Người ta đã tạo ra tiền bạc, từ những thời xa xưa nhất, vì sự tiện ích của tính trung gian ấy. Tuy nhiên, tiền bạc chỉ thực sự tiện ích khi nó là trung gian giữa những giá trị thực sự. Mà giá trị thực sự không thể là gì khác hơn là giá trị tạo ra bởi công việc làm. Kỳ dư chỉ là những giá trị ảo. Một cổ phần trên thị trường chứng khoán có trị giá 100 hay 1000 USD tùy số người xông vào mua nó, bất chấp giá trị thật của nó. Đó là giá trị ảo. Vấn đề là dần dần tiền bạc bị gắn liền với giá trị ảo hơn là với giá trị thật. Tình trạng này đưa đến thiếu tiền (deflation) hay tiền mất giá trị (inflation), trong khi guồng máy kinh tế, tự nó, vẫn dư thừa tiềm năng.

Chờ đợi gì ở G20 ?

Các nguyên thủ quốc gia có thể sẽ lại lập lại những quyết định của các G20 trước : tách ngân hàng tín dụng với ngân hàng tài chính, kiểm soát các « thiên đường thuế vụ », hạn chế các hoạt động đầu tư rủi ro của các ngân hàng, tăng cường những « ngân sách an toàn » để tránh nợ dây chuyền, siết chặt chính sách tăng thu giảm chi, v.v... Thêm vào đó người ta có thể nâng vốn cơ bản của các ngân hàng, bằng công quỹ hay bằng chính tiền của các ngân hàng ấy. Trong cả hai trường hợp, đầu tư sẽ suy giảm, đưa đến kinh tế suy thoái, giảm thu thuế khóa, và nhu cầu xiết chặt chi tiêu hơn nữa.

Có thể nói là phần lớn các biện pháp được đề ra sẽ quay quanh việc tăng nợ của các quốc gia đang khủng hoảng để bảo đảm cho những món nợ sẵn có của nhau. Trong tình trạng nợ chồng thêm nợ ấy, các nước đang phát triển sẽ trao đổi sự trợ giúp của họ với một số lợi ích như trong lãnh vực xuất cảng nông sản vào các nước tiền tiến, không kể đến những đòi hỏi của Trung Quốc đã nói ở trên. Khía cạnh tích cực của điều này là nó khiến cho các quốc gia vốn có thể ở tư thế đối nghịch nhau, phát triển một ý thức chung, để tham gia vào cùng một cuộc phiêu lưu, thay vì mỗi thành phần (thí dụ Trung Quốc) theo đuổi những phiêu lưu của riêng mình.

Xa hơn một bước, chúng ta có thể hy vọng các nguyên thủ quốc gia có can đảm đi đến kết luận rằng họ không đủ khả năng để giải quyết trong lâu dài cuộc khủng hoảng, và quyết định trao quyền cho một cấu trúc « siêu quốc gia », được hình thành một cách thực sự dân chủ, với quyền hạn và phương tiện đủ để quản lý các vấn đề kinh tế, tài chính trên toàn cầu./.


Nguyễn Hoài Vân

01 November 2011

Đánh bóng tên tuổi hay quả bóng xì hơi?

Đánh bóng tên tuổi hay quả bóng xì hơi?


Trong vài tuần vừa qua, dư luận tại VN bỗng trở nên rất sôi nổi khi xuất hiện một một hai ông bộ trưởng mà mọi người đều cho rằng, các ông đó "dám nghĩ dám làm" và đã làm được vài việc đáng làm, như lập tức cách chức một viên chức dưới quyền; đòi hỏi ngành điện phải minh bạch trong việc đầu tư, mua bán điện; cấm các ấp dưới quyền không được chơi golf; hứa sẽ "vi hành" trên các xe buýt… Tuy là việc nhỏ, nhưng nó liên quan đến "đại sự quốc gia". Bởi nó bao gồm trên nhiều lãnh vực: giao thông, y tế, xăng dầu, giá cả, lạm phát, ảnh hưởng sống còn đến xã hội và đời sống nhân dân. Phải nhận định khách quan rằng, việc làm đó đã được một số lớn người dân hy vọng vào một "cái gì mới hơn sẽ đến", tình trạng chai lỳ, nhập  nhằng, tham nhũng vặt… may ra sẽ bớt.

Bệnh hoạt đầu là bệnh … hay quên!

Nhưng lại cũng có người đa nghi hơn, cho rằng "quả bóng xì hơi" tí đỉnh rồi lại "vũ như cẩn" như bao nhiêu quả bóng xanh đỏ trước thôi. Sự "đa nghi" đó không chỉ ở lớp người già nhiều kinh nghiệm sống mà ở ngay trong giới trẻ.

Tuy nhiên, có một số  người, chẳng biết có phải là "lạc quan tếu" hay không, lại tin rằng đó là biểu hiện của một số ông bộ trưởng đã từ lâu nhìn thấy các "sếp lớn" của mình phạm những điều chướng tai gai mắt, nay có dịp ngồi vào những chiếc ghế của "đàn anh" mới có dịp muốn thực hiện ngay ý định của mình.

Nhưng anh có tâm huyết đến đâu thì luôn bị những kẻ lệ thuộc vào những quyền lợi có sẵn, sợ mất ghế, mất mặt, sợ đồng liêu nổi hơn mình, nhảy ra cản đường. Những anh này không hiếm. Họ lại cho rằng mấy ông bộ trưởng nói hăng, làm liền như thế chỉ là để đánh bóng tên tuổi mình như ca sĩ quảng cáo cho cái danh mà thôi. Cái bệnh gọi là "bệnh hoạt đầu", nói rõ hơn là bệnh nói và làm chỉ được lúc ban đầu rồi quên, chẳng thèm ngó đến nữa. Thật ra thì chuyện đó xảy ra như cơm bữa nên họ mới có cớ để chèn chống.

Hoạt đầu và đánh bóng tên tuổi hay quả bóng xì hơi thì chúng ta cần phải đợi thời gian xem kết quả cụ thể sẽ mang lại những gì cho người dân. Hãy khách quan nhìn nhận vấn đề, không thiên lệch, không bôi bác quá sớm, không đặt quá nhiều hy vọng. Cái gì đáng khen thì cứ khen, cái gì đáng chê thì cứ chê. Đó mới là chính luận. Độc giả thừa thông minh để phán xét nhận định này.


Để đi vào chi tiết "tính thời sự", kỳ này, tôi nêu vài chuyện gay go về Giao Thông.

VN làm đường đắt hơn Mỹ 3 lần, đắt hơn nước khác 12 lần

Trước hết là nguồn tin về việc "Làm đường Việt Nam đắt gấp 3 lần Mỹ" làm người ta rùng mình liên tưởng đến làm tượng đài Bà Mẹ VNAH sang hơn Mỹ bị dư luận phản đối quyết liệt mà nay chính phủ VN đã ra lệnh ngừng tiến hành. Dân bớt được một mối lo, nhưng mới đây, thạc sĩ Nguyễn Xuân Thành, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright, lại cảnh báo Trục đường TP Sài Gòn-  Long Thành - Dầu Giây lẽ ra là dự án cao tốc hiệu quả nhất TP Sài Gòn, nhưng cuối cùng lại trở thành mối nguy cơ làm tăng gánh nặng nợ công cả nước vì suất đầu tư quá cao. Và cảng nước sâu Thị Vải - Cái Mép được ông Thành coi là hai dự án điển hình của lĩnh vực giao thông, một lĩnh vực nặng gánh nợ công và vẫn có nhu cầu rất lớn về đầu tư công.

Ở đây, chúng ta hãy bàn đến dự án thứ nhất. Dự án này đóng vai trò đường giao thông cửa ngõ của TP Sài Gòn. Rất nhiều yếu tố khiến dự án cao tốc có hiệu quả tài chính kinh tế cao như kết nối với sân bay quốc tế Long Thành trong tương lai, kết nối với cảng biển nước sâu và kết nối với hệ thống đường cao tốc bắc nam. Lưu lượng dự trù của đường cao tốc này là 100.000 lượt đơn vị xe nhỏ mỗi ngày, cao hơn tất cả các trục đường cao tốc khác trong toàn quốc, nhờ vậy mà cơ hội thu phí cao.

Nhưng dự án này rất khó hút vốn tư nhân, 99,4% tổng mức đầu tư vẫn phải tài trợ bằng nợ công, khả năng chi trả rất khó khăn khi mà suất đầu tư quá cao. Tổng vốn lên tới hơn 930 triệu USD cho 55 km với 4 làn đường, suất đầu tư của dự án này là 18 triệu USD mỗi km, cao hơn hẳn các nước khác. Nếu loại trừ các chi phí xây cầu dẫn, đền bù giải phóng mặt bằng (bồi thường cho người bị mất nhà cửa ruộng vườn, dời đi nơi khác sinh sống), suất đầu tư riêng cho việc xây đường đã là 12,7 triệu USD một km. Trong khi đó, chi phí trung bình để xây một km đường cao tốc ở Mỹ chỉ là 1,4 triệu USD, tức 5,6 triệu USD cho 4 làn.  Còn ở Trung Quốc hay Nigeria chỉ là 1 triệu USD.

Vậy là làm đường ở VN, nhân công VN mà cao hơn Mỹ 3 lần. Còn so với Trung Quốc hay Nigeria chỉ là 1 triệu USD, cao hơn đúng 12 lần. Không hiểu những nhà làm kinh tế ở VN và nhà thầu – có lẽ hầu hết là nhà thầu nước ngoài– tính toán thế nào?

Thạc sĩ Thành bình luận: "Chi phí đầu tư quá cao khiến một dự án dù có hiệu quả kinh tế nhưng vẫn nguy cơ khó trả nợ và tạo thêm gánh nặng nợ nần".
Khi ông Thành tới trực tiếp khảo sát dự án này, ông lo ngại: "Giờ thì khả năng trả nợ của dự án này lại gặp nhiều khó khăn. Không biết tới bao giờ có thể thu hồi được vốn để giảm gánh nặng nợ công".

Nợ như chúa Chổm, có thể vỡ nợ

Dù có chủ trưởng kiểm soát và hạn chế, nợ công tại Việt Nam vẫn liên tục tăng trong 10 năm qua, lần đầu tiên vượt mốc 50% vào năm 2009 khi thực hiện kích cầu và hiện lên tới 57,3% GDP theo công bố của Bộ Tài chính. Ông Thành dự báo con số này có thể đến sát 60% vào cuối năm nay và 70% vào cuối năm sau nếu Chính phủ chấp nhận giảm tăng trưởng để ổn định kinh tế. Ông Thành cho rằng nợ ODA với lãi suất ưu đãi... thì nợ công của Việt Nam cũng vẫn an toàn. Tuy nhiên, xu thế gia tăng nợ công tại Việt Nam trái ngược hoàn toàn với các nước trong khu vực với tỷ lệ trung bình chỉ vào khoảng 40% và đang giảm dần. Tỷ lệ an toàn được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khuyến cáo cũng là 40%. Trong khi đó, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang ở mức thấp, chỉ tương đương 2 tuần nhập khẩu theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) và khó tăng trở lại như thời đỉnh cao.

Ông Trần Xuân Giá , Nguyên bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư, cho rằng điều đáng lo ngại của nợ công không phải là đã vượt qua ngưỡng cho phép, mà khả năng trả nợ của Việt Nam cực kỳ thấp. Ông nói: "Ai đó có diệu kế để nâng khả năng trả nợ của Việt Nam và làm thế nào để cuộc khủng hoảng nợ công của Việt Nam đừng xảy ra, nó vốn đang tăng nhanh rồi. Nếu cứ với đà này nếu không kiểm soát được chúng ta sẽ vỡ nợ".

Theo ông, việc làm đầu tiên khi tái cấu trúc đầu tư công đó là không cho "đẻ" các dự án mà vài năm nữa lại phải bàn cách thanh toán nợ nần. Còn với những dự án dang dở, dù hiệu quả hay không, ông Giá đề nghị Nhà nước nên bán đứt nếu thấy mình làm không tốt bằng tư nhân.

Không cần phải là nhà kinh tế đại tài, người dân cũng có thể thấy theo cách làm kiểu hiện đại và đúng tiêu chuẩn thì thường kiếm lời ít hoặc không có lời vì còn cái khoản lớn là "chung chi, chia chác". Phải "đôn" dự chi lên mới sống nổi và làm theo kiểu độn cọc tre thay cọc sắt, bê tông toàn cát và gỗ mục thay gỗ lim.

Hơn thế, gánh nặng nợ nần như ông Giá nói sẽ là… vô tận nếu còn ôm đồm những dự án đưa đến vỡ nợ. Chúng ta có quỵt nợ quốc tế được không? Chắc chắn là không. Dù có "chạy làng" thì người dân Việt vẫn phải trả nợ từ đời ông đến đời con, đời cháu. Xin nhớ là tỷ lệ nợ trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có thể chạm ngưỡng 60-65% vào năm 2015 như công bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên khai mạc Quốc hội sáng 20/10.

Hai vấn đề trên có vẻ là thuộc nền kinh tế mà người ta gọi là "vĩ mô". Nhưng thật ra chẳng có gì khó hiểu. Nợ nần tăng khiến tăng trưởng không ổn định và lạm phát càng tăng, dân càng khổ. Nó liên quan trực tiếp tới mọi mặt đời sống hàng ngày của người dân.

Mô hình đường cao tốc Sài Gòn - Long Thành - Dầu Giây

Công chức lấy tiền đâu ra chơi golf

Bây giờ xin trở về với những mẩu chuyện hàng ngày thông thường hơn. Ông Bộ trưởng Giao Thông - Vận Tải, Đinh La Thăng bỗng nổi tiếng hơn hết các quan chức và nghệ sĩ đương thời bởi những quyết định táo bạo và rất thực tế của ông. Gần đây nhất là ông đọc báo, đọc ý dân và quyết định "vi hành" trên các chuyến xe buýt để biết rõ tình hình. Điều đáng nói tôi nhận thấy ở đây, chính là việc chịu khó đọc báo vá chịu chú ý đến tiếng nói của người dân. Thường các "đại quan" ít đọc báo vì "công việc đa đoan", còn thì giờ đâu đọc báo. Vả lại ý kiến của dân thì nhiều vô kể, ầm ì như sóng biển nên cứ nghe qua rồi bỏ hoặc không nghe cho đỡ nhức đầu. Báo mới đăng hôm trước, hôm sau ông Thăng đã trả lời bằng hành động cụ thể. Chưa bao giờ ở VN có hiện tượng này. Lâu lâu chỉ thấy "quan to" đi "kinh lý" với hàng đoàn xe hộ tống phía sau, có khi hú còi inh ỏi làm dân đi đường sợ xanh mặt.

Ông Thăng yêu cầu viên chức dưới quyền ông không nên đánh golf được đưa ra không qua cuộc họp tham mưu nào. Khi cấp trên yêu cầu có nghĩa như một cái lệnh. Tất nhiên, trong bộ của ông đã có nhiều vị công chức chơi môn thể thao quý tộc này. Ở VN đá bóng, chơi bóng bàn, bóng chuyền… là của mọi người,  chơi tennis là nhà khá giả, còn chơi gôn thì đúng là môn chơi dành riêng cho "quý sờ tộc", cho những vị có thừa tiền. Con số người chơi gôn ở VN có thể đếm trên đầu ngón tay. Cứ hình dung khoảng 1000 người thì chỉ có 1 người chơi golf. Đó là ở thành phố, còn ở tỉnh, ở huyện lỵ thì tỷ lệ còn thấp hơn, phần nhiều là không ai chơi hết và cũng rất ít nơi có sân golf. Ngay cả xem chơi golf trên truyền hình, có mời cũng chẳng ai muốn coi.

Chi phí chơi golf bằng mấy chục cái gia tài nông dân

Theo tôi biết, những khoản chi phí cho cuộc chơi golf được tính theo đô la. Chi phí đó được chia làm 3 loại. Đối với hội viên (member) mức phí khoảng 15-27 USD cho mỗi lần chơi. Khách mời của hội viên (member guest) phải trả giá cao hơn, khoảng 60-80 USD. Phí cho khách vãng lai (visitor) là cao nhất, lên tới trên dưới 100 USD. Để có được một chiếc thẻ hội viên trên thị trường hiện nay, người chơi phải trả tới 30.000 USD - 130.000 USD tuỳ sân. Các thẻ có thể mua đi bán lại tuỳ theo mức thoả thuận. Mỗi năm, đóng góp thường niên của nhiều sân khoảng trên dưới 1.000 USD đến khoảng 2.000 USD. Chưa kể đến muốn chơi được phải bỏ ra hàng năm trời tập luyện. Chi phí ban đầu cho thầy dạy cũng lên tới 50 USD cho mỗi buổi tập, trong thời gian một tiếng đồng hồ. Số tiền "đầu tư" chi phí vào cái thú chơi gôn bằng mấy chục cái gia tài của người nông dân. Và cái thú ấy mới du nhập vào VN trong những năm tháng "mở cửa" sau này, nó còn khá xa lạ với quần chúng, chỉ gần gụi với những vị thích "thời thượng". Cái thú ấy cũng chỉ là trò giải trí như đi vũ trường uống vài chai "cổ lùn" một hai triệu. Anh giàu anh có quyền chơi. Nhưng những vị công chức nhà nước thì luôn than lương không đủ sống, lấy tiền đâu chơi golf? Trong một buổi họp vào tháng 8 năm nay, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam nói thẳng: "Nếu chỉ trông vào lương, người nghèo đừng nghĩ đến nhà thu nhập thấp, vì lương cỡ Bộ trưởng cũng phải 40 năm mới đủ tiền mua".

Nhìn vấn đề ở khía cạnh khác, nếu một số quan chức ở Bộ Giao Thông Vận Tải chơi golf thì ở các Bộ khác, các cơ quan khác, chắc cũng chẳng chịu kém, đã có nhiều công chức chơi môn thể thao quý tộc này. Người dân có thể nhìn rõ nạn tham nhũng từ đó. Bởi vậy ông bộ trưởng mới phải lên tiếng.
"Cán bộ là đầy tớ của nhân dân, vì dân phục vụ" mà sống xa rời quần chúng như thế là tự tách mình sang một giai cấp khác. Người dân nghèo chỉ còn biết chống mắt nhìn giai cấp thượng lưu ấy chơi trên đầu mình. 

Một góc sân golf Vân Trì - Hà Nội



Văn Quang – Viết từ Sài Gòn 29-10-2011


Hình 1- Mô hình đường cao tốc Sài Gòn - Long Thành - Dầu Giây
Hình 2- Một góc sân golf Vân Trì - Hà Nội