04 November 2012

CÁCH XƯNG HÔ TRONG PHẬT GIÁO


Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

Trong khóa nghiên tu an cư mùa hạ năm 2005, tại Tổ đình Từ Quang Montréal, Canada, các thắc mắc sau đây được nêu lên trong phần tham luận:
 
1) Khi nào gọi các vị xuất gia bằng Thầy, khi nào gọi bằng Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng?
2) Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
3) Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy hay Sư phụ, người con hay cháu phải gọi là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy?  Như vậy con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình chăng?
4) Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng "con" được chăng, dù rằng vị tại gia cao niên đó xưng là "con" với vị xuất gia?
5) Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong gia đình?
 
Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, cần thông qua các điểm sau đây:
 
*1)  Chư Tổ có dạy: "Phật pháp tại thế gian".  Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc đời.  Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời.  Chư Tổ cũng có dạy: "Hằng thuận chúng sanh".  Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.
 
*2) Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp:
Một là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức, trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh.  Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người, tại gia hay xuất gia, mà thôi.  Người chưa rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết luận như vậy.  Cho nên, việc tìm hiểu và giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.
 
*3) Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo.  Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra.  Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp).  Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời.  Ở đây không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không liên tục.
* * *
Bây giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chơn nhập đạo. Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ.  Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên gọi là "khu ô sa di" (sa di đuổi quạ).
Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ).  Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia. 
 
Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có.  Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni.  Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới.  Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời (thường gọi là viên tịch, không nên lạm dụng từ vãng sanh), không phải thụ giới nào cao hơn.  Việc thụ bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông. Nam tông không có giới này. 
 
Ở đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền, phát triển) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền, nguyên thủy) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương nam của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt Nam.
 
Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng theo hiến chương của Giáo Hội Phật Giáo như sau:
1) Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
2) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
3) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.
Còn đối với bên nữ (ni bộ):
4) Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
5) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
6) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà (bây giờ gọi là Ni trưởng).
 
Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp Đại Lễ hay Đại Hội Phật Giáo, trong các Giới Đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm.
 
Như trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ.  Ni sư nghĩa là Thượng tọa bên ni bộ.  Sư bà (hay Ni trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ.  Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là: "Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni", chính là nghĩa đó vậy. Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng: Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni.  Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe không quen tai nhưng không phải là sai. Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở Giáo Hội Phật Giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại Tùng Lâm, Phật Học Viện, Tu Viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa Thượng. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng minh tối cao của các Giáo Hội Phật Giáo. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa là: thầy tu).
Đến đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.
 
1)*        Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách).  Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư). Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ, Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá. Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh, Sư chị, Sư em. Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, thân hữu, hội hữu, chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp). Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.
 
2)*  Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quí vị cư sĩ Phật Tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy.  Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam Bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới), mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni. Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni, xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh.
 
3)*  Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo) tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là "Quí Phật Tử". Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là Phật Tử, chứ không riêng tại gia là Phật Tử mà thôi.  Việc một Phật Tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi gọi một Phật Tử tại gia nhiều tuổi bằng "con" thực là không thích đáng, không nên. Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức. Không nên bất bình, khi nghe như vậy, tránh bị loạn tâm. Biết rằng mọi chuyện trên đời: ngôi thứ, cấp bậc, đều có thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứ theo thời gian tăng lên. Theo truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.
 
4)*  Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật Tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày. Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho quí Phật Tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp.  Còn được gọi là Ưu bà tắc (Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di  (Tín nữ, Cận sự nữ).
 
5)*  Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của tiếng xưng "con" trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La. Ngài là con của đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo. Ngài sớm được tu tập trong giới pháp, công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ. Ngài không ngừng tu tập, cuối cùng đạt được mục đích tối thượng. Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của đức Phật, nhờ diễm phúc được làm "con" của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng "con" trong giáo pháp của đức Phật.
 
6)*  Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ ngữ này có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả năng hoằng pháp, từng đảm nhận trọng trách, hay nghiên cứu tu tập trước khi vào đạo.
 
7)*  Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư Ông, Sư Cụ thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là Pháp Sư, dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp (pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.
 
8)*  Danh xưng Sư Tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danh xưng Tổ Sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo. Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.
 
9)*  Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh.  Các vị đệ tử lớn của đức Phật cũng được gọi là Ðại Ðức.  Trong các giới đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức. 
 
10)*  Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Bồ tát Thường bất khinh, bất tùy phân biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau, vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn. Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh.  Cho nên đơn giản nhất là: "xưng con gọi Thầy".
 
Theo các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.
 
Tóm lại, ngôn ngữ, danh từ chỉ là phương tiện tạm dùng giữa con người với nhau, trong đạo cũng như ngoài đời, có thể thay đổi theo thời gian và không gian, cho nên cách xưng hô trong đạo Phật tùy duyên, không có nguyên tắc cố định, tùy theo thời đại, hoàn cảnh, địa phương, tông phái, hay tùy theo quan hệ giữa hai bên. Đó là phần tu tướng.
 
Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ, nếu có, trong nhà đạo.  Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.  Nơi đây không bàn đến cách xưng hô của những người không thực sự phát tâm tu tập, hý ngôn hý luận, náo loạn thiền môn, dù tại gia cũng như xuất gia.  Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai. Nhất niệm sân tâm khởi, thiêu vạn công đức lâm, chính là nghĩa như vậy.
 
Cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhứt, thế thôi!  Đó là phần tu tâm.
 
Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không biến đổi, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nổ lực, cố gắng  tu tâm dưỡng tánh không ngừng, cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh: giác ngộ và giải thoát, đối với Phật Tử tại gia cũng như xuất gia. 
 
Đó chính là một phần ý nghĩa của "tùy duyên bất biến" trong đạo Phật vậy._((*))_
 
Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

03 November 2012

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 21

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ
Bài số 21
HỒ TẤN VINH

II. – SAU 1975, VIỆT CỘNG CHO VNCH CHÁNH NGHĨA
Nếu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có hòa hợp hòa giải thật sự?
Hai bên buông súng, lính tráng ôm nhau mà hôn mà khóc, thì dân chúng hai miền vui mừng biết bao. Cuộc chiến đã kéo dài quá lâu. Ngoại trừ những người lãnh đạo, dân chúng không ai mong mỏi chiến thắng. Người dân miền Nam bất cần ai chiến thắng, vì họ nghĩ rằng mặc ai chiến thắng, người dân vẫn là người dân. Đối với người mẹ già mòn mỏi, đối với đứa trẻ thơ ngơ ngác, đối với người lính chiến ngổn ngang trăm nỗi, cuộc chiến không còn có ý nghĩa chánh trị thần thánh nào. Nó trở thành một thứ tai trời ách nước. Người dân miền Nam chỉ mong mỏi hòa bình.
Hòa bình!
Hòa bình!
Đó là ước mơ chung của dân chúng miền Nam. Cái mục tiêu chung bây giờ đạt được rồi. Mọi người trở về xóm làng xây dựng lại. Tài nguyên, đất đai có thừa cho mọi người cùng sống, đâu cần gì phải giành giựt, xô đẩy. Cái sợ nhứt của người dân là làm sao đừng có chuyện ban đêm có người gỏ cửa dẫn thân nhân đi mất tích. Làm sao giữa ban ngày đừng có cường hào ác bá.
Khi cái ước mơ của quần chúng và ước mơ của lãnh tụ là một thì dân chúng có một minh quân vì lãnh tụ nhận nhiệm vụ từ dân.
Khi ước mơ của quần chúng và ước mơ của lãnh tụ khác nhau thì đương nhiên quần chúng sẽ bị gạt và lãnh tụ muốn thực hiện ước mơ riêng của mình bắt buộc trở thành bạo chúa.
Cầu xin được yên ổn làm ăn. Ước mơ đơn sơ của người dân như vậy mà đạt được thì Hồ Chí Minh thật sự là anh hùng của dân tộc, còn hơn nữa, là một vĩ nhân của thế giới như một đề nghị dự định đem ra bàn thảo tại UNESCO. Ông sẽ là người ái quốc đã can đảm chấp nhận tột cùng đau khổ để thi triển tuyệt chiêu 'cứu cánh biện minh cho phương tiện'
Nhưng sự đời lại không phải xẩy ra như vậy.
1.- Ăn cướp
Việc CS ăn cướp khi chiếm được miền Nam như thế nào có đồng bào miền Nam thấy tận mắt, đã có sách báo viết rất nhiều. Nên tôi không có lập lại ở đây. Tôi chỉ nhắc lại một điều mà ít khi người ta nói đến. Đó là trong số những người ăn cướp ngày nay cũng có người ngày xưa liều mạng lên đàng, mang ước mơ xây dựng một thế giới đại đồng, trong đó không có ai ăn cướp của ai.
2.- Bắc-kỳ-trị
Đây là một danh từ húy kỵ, ai cũng nghĩ đến mà không ai dám nói ra, cho nên cần phải định nghĩa rõ ràng thì mới hy vọng tránh được sự chụp mũ hồ đồ.
Trước tiên phải nói rằng dân Việt Nam là một. Không có sắc dân Nam kỳ riêng biệt. Người Nam kỳ cũng chỉ là người Bắc kỳ hai ba trăm năm trước đi vào Nam lập nghiệp. Đa số những người này là lính của Chúa Nguyễn và một số tù binh của Chúa Trịnh. Có thể vì tắm nước sông Cữu Long và uống nước sông Đồng Nai nhiều quá mà giọng nói có khác đi một chút, nhưng tình cãm dân tộc không có chia rẻ. Khi miền Bắc bị những tai ương như lũ lụt, đói kém, dân miền Nam vẫn nồng nhiệt quyên góp để giúp đở. Trong nạn đói Ất Dậu ở miền Bắc, hội y sĩ của BS Nguyễn Văn Thinh trong 20 ngày (15-4 đến 5-5) đã quyên được 153.312 đồng (Chính Đạo tr. 220). Tính theo thời giá bây giờ là bao nhiêu triệu Mỹ kim?
Rừng núi, đất đai miền Nam rộng mênh mông, chưa khai phá hết. Sở dĩ người giàu miền Bắc không chịu vô Nam vì họ không chịu rời quê cha đất tổ, nơi đó có mồ mã ông bà. Chớ người Bắc nào vào Nam lập nghiệp đều có thể sống thoải mái. Đất đai là của Trời cho. Người Bắc mới vô hay người Tàu mới tới đều có thể tự nhiên khai phá đất hoang mà làm vườn tược, ruộng nương của mình. Ngoại trừ trường hợp gian manh đóng tiền lập bằng khoán trên đất mà người dân đã khẩn trước – thì đó là ăn cướp - chớ người miền Nam không có ganh tỵ với người đến sau.
Đến năm 1954, một triệu dân miền Bắc di cư vô Nam, dân miền Nam vẫn nhìn họ như những người bị nạn, đi lánh nạn. Dân miền Nam không có kỳ thị người Bắc di cư.
Những người này mau chóng định cư và làm ăn phát đạt, Họ đã hòa đồng và đóng góp vào sinh hoạt của miền Nam.
Khi Giáo Sư Vũ Quốc Thúc làm Khoa Trưởng trường Luật hay Giáo Sư Trần Ngọc Ninh làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục, không có ai kỳ thị họ là Bắc kỳ. Ngược lại, người Nam khâm phục học vấn cao thâm của họ.
Bắc-kỳ-trị ở đây là một hiện tượng khác. Đây là những tên Bắc kỳ chưa từng biết Saigon ở đâu, Vĩnh Long ở đâu mà lại cầm cái sự vụ lệnh ký ngoài Bắc vào Nam làm Giám Đốc hay phó giám đốc tại các cơ sở hành chánh, kinh tế, an ninh v.v. . .  Còn nhục mạ hơn nữa, chúng ngang nhiên để một tên Bắc kỳ làm đại biểu Quốc hội cho một tỉnh miền Nam. Chủ trương phân biệt dân tộc này mang danh nghĩa của đảng CSVN, nhưng thực chất đảng CSVN chỉ là Xứ Ủy CS Bắc kỳ mở rộng.
Bây giờ hãy nghe Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang nói:
'Cho nên Quốc hội Việt nam chỉ là do Đảng cử dân bầu. Sách trắng viết: 'thông qua bầu cử, người dân tự lựa chọn ra những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình', nhưng thực tế rất nhiều đại biểu quốc hội của một tỉnh không hề sinh ra, lớn lên, cũng không hề làm việc ở tỉnh đó. Có người sinh trưởng, công tác ở Hà Nội lại là đại biểu quốc hội của nhân dân Đồng Nai. Có người sinh trưởng, công tác ở Thanh Hóa lại đại diện cho nhân dân Vũng Tàu' (Tr. 54)
TS Nguyễn Thanh Giang vốn sanh ra tại Thanh Hóa mà còn thưởng thức món giả cầy này không nổi, thì nhân dân miền Nam làm sao đây?
Trung hoa ngày xưa cũng có gởi Thái Thú qua cai trị Việt Nam. Miền Nam sau 1975 cũng có những Thái Thú Bắc kỳ.
Một người cựu Kháng chiến vừa biết tôi vượt ngục mới về, mời tôi một bửa cơm. Tôi đói quá ăn ngon lành. Không biết để an ủi tôi hay tự an ủi mình. Anh bổng nghêu ngao ngâm 'Một khi ta biết thì ta đã . . .'Bài thơ của T.T.KH (đến nay tôi hiểu thì tôi đã, làm lỡ tình duyên cũ mất rồi) nhưng anh ta ngâm chỉ có một câu. Nghe một hai lần đầu thì như có vẽ đùa cợt. Nhưng càng nghe thêm thì càng thấy thê lương, đứt ruột làm sao. Đó là cái bí mật lạnh người mà người miền Nam bây giờ mới thấy thấm.
3.- Mới thương người lính Cộng Hòa
Người dân miền Nam, kẻ cần một tháng, kẻ cần một năm, có kẻ cần cả chục năm để dần dần hiểu rằng miền Nam không có được giải phóng mà là bị ngoại bang ăn cướp.
Chừng đó họ mới thật sự đâm ra thương người lính Cộng Hòa. Tội nghiệp các anh quá. Các anh đi đánh ăn cướp trước sự dửng dưng của các chủ nhà. Trong các gia đình miền Nam đâu có gia đình nào không có người đi lính.
Chúng ta đều biết khi có giấy gọi nhập ngũ thì mạnh ai nấy chạy chọt hoản dịch hoặc trốn lính. Nếu chạy chọt lần thứ nhứt không có kết quả mà phải tòng quân thì chạy chọt lần thứ hai kiếm một chỗ an toàn, không ra trận. Cho nên người lính Cộng Hòa đi đánh trận, ngoài một số nhỏ tình nguyện, đa số là những người không có chỗ nương tựa, họ thật sự đơn côi.
Thách thức hơn nữa, những người trốn nghĩa vụ không biết nhục lại là người kiêu ngạo, hãnh diện, tự đắc, khoe khoan rằng mình có gốc to! Người lính chiến sinh tử chỉ có các đồng đội cùng cảnh ngộ, chung thuyền với mình chỉ có người chỉ huy trực tiếp. Họ phải tích cực giết giặc nếu không thì bị giặc giết.
Nhưng trên tột cùng thì không có ai đáng ngưỡng mộ hay kính phục để mà hy sinh không nuối tiếc.
Người ban Huấn từ phải để 'Tổ Quốc trên hết', người ban Nhật Lệnh phải 'nêu cao Chánh Nghĩa Quốc Gia', chiều nay, người thì uống whisky, người thì đếm bạc, tối nay quay quần với vợ con bên cái TV. Trong gia đình không chừng có một hai thanh niên đã đến tuổi đi lính mà không biết bằng cách nào đó lại chưa ra chiến trường. Người lính biên ải ôm cái radio nghe Huấn Từ, Nhật Lệnh, chiều nay nhớ nhà, không biết tối nay vợ con đi ngủ có được no bụng không. Trong tình trạng này, họ nghĩ gì? Tổ Quốc là gì? Tổ Quốc của ai? Có Chánh Nghĩa không? Cái Chánh Nghĩa nào?
'Các nhà giàu bỏ tiền ra mua bằng cấp và thông hành cho con đi du học với cả bạc triệu để khỏi đi lính. Chỉ có nhà nghèo con mới bị động viên. Chiến tranh trở nên chiến tranh của người nghèo, hy sinh để bảo vệ cho nhà giàu.'Nguyễn Trân, tr. 587.
Cuộc chiến đã chi phối mọi khía cạnh của đời sống. Khi mới lọt lòng mẹ, ai cũng đã nghe tiếng súng rồi. Lớn lên, ai cũng đã từng thấy người từ giả gia đình đi nhập ngũ, đã từng thấy xác đem về. Người lính coi sự kiện này như một định mạng, trời kêu ai nấy dạ, không thể tránh được.
Giữa trận, anh phải hăng hái, nhưng đó là làm sao để mà sống sót. Nếu anh có hy sinh thì tại anh hết thời. Người ta dửng dưng.
Nhưng bây giờ, anh thua cuộc chiến, thì người ta mất nhà, mất cả tương lai. Bây giờ người miền Nam mới hiểu họ đã không ủng hộ tinh thần người lính Công Hòa đúng mức. Dường như dân miền Nam còn thiếu một tiếng xin lỗi với người lính của mình. Cãm giác là hối tiếc, là tự trách mình, hổ thẹn với chính mình, ân hận rất nhiêu. . . Ăn cướp đánh ở các nhà xa xôi, mình không lo, có khi mình không tin là có thật. Ăn cướp đánh nhà mình thì mình thấm đòn liền.
Nhưng cãm giác đối với bọn ngoại bang ăn cướp là căm thù. Ai ai cũng vậy. Nếu như họ làm lụng cực khổ để xây dựng nhà cửa, vườn tược cả đời, bây giờ bị ăn cướp lấy đi mất sạch thì vụ Mỹ Lai đâu có gì mà thắc mắc. Nếu có được một ngàn vụ Mỹ Lai thì có lẽ đã chận được ăn cướp rồi. Chất độc da cam cũng vậy. Ăn cướp đâu có tôn trọng luật lệ quốc tế, thì tại sao mình phải tôn trọng. So với mấy trăm ngàn người bỏ mạng ngoài biển khi vượt biên thì mấy gia đình bị chất độc da cam có nhằm nhò gì mà than.
Cho nên cái 'chánh nghĩa chống Mỹ cứu nước' mà CS vớ được ngày xưa cũng tự nó hủy diệt vì nếu phải chống ăn cướp thì chủ nhà nhờ ai cũng đúng thôi.
Bây giờ thì Việt Cộng lại phải 'yêu Mỹ cứu nước' rồi!
Giống như Ngô Đình Diệm đã làm ngày xưa, CS Bắc Việt sau năm 1975, công khai khinh thường nhân dân miền Nam.
Chánh nghĩa của nguời lính Cộng Hòa lu mờ trong chiến tranh, bây giờ nhờ CS tự lột mặt nạ, làm cho nó bổng dưng sống dậy. Chánh nghĩa quốc gia bây giờ không còn là lời tuyên truyền rổng mà là cái gì nhân dân miền Nam thấy tận mắt. Đó là: phải thắng Việt Cộng.  Chớ để thua là mất nhà, mất cửa, và bị Bắc- kỳ-trị và sau lưng là chủ nợ Trung Cộng.
Nhờ CS tự lột mặt nạ mà người dân miền Nam mới thay đổi nhản quan với người lính Cộng Hòa. Từ một thái độ 'ai chết mặc ai' trở thành tiếc nuối thừa nhận 'các anh đã từng vì dân, vì nước'.
Nhờ đó mà người lính Cộng Hòa mới rủ bỏ được mặc cãm thua trận, vì trong dòng lịch sử, thua trận chỉ là một chuyện nhỏ. Cái chánh nghĩa có hay không mới là chuyện lớn.

HỒ TẤN VINH
Úc Châu
Ngày 3 tháng 11 năm 2012
(Còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

02 November 2012

NÉN HƯƠNG TIẾC THƯƠNG CỤ DIỆM


Bảo quốc Kiếm

Mới mấy năm gần đây ở hải ngoại lại trổi Phong trào Phục hồi tinh thần Ngô đình Diệm. Điều đó, bản thân tôi cảm thông, chia xẻ cùng họ. Cổ nhân có câu: "Ăn cây nào, rào cây ấy", cũng là một đạo nghĩa làm người.
Thế nhưng đôi lúc vì quá hăng say, họ quên đi rằng: "lợi bất cập hại". Chính vì vậy, chính họ đã làm cho người càng lên tiếng chửi bới, miệt thị... lãnh tụ của mình. Chửi người thì bị người chửi, một công lý tự nhiên. Dĩ nhiên, dù cha mẹ mình có độc ác đến đâu, thì cũng không đứa con nào dám kể tội. Có điều, càng bào chữa cho tội ác, thì càng chọc thiên hạ chửi thêm. Vậy thì việc âm thầm kỷ niệm là điều hay nhất, phải không ?
 
Để tưởng nhớ Cụ, hôm nay tôi xin tóm lược vài điều để cùng độc giả suy nghiệm xem sao.
Có lẽ điều làm cho linh hồn Cụ Ngô và gia đình cụ đau đớn nhất là nuôi đưỡng hàng triệu "con chiên trung thành", thế nhưng, chúng chẳng trung thành với cụ ! Chúng trung thành với ai ? Sau khi bị giết chết, cả một đảng Cần Lao, cả một Phong trào Cách mạng Quốc gia, cả Thanh niên Cộng hoà, Phụ nữ liên đái, cả hàng triệu con chiên....thế mà không một ai lên tiếng, chẳng ai giỗ cụ ! Ngược lại, những tên tôi tớ nhà cụ tiếp tay với con chiên mới Nguyễn văn Thiệu, kẻ đã trực tiếp giết cụ,  để "nàm nại cuộc đời".
Đệ nhị Việt Nam Công Hoà không phải là chế độ Cộng sản; vậy tại sao chúng để "ba nấm mồ hoang lạnh" bơ vơ ? Vậy tại sao chúng không giỗ kỵ, không phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm trong thời ông chiên Thiệu ? Trong lúc đó, những hoạt động ráo riết của các tổ chức Cần Lao cũ, mật vụ cũ... đã tung hoành ghê rợn sau khi Nguyễn Khánh chỉnh lý ! Chúng phục vụ cho ai ngoài Giáo hội Kitô La mã ???
Hôm nay, sắp đến ngày giỗ cụ và hai bào đệ cụ, tôi muốn làm lễ tiến linh bằng những nhận xét của vị Cố Vấn linh hồn Cao văn Luận qua cuốn sách "Bên Dòng Lịch Sử":
-Trang 167:
"Trên phương diện một người khảo sát văn chương hay triết lý thì tôi không thể nào phục cái gọi là Xã hội chủ nghĩa quốc gia gì đó của ông Diệm được".
 
Ngay tại đó, có ai thấy xót xa không ? Sau khi đi họp sáu tháng với Tổng Bộ Việt Minh, mà cụ báo cáo là bị bắt, thì cụ đã viết cái Xã hội chủ nghĩa như Hồ chí Minh một cách nguệch ngoạc. Có ai biết tại sao một kẻ thù bị bắt mà khi thả về thì kêu Ngô điình Nhu tới nhận ? Vậy kẻ thù hay đồng chí ? Câu trả lời có sẵn tại trang 155-156:
"Đức Thánh Cha có vẻ trầm ngâm, nghĩ ngợi một phút, giọng ngài chậm rãi, từ tốn, dè dặt:
Cha biết rằng những người công giáo Việt nam đang làm bổn phận người yêu nước của họ....(156) "Những người công giáo Việt nam chỉ làm bổn phận người yêu nước". Khi họ theo Việt Minh, dù biết Việt minh là Cộng sản, khi họ chiến đấu chống Pháp, họ cũng làm bổn phận người yêu nước".
 
Như thế, theo Cộng, chống Cộng đều yêu nước; vậy nước đó là nước nào, ngoài nước Vatican ? Giáo sỹ Hoàng Quỳnh đã xác quyết: "THÀ MẤT NƯỚC KHÔNG THÀ MẤT CHÚA" !!! Có ai đặt câu hỏi: "Chúa là cái gì mà mất với còn ?" Nếu thật như nghĩa, thì Chúa ở khắp mọi nơi, mọi đàng, thì đố ai làm mất ông được. ngược lại, chỉ không có thật mà lừa người, thì mới có chuyện mất còn mà thôi.
 
Để biết cụ Cẩn, xin đọc tại trang 196:
"Ý thức quốc gia dân tộc ở ông Cẩn mơ hồ, không rõ rệt, sáng sủa như ông Diệm".
Như thế, ông Cẩn phục vụ cho ai ? Còn cụ Diệm thì Chủ nghĩa Xã hội nguyệch ngoạc; vậy cái hơn ông của ông Diệm là giống Hồ chí Minh ??? Một bản chất đặc biệt của ông cẩn cũng được ngài Luận tha thiết nêu ra tại trang 199:
"Ông đã ghét ai thì cũng không làm thế nào để ông có thể ngơ được".
Mà ông ghét nhất là ai ngoài ma quỷ Phật giáo; mà thương thay Phật giáo đang "che chở linh hồn ông nội ông" ?
Thấm thía hơn, ngài Luận nhắc lại lời ông Nguyễn Đệ tại trang 214:
"Nhưng kẹt cái là anh em họ Ngô xưa nay vốn kiêu ngạo quá lố"
Vậy thì, một tập đoàn gia đình vừa thù dai, vừa kiêu ngạo quá lố, vừa chủ nghĩa xã hội, vừa ý thức quốc gia dân tộc mơ hồ...thì làm sao mà lãnh đạo quốc gia chống thù giữ nước ?
 
Tại trang 264, ngài Luận ghi rõ ý thức của cụ Diệm:
"Tôi lo cho số phận Giáo Hội Công Giáo, và phe quốc gia Việt nam".
Như thế, "Giáo hội công giáo" mới là mục tiêu phục vụ; còn cái phe quốc gia chỉ là cái phe của ông để phụng sự cho Vatican, chứ cho ai mà khoe mẽ ? Vậy thì, các vị đâu có thương chi cụ, mà chỉ dùng cụ như lư hương chuối để phục vụ cho Vatican mà thôi !!!
Xin mời đọc một cách nghiêm cẩn trang 284:
"Theo lề lối tổ chức, và sinh hoạt như thế, bao giờ ông Diệm còn nắm chính quyền, thì đảng của ông có vẻ mạnh bề ngoài, SỨC MẠNH LÒE ĐƯỢC KẺ NON DẠ, MÙ QUÁNG, MÀ KHÔNG BỊP AI ĐƯỢC. Lý thuyết Nhân vị được dùng làm nền móng tinh thần cho đảng và phong trào cũng vấp phải nhiều khuyết điểm không có sức sinh động mạnh để thu hút quần chúng, những căn bản triết lý của nó cũng còn quá mập mờ, vá víu, và KHÔNG BẮT NGUỒN TỪ NHỮNG TRUYỀN THỐNG SÂU XA CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM".
 
Những ai ca ngợi chủ thuyết Nhân vị và nhà Ngô, xin lắng lòng nghiền ngẫm những lời trên đây của "bậc thầy khả aí" nhất của con chiên Việt nam. Tôi cũng kính trọng ngài.
Những ai muốn phục hồi, xin hãy giải thích cho nghe về ghi nhận của Cố vấn Linh hồn tại trang 327:
"Tôi hiểu thêm một khía cạnh của con người ông Diệm: TỰ KIÊU, ĐỘC ĐOÁN, KHÓ DÙNG AI ĐƯỢC".
Vậy thì phục hồi những cái này e chết không kịp ngáp !
 
Công lao cụ Diệm được ghi nhận ngay từ đầu tại trang 283:
"Vì các đaả gphái có thể trở thành đối lập BỊ THANH TOÁN NGAY TỪ ĐẦU, VÀ LẠI BỊ THANH TOÁN BẰNG SỨC MẠNH CỦA CHÍNH QUYỀN, chớ không bằng một cuộc đấu tranh chính trị nào".
 
Những ai chạy tội cho cụ, xin giải toả nhận định của Cố Vấn Linh hồn cụ Ngô xem sao ? Đến đây, thì ai cũng rõ rằng, nhà Ngô đã tàn sát hàng trăm ngàn Phật tử, đảng viên các đảng phái là một sự thật do chính Cố Vấn linh hồn minh xác rồi chứ ?
 
Bây giờ xin mời đọc trang 324 nói về chuyện cấm Phật giáo treo cờ:
"Ngày 07-5 Đức Cha đi viếng La vang trở về Huế dọc đường nơi nào cờ Phật giáo cũng tung bay. Điều này chẳng có chi lạ. DÂN HUẾ 90 PHẦN 100 THEO ĐẠO PHẬT VÀ TẠI ĐÂY NGAY TỪ NGÀY TÔI CÓ MẶT (1949) PHẬT GIÁO HOẠT ĐỘNG RẤT MẠNH CÓ TỔ CHỨC, QUI CỦ. Ở Huế nơi nào cũng có chùa chiền, sư tăng. ĐỨC CHA THỤC CÓ VẺ KHÔNG BẰNG LÒNG, VÀ NGAY CHIỀU ĐÓ, CHO MỜI ĐẠI BIỂU CHÍNH PHỦ LÀ ÔNG HỒ ĐẮC KHƯƠNG VÀO TOÀ TỔNG GIÁM MỤC HUẾ KHIỂN TRÁCH TẠI SAO ĐÃ CÓ SẮC LỆNH CẤM TREO CỜ TÔN GIÁO HAY ĐẢNG PHÁI BÊN NGOÀI TRỤ SỞ HOẶC KHUÔN VIÊN MÀ NAY PHẬT GIÁO LẠI TREO CỜ ĐẦY ĐƯỜNG NHƯ VẬY.
Trang 335:
"ÔNG ĐẠI BIỂU CHÍNH PHỦ RA LỆNH CHO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI MIỀN TRUNG PHẢI TRIỆT HẠ CỜ PHẬT GIÁO".
 
Như vậy, rõ ràng chuyện hạ cờ Phật giáo là do Ngô đình Thục trực tiếp ra lệnh cho Đại biểu chính phủ chứ ai khác ? Cả Ngô đình Cẩn cũng không đồng ý. Xin đọc tiếp trang 335:
"Ông Cẩn tỏ ra hiểu biết ra lệnh cho Tỉnh trưởng rằng người ta (Ph5ât giáo) đã lỡ treo thì cứ để cho treo hết ngày lễ, sau sẽ liệu".
Khổ nỗi, khi Thục ra Huế, thì toàn quyền đều nằm trong tay Thục, Cẩn chẳng có quyền hành gì nữa. Vậy thì chết cả nhà là do Ngô đình Thục, chứ trách ai ?
 
Ông Cao văn Luận xác quyết với cụ Diệm tại trang 341:
"Trước khi cụ về, số giáo dân chỉ vài trăm ngàn, NHỜ PHONG TRÀO DI CƯ, CÓ THÊM GẦN MỘT TRIỆU GIÁO DÂN TỪ BĂC VÀO. TỶ LỆ CÔNG GIÁO TRONG TOÀN QUỐC VẪN LÀ THIỂU SỐ, MÀ NAY TỔNG THỐNG VÀ  CÁC CHỨC VỤ LỚN TRONG CHÍNH QUYỀN ĐỀU DO NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐẢM TRÁCH".
Thế nhưng:
"Ông Diệm không mấy tin tưởng Phật giáo, và Phật tử tích cực chống Cộng cho nên dè đặt đối với Phật giáo".
 
Cụ Diệm ơi, cái chết của cụ do cụ tạo ra chứ ai khác ? Vì yêu "công giáo" mười phần trăm, mà cụ chống lại, nghi ngờ, tiêu diệt chín mươi phần trăm, thì mầng răng không chết ?
 
Hôm nay, nhân ngày sắp giỗ cụ, con kính cẩn ghi lại lời của vị GIÁO SỸ CỐ VẤN LINH HỒN CỤ; người đã đỡ đầu cho cụ, tạo cụ thành lãnh tụ, kéo cụ lại khi cụ muốn trốn, đem gần triệu con chiên miền Bắc vào làm nền tảng cho cụ....thế mà gia đình cụ phản bội cụ Luận, thì không chết cả nhà sao được ? Không lẽ các cụ không biết rằng giáo sỹ Cao Văn Luận là người sứ giả của Giáo Hoàng La Mã điều hợp cuộc chiến sao ?
 
Cụ ơi, ngọn đuốc thiêng của ngài Thích Quảng Đức... muốn cứu cụ, gia đình cụ, nhưng cụ lại bỏ lơ, khinh miệt. Cụ chỉ muốn "nước lũ", nên nước lũ cuốn phăng cả triều đại cụ.
Phật giáo chỉ có một nhu cầu là bình đẵng tôn giáo, chứ có quyền gì mà lật cụ ? Giờ này nơi cõi thâm u nào đó, cụ có đọc lại được lời này của cụ Luận không:
"TNS Mansfield cho tôi biết rằng hiện nay chẳng những dư luận báo chí Mỹ MÀ PHẦN LỚN CÁC NHÂN VẬT CHÍNH PHỦ MỸ ĐỀU CHO RẰNG CHẾ ĐỘ ÔNG DIỆM LÀ MỘT CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI, GIA ĐÌNH TRỊ, CÔNG GIÁO TRỊ, KHÔNG ĐOÀN KẾT ĐƯỢC TOÀN DÂN, ĐẨY NHỮNG KẺ ĐỐI LẬP QUỐC GIA ĐẾN BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG PHẢI CHỐNG ĐỐI BẰNG BẠO ĐỘNG, DO ĐÓ KHÔNG THỂ THẮNG ĐƯỢC CỘNG SẢN........MỸ SẼ BỎ RƠI ÔNG DIỆM, NẾU KHÔNG PHẢI LÀ BỎ RƠI VIỆT NAM"
(trang 347)
 
Tại trang 353, giáo sỹ Luận còn nhắc cụ:
"...ông Fishell nói rõ rằng, nếu ông Diêm không thay đổi sâu rộng đường lối chính trị của ông, thì nội trong năm 1963 MỸ PHẢI TÌM CÁCH LOẠI BỎ ÔNG DIỆM KHỎI SÂN KHẤU CHÍNH TRỊ VN, VÀ BIỆN PHÁP THỦ TIÊU CÓ THỂ ĐƯỢC XÉT TỚI".
 
Tất cả điều ấy cụ đã nghe rõ, nhưng cụ vẫn ngoan cố vì Giáo Hội Công Giáo của cụ để chống lại, thách thức kẻ nuôi cụ là một quốc gia toàn Tin lành !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!, chứ Mỹ đâu phải vì Phật giáo.
Kính xin "Chúa Toàn Năng" rước linh hồn cụ một thời lỡ dại VỊ CHÚA HY SINH.
 
BQK-27-10-12

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 20

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ
Bài số 20
HỒ TẤN VINH

6. – NÓI NHƯ VẬY LÀ ĐỔ THỪA TẤT CẢ CHO MỸ?

Từ 1950, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 500 triệu mỹ kim hằng năm cho cuộc chiến Đông Dương.
Ngày 19-3-1954, Quốc hội Pháp biểu quyết ngân sách chiến tranh Đông Dương: trong đó có 139 tỷ quan Pháp và 271 tỷ quan do Mỹ viện trợ.
Như vậy Mỹ đã có đóng góp tiền bạc vào chiến tranh Việt Nam ít lắm là 4 năm trước khi Pháp rút ra và sau đó thì một mình gánh chịu chiến phí. Nếu năm 1954. Mỹ không vô Việt Nam và không giúp gì về kinh tế và quân sự thì một mình ông Diệm lây quây không quá một năm thì chắc chắn bị CS Bắc Việt nuốt trỏng.
Nhờ Mỹ có vô Việt Nam mà tới 1975 Việt Nam mới mất, nhân dân Miền Nam phải biết ơn Mỹ 21 năm chưa bị Bắc Việt đô hộ.
Trừ phi Việt Nam là một tiểu bang của Mỹ và người Việt Nam đi bầu Tổng Thống Mỹ. còn không thì người Mỹ không có trách nhiệm gì với Việt Nam. Người Mỹ vô Việt Nam vì quyền lợi của Mỹ và ra khỏi Việt Nam cũng vì  quyền lợi của Mỹ. Mỹ vô Việt Nam để chận sự bành trướng của CS chớ không phải để thắng Việt Cộng. Và khi không còn nhu cầu ngăn chận nữa thì Mỹ nhảy ra. Mỹ vô Việt Nam không phải để giúp Việt Nam lớn mạnh, tự lập, tự cường, tự quyết. Có một cơ hội mà người Mỹ có thể giúp đở phương tiện cho các giáo phái và đảng phái miền Nam lớn mạnh để chận đứng sự nổi dậy của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đó là cơ hội duy nhứt, đó là quyền lợi của nhân dân miền Nam. Nhưng Mỹ đã không làm như vậy và không thể làm như vậy. Chỉ có trường hợp này thì có thể gượng gạo nói Mỹ đã chơi không đẹp, chớ không phải là những lời thất hứa của Nixon lúc cờ tàn.
Cho nên mhững lời trách cứ là Mỹ phản bội Việt Nam là không hợp với những quy tắc sơ đẳng của bang giao quốc tế. Người công dân chỉ có bổn phận trung thành với nước của mình. Người Mỹ đâu có bổn phận trung thành với VN thì sao trách họ phản bội ta?
Có người nói rằng ông Diệm do Hồng Y Spellman (công giáo Mỹ) giới thiệu. Có người nói ông Diệm do George Bidault (công giáo Pháp) giới thiệu. Những điều này không có quan trọng, vì đó chỉ là những giấy giới thiệu để đi tìm job. Một khi có job rồi thì ai cũng phải bị chi phối bởi một định luật viết cả ngàn năm nay bằng tất cả thứ tiếng trên thế giới: 'ai trả tiền thì người đó làm chủ, ai nhận tiền thì phải thi hành lịnh.'. Nói theo kiểu người Úc 'làm gì có bửa cơm trưa miễn phí!'
Người Mỹ đã trả đủ thứ tiền cho Việt Nam và sau khi làm xong việc của họ rồi thì họ nhảy ra. Đối với những sai lầm về chiến lược, về chiến thuật của các cấp chỉ huy Mỹ, người Mỹ đã trả giá bằng tiền bạc và xương máu của binh sĩ Mỹ. Nếu họ có lỗi thì là lỗi với lịch sử của họ.
Như vậy cuối cùng tại ai mà mất miền Nam?
Phải có hai điều kiện mới có thể cứu miền Nam.
Thứ nhứt: ông Diệm phải là người thật sự dân chủ, yêu nước nồng nàn đến mức độ dẹp bỏ tự ái, không tìm cách chia rẽ như đã làm.
Vì từ sự liên hiệp với các giáo phái, tới việc mua chuộc một số người của các giáo phái để rồi trở mặt hẳn, tiêu diệt các nhà lãnh đạo giáo phái, hai anh em Nhu, Diệm đã gây ra một sự phân hóa chính trị chưa từng có tại miền Nam. CBL tr. 177
Thà là mềm dẽo với người Việt hơn là luồn cùi với ngoại bang. Cái dũng là ở chỗ đó. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm không có cái dũng này.
Tôi đã để hơn hai mươi trang giấy để nêu lại các sự kiện lịch sử trong đó Tổng Thống Diệm có rất nhiều khuyết điễm về chánh sách cũng như về nhân phẫm. Đây là việc bắt buộc phải làm một cách trung thực thì mới giải thích được lịch sử.
Nếu như ông Diệm đã không có những khuyết điễm nêu trên - gọi là khuyết điễm theo nhản quan của người Việt nhưng lại là lợi điễm theo quan điểm của người Mỹ - mà là người thức thời và thật sự yêu nước thì ông đã không được chọn. Nếu ông không được chọn thì vẫn có người khác đang chực chờ tình nguyện làm con cờ cho Mỹ, người thi hành có thể không mang tên Ngô Đình, nhưng chánh sách của Mỹ không có gì thay đổi.
Thứ hai: Mỹ phải tận tình giúp các giáo phái và đảng phái chống cộng. Nhưng Mỹ không có tận tình được vì 'Lý do quan trọng nhất mà Hoa Kỳ nhảy vào cuộc chiến là quyền lợi của Hoa Kỳ' (NTH, tr.467). Và quyền lợi của quốc gia VN không có trong bài toán của Mỹ.
Câu chuyện rõ ràng như ban ngày. Vì chiến lược toàn cầu của Mỹ, có khi Mỹ cần có mặt ở nước này, có khi cần có mặt ở nước kia. Trước đây ở VN, sau này ở Irak, ở Afghanistan, Mỹ chỉ muốn tự do nhảy vô, và khi nhảy vô rồi thì tự do hành động và khi xong việc thì tự do nhảy ra. Muốn được tự do như vậy thì chuyện đầu tiên mà Mỹ phải làm là tiêu diệt ngay lực lượng dân tộc của nước ấy. Nội lực của một dân tộc theo chức năng thiêng liêng của nó không cho phép một ngoại bang nào vào nước mình muốn làm gì thì làm. Do đó, Mỹ không thể nào làm điều nghịch lý mà nuôi dưỡng một lực lượng dân tộc. Đây không phải là vấn đề thiện ác, tiểu nhân hay quân tử. Đây chỉ là định luật đấu tranh xưa nay trong thiên hạ. Độc thủ này trong nhứt thời rất là hiệu nghiệm, nó cho kết quả liền như mong muốn, nhưng với thời gian, kế sách lộ ra chân tướng nên đương nhiên đưa đến phản cãm.
Mỗi điều kiện là một tiền đề nan giải rồi thì làm sao thỏa mãn hai điều kiện nan giải cùng một lúc?
Vì các lý do 'con rắn nó cắn cái đuôi' đó mà ta có thể quả quyết cái vận miền nam phải mất mà không thể quy trách cho một người nào.
Để được việc cho mình, khi mới bước vô, Mỹ đã phải hạ thủ nội lực VN. Sau này, để chuẩn bị rút ra nên không cần phải thao túng nữa, người Mỹ có tìm cách giúp lại các giáo phái, mong gỡ gạc lại chút cãm tình. Đại Tá Lê Văn Tất được mời làm Tỉnh Trưởng Tây Ninh.
Quần chúng Nam Bộ đã dửng dưng khi ông Diệm dẹp các giáo phái, vì lúc ban đầu hiểu lầm rằng đó chỉ là chuyện tranh ăn, tranh quyền đơn giản. Chín năm sau, mở mắt ra, lại có cãm tình với các giáo phái. Nhưng đã quá muộn. Các vùng trước kia thuộc địa phận an toàn của giáo phái bây giờ ung thúi CS rồi. Đánh lại lá bài giáo phái sẽ phải khó khăn vô cùng. Nhưng suy nghỉ tận cùng, chỉ có tôn giáo ăn sâu vào lòng dân tộc mới có khả năng chống cộng.
Tuy nhiên, Dân còn đó, Đất đai còn đó, nhưng Nước thì đã mất từ lâu. Sau khi đô hộ VN không xong, người Pháp giao nước VN cho Mỹ chớ không phải giao cho ông Diệm. Nếu ta muốn bán nhà hay đất thì phải có bằng khoán. Nếu ta muốn bán xe hơi thì phải có thẻ chủ quyền. Từ hơn hai trăm năm nay, người dân VN chưa có sống được một ngày nào độc lập, tự do thật sự. Ông Diệm hay ông Thiệu làm gì có nước để mà bán. Hai người này đâu ai có nội lực để mà cứu nước. Cả hai, kẻ trước người sau phải lái chiếc máy bay từ từ hết xăng đăm xuống biển. Vận nước phải biến như vậy mà thôi.
Tại đây, tôi muốn trả lời dứt khoát cái nghi vấn 'trung lập'. Phải hiểu thấu đáo nội lực thì mới hiểu được rằng ước vọng hiệp thương với Bắc Việt như 'hai Miền trong một đơn vị kinh tế', 'trung lập chế', 'hòa hợp hòa giải dân tộc' hoặc tin đồn Ngô Đình Nhu đi đêm, đều là ảo vọng.
Chiến tranh kéo dài quá lâu, ai ai cũng mệt mỏi, vì vậy ước vọng hòa bình của mọi người dân rất là mãnh liệt. Nhưng dầu muốn đi thương thuyết hòa bình đi nữa thì cũng phải có nội lực. Miền Bắc có nội lực, miền Nam không có. Không có nội lực thì lấy gì làm đòn bẩy để mà thương thuyết. Ông Diệm ông Nhu có quyền lực nhờ Mỹ. Bây giờ lén Mỹ đi thương thuyết là đi tay không thương thuyết. Đi thương thuyết kiểu này chỉ có thể là thương thuyết đầu hàng mà thôi. Kẻ có nội lực đâu bao giờ có ý định nghiêm chỉnh thương thuyết với kẻ trống ruột, vì trước sau gì cũng nuốt được trọn gói.
Hoặc nếu có tiếp xúc thật sự, thì đó chỉ là trò chơi mèo giởn chuột. Phải là người hoàn toàn mất trí mới chịu đóng vai con chuột.
Còn cái 'trung lập chế' đâu phải như mình tưởng là không ngã theo bên nào hết thì thiên hạ để yên mình. Muốn giữ được trung lập cần phải có một nội lực ghê gớm mới chống trả được sự lôi kéo của nhiều thế lực quốc tế. Việt Nam nằm ngay địa thế chiến lược.
Trong thời cận đại, Việt Nam khi thì dựa Trung Cộng chống Mỹ. Khi thì dựa Mỹ chống Trung Cộng.
Việt Nam muốn được thừa nhận trung lập thì phải có nội lực thâm hậu vừa dám từ chối các dụ dỗ hoặc kháng cự các áp lực của Mỹ và của Trung Cộng.
Và trên hết, đầu óc của người lãnh đạo cũng như của người dân phải nhứt quyết bất khuất, không chịu cúi lòn.
 Trung lập chế không phải là CHỖ NÚP của kẻ yếu hèn, năn nỉ người ta để yên mình. Nó là một lập trường  dũng mãnh của những kẻ DŨNG MÃNH không muốn bị người ta xô đẩy hay lôi kéo.
Một đầu óc bệ rạc, quy lụy, chỉ biết nhờ cậy, xin xỏ, kiến nghị, đâu có tư cách nói chuyện trung lập.
Việt Nam không biết dựa vào nội lực để thủ thân mà nói chuyện 'trung lập chế' là nói chuyện tào lao.

HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 2 tháng 11 năm 2012
(Còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

01 November 2012

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 19

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ

Bài số 19
HỒ TẤN VINH

Còn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì sao?

Khi viết bài này, tôi không còn nhớ có đọc ở đâu câu chuyện một tướng rủ ông Thiệu đảo chánh. Thay vì ông hỏi làm như vậy có ích lợi gì cho đất nước, thì ông lại hỏi 'người Mỹ có đồng ý chưa?' Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng Thống Thiệu nằm trong tay Mỹ lộ liễu hơn.
'Trong hồ sơ Nguyễn Văn Thiệu lưu giữ tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon đã phê y với câu sau: 'Very receptive to American advices'. Người bạn Mỹ tên là R.W.J tiết lộ câu ấy với tôi. Tôi bình phẩm:
Đó là lời phê 'bảng vàng' đã đưa Nguyễn Văn Thiệu lên đến địa vị tối cao, nắm giữ vận mệnh của Miền Nam?'Nguyễn Chánh Thi, tr. 327.
Nguyễn Tiến Hưng có thuật lại rằng năm 1971, thầy mình là ông Warren Nutter lúc bấy giờ là Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng có khuyên rằng VNCH nên tìm cách chủ động hơn. Nguyễn Tiến Hưng đem bàn với ông Thiệu và được 'ông cũng đồng ý chấp thuận đề nghị mà tôi gọi là 'hai Miền trong một đơn vị kinh tế'. Tuy nhiên ông lại dặn tôi thử thăm dò ý kiến Mỹ xem sao? Tôi thầm nghĩ rằng mình muốn phía VNCH đưa ra sáng kiến, ông lại bảo mình hỏi Mỹ.' (Tr. 453)
Chính vì có đầu óc vọng ngoại như vậy mà ông Thiệu mới được Mỹ chọn làm Tổng Thống.
Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng Hòa đều có những hình ảnh xấu xa để thế giới và dân chúng Việt Nam xem, nào là gia đình trị, độc  tài, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị địa phương, tham nhũng, buôn lậu, mua quan bán tước v.v… Có người cho đó là những lý do để thua. Nhưng thật ra đó chỉ là những triệu chứng ngoài da của một căn bịnh nội tạng. Những điểm tiêu cực đó chỉ là tiêu tỏi ớt để cho Việt Cộng lớn lên. Còn VNCH đã thua không phải vì tim ngưng đập hay lỗ mũi không thở mà vì chứng lỏng ruột kinh niên.
Nguyễn Tiến Hưng diễn đạt một cách khác với nhiều chi tiết hơn:
'Tôi vẫn khẳng định rằng sự lệ thuộc vào Hoa Kỳ gần như hoàn toàn, cả về vật chất lẫn tâm lý là yếu tố quyết định'
Hảy nhìn lại cuộc chiến 1945-1954, chính nước Pháp
Cũng đã phải lệ thuộc vào Mỹ như vậy. Mức độ chiến tranh càng cao, Pháp càng phải dựa vào tiền bạc của Mỹ. Tới khoảng thời gian 1950-1954, trên 75% ngân sách chiến tranh Đông Dương là do Mỹ đài thọ. Đến thời VNCH, cũng trên 75% ngân sách Quốc Phòng (trả lương cho quân đội) là do viện trợ Mỹ. Rồi toàn bộ quân trang, quân dụng, từ khẩu súng, viên đạn, lít xăng, tới xe tăng, đại bác, máy bay, cái gì cũng có nhãn hiệu MDAP (Military Defense Assistance Program).
Về mặt kinh tế, khi chiến tranh leo thang, sản xuất trong nước không phát triển được, lại còn tụt hậu, cung ứng cho nhu cầu của nhân dân phải dựa vào đôla của Mỹ để nhập cảng. Những sản phẩm cho nhu cầu từ ăn, ở, mặc, tới vận chuyển, một tỷ lệ rất quan trọng được đáp ứng từ 'viện trợ Mỹ' . . .
Đó là chưa nói tới những nhu cầu khác như y tế, giáo dục, giải trí. Cũng chưa kể là từng khối lượng lớn hàng hóa (như đồ hộp, radio, TV, tủ lạnh, rượu mạnh, thuốc lá, quần áo) đã được chuyển ra bằng cách này hay cách khác, từ hệ thống tiếp liệu 'PX' của Mỹ, đặc biệt là từ căn cứ Long Bình. Như vậy, về vật chất, sự lệ thuộc hầu như toàn diện. Tình trạng này lại còn dẫn tới sự lệ thuộc tinh thần và tâm lý. Nếu Mỹ còn giúp, thì các nhà lãnh đạo và dân, quân Miền Nam còn chịu đựng, chiến đấu. Nếu có dấu hiệu là họ bắt đầu bỏ, thì tinh thần bắt đầu sa sút. Tới lúc bỏ thật là sụp đổ'(tr. 450)
Từ mấy ngàn năm nay, người Việt Nam nào khi chào đời cũng mang trong mình giòng máu 'chống xâm lăng'. Trong lúc ông Diệm, ông Thiệu múa may quây cuồng thì người Mỹ đã dâng cho Việt Cộng cái chánh nghĩa 'chống Mỹ cứu nước'
Trong tình trạng như vậy, Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc phải thua. Và đã thua ngay từ ngày thành lập.
Mặc dầu không thay đổi được vận mạng của quốc gia, nhưng con người vẫn phải sống và con người hoàn toàn tự do và trách nhiệm chọn lối đi của mình. Ông Trần Văn Hương khi làm Đô Trưởng cởi xe đạp được tiếng là thanh liêm. Nhưng tới khi phái đoàn VC đến nhà ông, muốn trả lại quyền công dân cho ông – khác với Dương Văn Minh – ông từ chối, lấy cớ phải chờ đến người cải tạo cuối cùng, thì ông giáo già đã tuyệt vời tỏ cái sĩ khí của miền Nam. LS Trần Văn Tuyên, sanh năm1913 tại Hà Đông (Bắc Việt), vào Nam năm 1950, bị mật vụ của ông Diệm tra tấn tới què giò. Năm 1975, vào giờ chót được Mỹ đề nghị đưa cả gia đình sang Mỹ, nhưng đã trả lời 'nếu bỏ đi thì ai ở lại đấu tranh công khai với CS?. Năm 1976, ông bị bỏ thuốc độc tại nhà giam Hà Sơn Bình. Cái tận tụy đó, cái khí phách đó, trong lịch sử Việt Nam cận đại đâu có mấy người.
Khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nắm chánh quyền thì cờ đã tàn rồi. Ván cờ đã được Mỹ, Trung Quốc và Liên Sô sắp đặt rồi. Ông không có cách nào để xoay lại tình thế. Ông không có cách nào cản trở tiến trình mất nước. Không có một người khác nào ở vào chỗ của ông làm hay hơn ông. Cho nên Tổng Thống Thiệu không có chút trách nhiệm nào với chuyện mất nước. Nước đã mất trước đó lâu rồi, hồi thời Ngô Đình Diệm lận.
Trong lúc làm Tổng Thống nếu ông có thanh liêm, tận tụy, thì người dân ca ngợi ông. Nếu ông có sai trái, tham ô, nếu ông không biết thân là cá trong rọ mà tới giờ chót vẫn còn ham thì người ta chê ông.
Nhưng đối với dân tộc và đất nước, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không có phạm tội làm mất nước.

HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 1 tháng 11 năm 2012
(Còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí