21 April 2013

MUÔN ĐỜI DÂN TỘC VIỆT VẪN NHỚ ƠN QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Mường Giang

            Hơn 80 năm qua CSVN lúc nào cũng tìm đủ mọi cách, để trương ngọn cờ máu mà chúng vay mượn của Nga Tàu, đem về cắm đỏ trên lãnh thổ Hồng Lạc. Đồng thời đem hình tượng và sự nghiệp cứu nước ' dõm ' của Hồ Chính Minh ra để làm lu mờ công đức dựng và mỡ nước của tiền nhân. Câu chuyện " Tàu trù ếm long mạch trên núi Tổ " cũng không ngoài ý đồ triệt tiêu một biểu tượng thiêng liêng nhất của người Việt, do bọn Việt gian thân Tàu trong guồng máy đảng CS thực hiện theo lệnh chủ .

            Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt VN thành hai miền riêng biệt tại vỹ tuyến 17, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới. Theo quy định, mỗi một miền được đặt hai đồn canh  dọc theo bờ sông giới tuyến : Ðồn Hiền Lương và Cửa Tùng (Bắc Việt), Xuân Hòa và Cát Sơn (VNCH). Cả hai phía đều có treo cờ hằng ngày. Và đó là nguyên nhân đã làm hai phía đổ máu nhiều lần vì ' Lá Cờ ' được treo ở hai đầu cầu bắt ngang con sông ngăn cách .

            Thời gian đầu thi hành Hiệp định (1954-1956), còn có sự hiện diện của các toán kiểm soát đình chiến, nên hai phía vẫn tôn trọng cở lá cờ được qui định 3,2x 4,8m. Nhưng từ sau năm 1956, phía VNCH bên đồn canh Xuân Hòa luôn thay đổi khổ lá cờ Vang ba Sọc Ðỏ , theo lệnh của các đơn vị trưởng trấn đóng miền giới tuyến. Thế là trận giặc ' Chọi Cờ ' bùng nổ hai bên bờ sông Bến Hải , mà phần thắng luôn về phía VNCH vì có đủ phương tiện và được tự do quyết định hơn phía CSBV. Theo các tài liệu còn lưu trữ cho biết suốt 20 chia cắt, cả hai phía đã thay đổi cở ' cờ ' tới 267 lần để ăn thua, trong đó nhiều lần cột cờ phía bắc bị máy bay oanh tạc mà nặng nhất vào năm 1967, cả cột cờ, đồn canh và cầu Hiền Lương về phía CS bị bom đánh xập.

            Có hiểu thấu những câu chuyện bên lề lịch sử, chúng ta mới thấy được tầm mức quan trọng và ý nghĩa thiêng liêng của lá cờ. Có thể nói được " Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Quốc Dân VN mà VNCH đã tiếp nối sử dụng tới ngày nay ", đã được hình thành bằng cả núi xương và sông máu của quân dân Miền Nam từ đó cho tới ngày nay (2013). Cho nên không ai có thể tự mình khơi khơi,  nhân danh này này nọ nọ, để buộc người khác phải theo ý mình , phải hũy bỏ lá cờ thiêng mà mọi người trân quý hơn sinh mạng cá nhân, hay phải đứng chung dưới một ngọn cờ mà trong thâm tâm của họ, đã coi nó như là biểu tượng của một chế độ dã man, trộm cướp, xấu xa bán nước như lá cờ máu của Cộng Ðảng VN, mà ngày nay lịch sử và đời thật đã xác nhận.

            Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung Phần. Sau đó nước ta bị người Hán cưởng chiếm và sáp nhập vào lảnh thổ nước Tàu. Năm 939 sau TL, Ngô Quyền Ðại Ðế chém Hoàng Thao trên Bạch Ðằng Giang, đuổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cỏi Việt nhưng chỉ thâu hồi lại được một phần lảnh thổ của tiền nhân : Ðó là Bắc Việt và ba tỉnh miền cực bắc Trung Phần ngày nay.

             Năm 1802 Vua Gia Long thống nhất đất nước sau 300 năm nội chiến nhưng cho tới năm 1804 nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích. Ngày 29-4-1975, Cộng Sản Quốc Tế mở cuộc tổng tấn công thủ đô Sài Gòn, cưởng chiếm Miền Nam VN, đem gông tù Phát-Xít cùm xích lên lảnh thổ và dân tộc Việt, từ sau ngày 1-5-1975 tới nay vẫn không thay đổi.

            Ngày 29-4-2008, toàn bộ đảng CSVN đang nắm quyền cai trị VN, đã công khai chối bỏ quốc hồn, quốc thể của dân tộc, khi trải thảm quì gối cung nghênh ngọn đuốc máu của Tàu Ðỏ qua lớp hào nhoáng bên ngoài ' Ðuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008 ', gần như đã bị cả thế giới văn minh loài người tẩy chay, nguyền rủa và khinh bỉ vì đã lộ ra chân tướng côn đồ, ỷ mạnh hiếp yếu của một đế quốc thực dân vừa ngoi lên từ Châu Á, qua sự tiếp tay cật lực của bọn lái buôn da trắng, Nhật, Nam Hàn.. .

            Tóm lại đối với dân tộc VN, điều mà tổ tiên bao đời luôn nhắc nhớ con cháu mai sau , là phải cảnh giác trước hiểm họa của giặc Tàu, lúc nào cũng nuôi dã tâm muốn chiếm cho được nước ta, ròng rã liên tục suốt mấy ngàn năm máu lệ. Ðảng CSVN đã đi ngược lại truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt, công khai ' cỏng giặc Tàu về dầy xéo quê hương, làm nhục quốc thể '.Ðó là những thành tích vĩ đại của đảng Hồ, mà hiện nay khắp thế giới đều biết, đã công khai khởi sự từ năm 1958, qua hành động công nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của VN, là lãnh thổ của Trung Cộng. Sau đó Linh, Mười, Đồng đã đại diện cho đảng đến tận Thành Đô (Tứ Xuyên), ký kết với Giang Trạch Dân và Lý Bằng vào ngày 3 + 4 tháng 9  năm 1990.  Tờ văn bản bán nước VN lần thứ hai cho Tàu, với cam kết tới năm 2020 VN vĩnh viễn sẽ trở thanh một khu tự trị của Tàu đỏ như Tạng, Hồi, Nội Mông

            Bán đất của tổ tiên cho giặc thù đã là nổi hận nhục muôn đời nhưng hậu quã chết người mà ngày nay con cháu Việt phải gánh chịu hằng ngày trên biển Ðông,qua sự kiện Phạm văn Ðồng, theo lệnh Hồ Chí Minh, ngày 4-9-1958, ký công hàm nước, xác nhận bản đồ và lời tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng là 12 hải lý. Có vậy Trung Cộng mới ngang nhiên dùng vũ lực cướp chiếp Hoàng Sa của VN năm 1974, Trường Sa năm 1988 và vẽ bản đồ lưỡi bò, lập thành phố Tam Sa.. Hiện tại, biển VN từ Quảng Nam vào tới Phan Thiết, kể cả các nước Phi, Nam Dương, Mã Lai trong Ðông Hải, từ bờ ra hải phận chỉ còn có 50 hải lý, đúng như bản đồ nước Tàu mới vừa được ban hành, Tàu công bố cải danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN , thành một đơn vị hành chánh mang tên Huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam, vào tháng 11-2007.

            Không kể thời Bắc thuộc huyễn hoặc, bao đời Việt Nam trong dòng lịch sử, khi mất nước cũng như hồi độc lập, ngoại trừ trường hợp bán nước duy nhất của Mạc Ðăng Dung, cho nhà Minh vào năm 1540, không có một vua chúa nào, dám công khai đem một tấc đất hay đảo biển dù ở tận chốn xa xôi muôn trùng, để dâng bán cho giặc như Hồ Chí Minh và đảng VC dám làm.. suốt thời kỳ 1945 cho tới ngày nay. Vậy mà lúc nào, cũng nói Trần Thiểm Bình, Hồ Hán Thương, Mạc Ðăng Dung, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh.. cõng rắn cắn gà nhà.

1- GHI NHỚ CÔNG ÐỨC DỰNG NƯỚC CỦA TỔ HÙNG VƯƠNG :

            Theo Việt sử, Họ Hồng Bàng là triều đại đầu tiên của nước ta, có quốc hiệu là Văn Lang. Qua truyền thuyết được ghi trong tất cả các bộ sử ký nước Nam, từ trước tới nay thì nước Văn Lang truyền được 18 đời vua, mới bị mất nước về tay Thục Phán, cũng là một người Việt trong nhóm Bách Việt.
           
            Ðó là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Au Cơ, Hùng Quốc Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Hi Vương, Huỳng Huy Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Vị Vương, Hùng Ðịnh Vương, Hùng Uy Vương, Hùng Trinh Vương, Hùng Vũ Vương, Hùng Anh Vương, Hùng Hiền Vương, Hùng Tạo Vương, Hùng Nghị Vương và Hùng Tuấn Vương. Thục Phán đánh bại vua Hùng thứ 18, vào khoảng thế kỷ thứ III trước tây lịch. Do nhà vua là người thuộc nhóm Âu Việt, nên đổi tên nước là Âu-Lạc ( tức là Lạc Việt và Âu Việt), xưng hiệu là An Dương Vương, dời kinh đô từ Phong Châu về Cổ Loa, thuộc Huyện Ðông Anh, tỉnh Phúc Yên (Bắc Phần).

            Riêng về danh xưng quốc tổ Hùng Vương của VN, đã có sự bàn cãi sôi nổi của nhiều học giả trong cũng như ngoài nước, cũng chỉ vì các danh từ Lạc Hầu, Lạc Tướng nên phải có Lạc Vương, chứ không phải Hùng Vương. Ðầu tiên là một học giả Pháp tên Henry Maspéro, tiếp theo có Sở Cuồng Lê Dư, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Ðào Duy Anh (miền Bắc), Phạm Hoàng Mỹ, Trần Viên Chung (miền Nam).. trước tháng 5-1975. Chung qui cũng vẫn quanh vấn đề, phải gọi vua nước Văn Lang là ' Hùng vương hay Lạc Vương ?'.

            Vì nước ta bị Bắc Thuộc cả ngàn năm, nên hầu như các nguồn sử liệu trước đó, đã bị mất mát hay tiêu hủy, nên chẳng có một chứng tích nào sót lại, ngoài sử do người Tàu thời đó viết. Mãi cho tới thời vua Trần Thái Tôn vào năm 1217, sử gia đầu tiên của nước ta là Lê Văn Hưu, mới soạn bộ ' Ðại Việt Sử Ký ', gồm 30 quyển nhưng cũng chỉ bắt đầu, từ thời vua Triệu Vũ Ðế (207 trước TL ) của Nhà Nam Việt, cho tới cuối nhà Hậu Lý (vua Lý Chiêu Hoàng ) mà thôi. Thời Vua Lê Thánh Tôn, quan Lễ Bộ Thượng Thư là Ngô Sĩ Liên, mới tom góp, sưu tầm và ghi chép lại những huyền thoại, truyền thuyết trong dân gian, qua hai tác phẩm ' Việt Ðiện U Linh 'của Lý Tế Xuyên và ' Lĩnh Nam Chích Quái ' của Trần Thế Pháp, để viết bộ ' Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ', gồm 15 quyển, chia thành hai phần, trong đó 5 quyển đầu gọi là ' Ngoại Kỷ ' chép từ đời Hồng Bàng cho tới năm 938 sau TL, Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, mở nền tự chủ cho dân tộc VN tới ngày nay.

            Cũng từ đó, nước ta qua các triều đại, đều làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, vào ngày mồng mười tháng ba (10-3) âm lịch hằng năm. Truyền thống trên bao đời đã khắc sâu vào tâm trí của người Việt cả nước, và phát sinh ra câu phong dao mà ai cũng đều thuộc lòng :

            ' Dù ai đi ngược về xuôi
            nhớ ngày giỗ Tổ, mồng mười tháng ba .'

            Trước năm 1945, giỗ Tổ Hùng Vương được quan Lễ Bộ Thượng Thư, thay mặt nhà vua làm chủ tế, tại đền 18 Tổ Hùng được xây dựng từ thời Hậu Lê (hậu bán thế kỷ XV) và liên tiếp được tu bổ nhiều lần vào thời nhà Nguyễn. Ðền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc đế đô Phong Châu của nước Văn Lang. Miền này nay là xã Hy Cương, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ (Bắc Phần).


            Phong Châu là đia linh nhân kiệt, phong cảnh hùng liệt diễm tình, phía trước có nhiều sông lớn tụ hội, hai bên có nhiều núi cao chầu hầu.Tại đây đất đai từ trên gò xuống tới bãi, đều màu mỡ xanh tốt. Ðúng là nơi định đô lập nghiệp muôn đời của một dân tộc tuyệt luân phi thường, anh hùng bất khuất nhưng tâm hồn phong thái vẫn hòa nhã yêu chuộng hòa bình.

            Phong Châu cũng là Bạch Hạc ngày nay, nằm bên tả ngạn sông Lô (Thao), cũng là nơi đã chứng kiến nhiều chiến công của dân tộc trong dòng sử Việt, mà gần nhất là chiến thắng sông Lô trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp. Do các yếu tố phong thổ đặc biệt trên, nên khi còn tại vị, các Tổ Hùng đã dựng đền trên núi Nghĩa Lĩnh hay núi Hùng. Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh hay Hy Cương đều chung một danh xưng chỉ núi Hùng, cao 175m, nằm trong thôn Cổ Tích. Núi Hùng chung quanh được bao bọc bởi 99 ngọn đồi Voi Phục, với cây cối quanh năm xanh tươi mát mẻ. Ðền Hùng là nơi tế tự trời đất, thổ thần và tiên tổ của dân tộc Hồng-Lạc. Ðền này, từ đó về sau, trải qua các triều đại trong lịch sử, đều được chọn làm Ðền Tổ Hùng Vương.

            Phong cảnh đền Hùng muôn đời hùng vĩ, trời xanh nắng ấm vào tiết Thanh Minh nhằm vào tháng ba âm lịch hằng năm. Trong dịp này, Ðền đã có dịp soi bóng trên dòng nước xanh của dòng Bạch Hạc, là vị trí giao lưu của các con sông trong vùng.

            Trên đường lên Ðền Hùng, dưới chân nuí có Ðền Giếng, trong đó tới nay vẫn còn chiếc Giếng Ngoc, mà theo truyền thuyết là nơi các vị công chúa con vua Hùng, thường tới tắm gôi, chải tóc và tô môi. Rời Ðền Giếng phía ngoài, qua một một cổng xây bằng đá, để vào Ðền Hạ. Theo sử liệu được ghi chép trong Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, thì chính nơi đây, quốc mẫu Âu Cơ của Ðại Việt, một lúc sinh trăm trứng rồi nở thành trăm người con trai. Sau đó mẹ chia phân nửa cho cha là Lạc Long Quân, rồi dẫn những con còn lại lên núi. Phần Lạc Long Quân cũng nhường ngôi vua cho con trưởng là Hùng Quốc Vương làm vua nước Van Lang.

            Trong Ðền Hạ có chùa Thiên Quang với gác chuông, bia đá cổ, trên đó ghi khắc công đức dựng nước của Tổ Hùng. Chung quanh chùa còn nhiều đại thụ như thông, tùng rất lâu đời nhưng vẫn xanh tốt, thân cây vài người nối tay ôm không hết, đã nói lên sự thách thức với thời gian của cây, đồng hành là sự tồn tại của dân tộc Hồng Lạc, trong dòng sử Việt, từ ấy đến nay.

            Rời Ðền Hạ, leo 168 bậc đá là tới Ðền Trung. Theo truyền thuyết, Ðền Trung là chỗ mà các vị Tổ Hùng luận bàn việc nước với triều thần, mà thời đó được gọi qua danh xưng Lạc Hầu, Lạc Tướng. Ðây cũng là nơi vua Hùng thứ sáu, truyền ngôi cho Hoàng Tử Lang Liêu, là người đã trúng giải nhất trong cuộc thi, với hai thứ bánh Chưng và bánh Dầy, món ăn quốc hồn quốc tuý của dân tộc Việt.

            Ðền Trung hiện tại là địa điểm đặt TỔ ÐÌNH NAM BANG, thờ kính Mười Tám Vua Hùng. Trên cùng nơi đỉnh núi là Ðền Thượng với tấm bảng vàng khắc bốn đại tự : 'NAM QUỐC SƠN HÀ '.Ðây chính là nới Các Tổ Hùng hằng năm tới làm lễ Tế Trời Ðất và Thần Nông, Cũng tại Ðền Thượng vào đời vua Hùng thứ sáu, Phù Ðổng Thiên Vương tức là Thánh Gióng đã đánh thắng giặc Ân. Phía bên trái đền, có một ngôi mộ đá rất cổ kính và được mọi người tin là chốn an nghĩ nghìn thu của Hùng Vương thứ 6. Tại đây nhìn chung quanh, có nhiều núi lớn nhỏ, với hình tượng rất giống bầy voi đang hường đầu quỳ chầu Tổ.

            Trải qua bao đời, hằng năm dân tộc Việt đều củ hành giỗ Tổ Hùng rất trang trong vào ngày mồng mười tháng ba âm lịch. Ðây được coi là ngày hội lớn nhất của đất nước ta, theo đó dân tộc Việt vốn là Con Rồng Cháu Tiên, qua truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ.

            Trong suốt thời gian tồn tại của VNCH, tại thủ đo Sài Gòn cũng có Ðền Hùng, để con cháu hằng năm tới làm lễ cúng giỗ. Chánh phủ Miền Nam đã có một dự án lớn, xây dựng Ðền Hùng trên đỉnh nuí Chứa Chan, gần ngã ba ông Ðồn, thuôc quận Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Tiếc thay chương trình xây dựng bị hủy bỏ theo vận nước vào ngày 30-4-1975. Hiện nay Ðền Hùng đã theo chân người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại tạm dung, vì người Việt còn thì ngày giỗ Tổ Hùng vẫn miên viễn không ai có thể xoá hay thay thế bằng một danh xưng nào khác, mà ông cha ta đã dựng lên từ mấy ngàn năm trong dòng sử Việt :

            ' Bia đá chẳng mòn tòa miếu cũ
            Văn Lang muôn thuở tỏ Hùng Vương '

2- KHÔNG QUÊN CÁC VỊ TƯỚNG LÃNH QLVNCH ĐÃ HY SINH VÌ NƯỚC

            Từ ngày thành lập cho tới khi sụp đổ, QLVNCH có hơn 100 vị tướng lãnh. Người có cấp bậc cao nhất trong quân đội là Cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng QDVNCH. Nhiều tướng lãnh đã tử trận trước ngày 30-4-1975 như Cố Ðại Tướng Ðổ Cao Trí, tướng Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Bá Liên, Trương Quang Ân, Lê Ðức Ðạt, Nguyễn Văn Hiếu. Các tướng Lý Tòng Bá, Nguyễn Vĩnh Nghi,Phạm Văn Sang, Trần Văn Cẩm.. bi sa cơ giữa trận, còn Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện, bị VC hành quyết tại Cần Thơ vào ngày 1-5-1975 vì không tuân lệnh đầu hàng.

            Sau đó hơn phân nửa các tướng lãnh không bỏ chạy, đều bị bắt đi tù tại các trại giam khổ sai từ Nam ra Bắc, tận biên giới Viêt-Lào-Hoa. Chịu cảnh tù tội gần 17 năm, lâu nhất là các tướng Lê Minh Ðảo, Trần Quang Khôi, Dỗ Kế Giai, Lê Văn Thân và Trần Bá Di. Nói chung chỉ có một số rất ít, tham sống bỏ binh sĩ thuộc cấp, đeo máy bay Mỹ chạy ra ngoại quốc để chết già chết nhục trong sự quên lãng và cười khinh của miệng đời và thuộc cấp.

            Nhưng may thay, giữa những kẻ hèn hạ cúi mặt ra đi, trong hàng ngủ tướng lãnh Miền Nam, còn có rất nhiều khuông mặt LỚN đầy UY VŨ HIÊN NGANG, chấp nhận cái chết liệt oanh làm banh mặt kẻ thù lúc đó, góp phần với đồng bào và các chiến sĩ vô danh anh hùng khác, , nêu tấm gương bất khuất của người lính trận, cái tiết tháo ngàn đời của đấng sĩ phu trí thức Hồng-Lạc và trên hết là cái TRÁCH NHIỆM-DANH DỰ của Cấp Chỉ Huy, Lãnh Ðạo : 'Sinh vi Tướng, Tử Vi Thần - Nhất tướng công thành vạn cốt khô nên Thành Mất Phải Mất Theo Thành '.Những danh tướng VN Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai.. ngay khi tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh bắt QLVNCH buông súng, rã ngủ đầu hàng Cọng Sản Ðệ Tam Quốc Tế lúc trưa ngày 30-4-1975, các vị trên đã tự tìm cái chết vinh, làm hãnh diện cho màu cờ và sắc áo của QLVNCH, mãi mãi trong dòng sử oai hùng Nước Việt.

+ THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ :

            Xuất thân từ binh chủng Nhảy Dù, từng tham gia Mặt Trận Ðiện Biên Phủ năm 1954. Nguyên Tư Lệnh Quân Ðoàn II từ 1974-1975. Viết về Tướng Phú, hầu như các sử gia cận đại trong và ngoài nước, phần nào quy trách nhiệm cho ông, trong trận Ban Mê Thuộc thất thủ vào tháng 3-1975. Kế tiếp là cuộc lui quân từ Pleiku về Tuy Hòa, trên Liên Tỉnh Lộ 7-B hoàn toàn thất bại, làm tan vở gần hết lực lượng hùng hậu của Quân Khu 2.

             Hậu quả làm hằng trăm ngàn đồng bào vô tội và binh sĩ các cấp đã chết thảm trong khi di tản, vì các cấp chỉ huy cuộc lui quân từ Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, cho tới ngoài mặt trận, chia rẽ đố kỵ, làm mất hết yếu tố thành công, khác xa với cuộc lui quân đêm 20-4-1975 của SD18BB +LD1ND + TK.Long Khánh + TD82BDQ do tướng Lê Minh Ðảo đi bộ chỉ huy, trên Liên Tỉnh Lộ 2, lính và dân hầu hết đều được về tới Bà Rịa, kể cả TD2/43/SD18BB của Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế, đoạn hậu trong cuộc lui quân thần tốc này.

            Tự biết mình là vị tướng trấn giữ biên cương, không làm tròn trách nhiệm trước đồng bào và quân sĩ dưới quyền, tướng Phú đã khẳng khái kết thúc đời mình bằng độc dược ngày 1-5-1975, dù ông có phương tiện để chạy ra ngoại quốc như một vài tướng lãnh khác. Ông chết trước là để tạ tôi với quốc dân và trên hết là chứng tỏ với giặc Cộng, cái uy vũ của người làm tướng Miền Nam, không phải ai cũng hèn hạ như VC từ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp.. khi sa cơ đã tàn nhẩn bán rẽ đồng đội mình cho địch,, để đổi lấy tiền bạc và mạng sống cá nhân.

+ THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM :

             Tư Lệnh quân đoàn IV tại Cần Thơ. Ông sinh trưởng trong một gia đình danh giá đạo đức tại Thừa Thiên và xuất thân từ Binh chủng Nhảy Dù. Trong cuộc đời binh nghiệp, Ông là một trong những tướng lãnh Miền Nam, cho tới ngày cuối cùng, luôn được tiếng là liêm chính, nghiêm minh và đạo đức.

            Ngày 30-4-1975, dù Sài Gòn bị VC tấn công tứ phía nhưng gần hết lãnh thổ Quân Khu IV, quân lực VNCH và các cấp chỉ huy tại các tiểu khu vẫn còn nguyên vẹn và giũ vững tinh thần. Khi Tổng Thống Minh nghe theo sự xúi giục của Nguyễn Hửu Hạnh và đám VC nằm vùng, bắt QLVNCH buông súng đầu hàng. Tướng Nam tuân hành theo lệnh thượng cấp và kỷ luật quân đội nhưng nhất quyết không bỏ chạy cũng như không chịu nhục trước giặc xâm lăng. Vì vậy ông đã dùng súng tự kết liểu đời mình, ngay văn phòng Tư Lệnh quân đoàn tại Cần Thơ, trong sự thương tiếc trọng kính của thuộc cấp và binh sĩ dưới quyền, trong đó có cố Ðại Tá Tỉnh trưởng Chương Thiện là Hồ Ngọc Cẩn, cùng binh sĩ dưới quyền, không chịu buông súng đầu hàng.

+ TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG :

            Ông sinh năm 1933 tại Hốc Môn, tỉnh Gia Ðịnh. Nguyên Tư Lệnh Phó quân đoàn IV. Là người hùng, khi còn là Tư Lệnh SD5BB, đã cùng với Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, lúc còn làm Tỉnh Trưởng Bình Long, đã giữ vửng An Lộc, trong suốt 68 ngày bị 4 SD Bắc Việt vây hảm, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Từ năm 1973, Tướng Hưng về làm Tư Lệnh SD21BB, sau đó là Tư Lệnh Phó QDIV.

            Ngày 30-4-1975, sau khi Dương Van Minh đầu hàng giặc, Thiếu Tướng Nam tuẩn tiết tại văn phòng tư lệnh. Tướng Hưng về nhà, từ giả thân quyến, bạn bè và binh sĩ dưới quyền, rồi tự sát lúc 8 giờ 30 tối cùng ngày, để mãi mãi cùng với các anh hùng liệt nử, đi vào thanh sử VN muôn đời.

+ CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ :

            Nguyên Tư Lệnh SD5BB, một SD dã chiến từ Bắc Việt di cư vào Nam từ năm 1955, trải qua nhiều vị tư lệnh nổi tiếng như Woàng A Sáng, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Hiếu, Lê Văn Hưng và cuối cùng là Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ từ 1974 cho tới khi tàn cuộc chiến. SD5BB đã trấn giữ nhiều năm vùng đất, tuy sát nách Sài Gòn nhưng hung hiểm, bao gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long.

            Tướng Vỹ đả bảo toàn được lãnh thổ gần như nguyên vẹn, cho tới khi có lệnh đầu hàng. Noi gương tiền nhân bất khuất, trước toàn thể sĩ quan các cấp thuộc Bộ Tư Lệnh SD5BB tại căn cứ Lai Khê ố Bình Dương, Tướng Vỹ đã dùng khẩu súng lục Beretta 6,35 ly, từng đeo bên mình nhiều năm, để bắn vào đầu tự sát.

+ CHUẨN TƯỚNG TRẦN VĂN HAI :

            Ông xuất thân khóa 7 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, sinh năm 1926 tại Cần Thơ (tài liệu của Nguyễn Thanh Vân) thuộc Binh chủng Biệt Ðộng Quân và là một trong những cấp chỉ huy đã hoàn thành Trung tâm huấn luyện BDQ. Dục Mỹ vào năm 1961. Ðây là lò luyện thép đúng nghĩa, trong việc đào tạo quân nhân các cấp của binh chủng biệt động, chuyên hành quân rừng núi sình lầy. Trước khi trở thành Tư lệnh SD7BB. Chuẩn tướng Hai, đã giữ chức Chỉ Huy Trưởng BDQ/QLVNCH, góp phần lớn trong việc đánh đuổi cọng sản đệ tam quốc tế, ra khỏi thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Ðịnh, trong trận Tết Mậu Thân 1968.

            Theo bước các cấp chỉ huy tại quân đoàn IV anh hùng là Thiếu Tướng Nam, tướng Hưng.. nên ông đã tự sát tại căn cứ Ðồng Tâm của BTL.SD7BB vào trưa ngày 30-4-1975. Thi hài ông đã được thuộc cấp, nhân lúc cọng sản đang say men vơ vét chiến lợi phẩm, mang về tận Sài Gòn giao cho gia đình an táng.

            Ðúng như lời nhận xét thật vô cùng chí lý của Thiếu tướng Mỹ George Wear : ' khi quân sĩ VNCH được chỉ huy bởi các cấp lãnh đạo cũng như tướng lãnh giỏi, đạo đức, thì Họ chiến đấu xuất sắc như bất kỳ một quân đội của các nước trên thế giới, mà điển hình nhất là trận đánh cuối cùng tháng 4-1975 tại Xuân Lộc-Long Khánh, đã làm cho tập đoàn lãnh đạo cọng sản, tại Bắc Bộ Phủ phải run sợ và la làng, vì bị thương vong và thiệt hại quá to lớn, hơn bất cứ một trận đánh nào đã xảy ra trong chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975).'

            Câu nói trên đã được chứng minh một cách trung thực về khả năng tác chiến thần thánh của QLVNCH, trong viêc ngăn chân và tiêu diệt giặc Bắc xâm lăng. Nhưng tiếc thay những bậc sĩ quan các cấp, đạo đức tài giỏi thì bạc mệnh, đa truân cũng như những cấp lãnh đạo anh minh, lại vô quyền bất lực. Tình trạng VNCH như thế làm sao không mất nước vào tạy đệ tam cọng sản quốc tế ?!

            Nên 30-4-1975 muôn đời vẫn là ngày Quốc Hận của Dân Tộc Việt, cho dù ngày mai chế độ CSVN có bị sụp đỗ, thì các thế hệ Việt vẫn không bao giờ quên cột mốc thời đó trong dòng Sư Dân Tộc./.


Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2013
MƯỜNG GIANG

18 April 2013

NHÀ SƯ CỦA TÔI


Hoàng Ngọc Liên
Tưởng niệm Thượng Tọa Thích Thanh Long

Nhớ nhau, xin nhớ tình dân tộc,
Lẳng lặng mà xem đá nở hoa.

Thượng Tọa Thích Thanh Long

Lần chót tôi đến chùa Giác Ngạn là vào một buổi sáng Chúa Nhựt, sau khi dự thánh lễ tại nhà thờ Ba Chuông. Cũng nằm bên phải trên đường Trương Minh Giảng về hướng Lăng Cha Cả, chùa Giác Ngạn, nơi Thượng Tọa Thích Thanh Long trụ trì, ở sâu trong một con đường nhỏ chừng một trăm mét.

Tôi là một trong những người "mê tín" cụ Thanh Long, nhất là trong thời gian ở trại "cải tạo"Thanh Phong, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa vào những năm đầu của thập niên 80. Vì là người đồng hương Ninh Bình, nên ngay sau khi cụ Thanh Long đảm nhiệm chức vụ Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo QLVNCH thay thế Thượng Tọa Thích Tâm Giác, tôi đã tới chúc mừng cụ. Lần nào đến Nha TUPG, tôi cũng được cụ cho uống trà và kể lại những kỷ niệm tại quê cũ. Nhưng phải đợi đến khi gặp lại cụ ở trại "cải tạo" Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, rồi sau này trại Thanh Phong, tôi mới có dịp sống chung với cụ và hiểu hơn về con người của cụ.

Đó làmột ông già "nhà quê" bình dị, một "đại sư" - như anh Đoàn Bội Trân và tôi thường nói về cụ - đã khiến một người theo Thiên Chúa Giáo như tôi "mê tín".

Trongmột bài báo dành riêng để tưởng niệm cụ trong ngày giỗ cụ đầu năm 1994 , anh bạn tôi, Ký Giả Lô Răng đã xúc động ghi lại nhiều kỷ niệm về cụ, ở đây tôi chỉ xin nhắc những "diễn biến hòa bình" mà cụ và tôi thường tâm đắc. Bao giờ cụ cũng có những "mắm muối" pha thêm vào câu chuyện cho đậm đà, vui vẻ và thoải mải.
Cụ kêu tôi bằng ông và hỏi tôi:

- Ông biết tại sao tôi kêu ông là Ông mà ông Hùng lớn tuổi hơn ông, tôi lại kêu bằng... anh không ?

Thấy tôi chưa "nắm" được vấn đề, cụ giải thích ngay:

- Đó là gọi theo tên hoặc theo họ, người mình cũng đôi khi gọi theo họ, như người Trung Hoa và tùy theo để xưng hô là Cụ, là Bác, là Ông, là Anh.
Ví dụ ông họ Hoàng thì tôi kêu bằng Ông Hoàng. Ông Nguyễn Huy Hùng thì tôi kêu bằng tên, là Anh Hùng.
Cũng như vậy, ông Tống Tấn Sỹ thì tôi kêu bằng tên, là Bác Sỹ...

Rồi cụ cười:
- Cho vui vậy mà!
Tôi cười theo:
- Hèn chi anh Tú chưa đến sáu mươi mà đã được Đại Sư kêu là Cụ Tú, còn anh Thông là Thầy Thông !
Bây giờ noi theo Đại Sư, ai cũng gọi anh Thông là Thầy Thông, mặc dù ảnh đâu phải là... Đại Đức!
Trong số những bồ ruột của cụ ở trại Thanh Phong, còn có ông cha Nghiêu, cựu Tuyên Úy Công Giáo.
Nhìn hai người ngồi chồm hổm ngoài sân nấu nước pha trà, ông cha Trâm - Tuyên Úy BĐQ - bảo tôi:
- Ông coi, thật là một bức tranh hòa đồng tôn giáo tuyệt vời. Tiếc rằng không có máy ảnh...
Sau này, lúc linh mục Nghiêu yên nghỉ trên đồi cây Thanh Phong, cụ Thanh Long ngậm ngùi nói:
- Thế là "Đức Vua băng" rồi! Ông Hoàng phải đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn Ngài.
Còn tôi thì làm công quả hồi hướng cho Ngài. Ngài "về" với Chúa như vậy cũng đỡ nhức đầu!
Cụ vui vẻ khi gọi ông Cha Nghiêu, cũng như Linh Mục Đinh Cao Thuấn, cựu Giám Đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo là "Đức Vua"!
Cụ hay nói: "Cho vui vậy mà!"

Trong lúc mọi "trại viên" - danh xưng bịp của Công An coi tù đặt cho chúng tôi - "thương" cụ Thanh Long như vậy, thì bọn "chèo" lại không ưa cụ.
Chúng luôn tìm cách "hành" cụ, hoặc bắt cụ... cuốc thêm, phạt cụ ăn 12 kg, dọa sẽ cắt thăm nuôi...
Cụ Thanh Long thường bảo chúng tôi cái gì cũng... từ từ, mình còn tù trường kỳ, đâu có gì gấp. Ngờ đâu chủ trương "từ từ" của cụ rồi cũng đến tai... chèo!
Tên cán bộ trực trại hỏi cụ:
- Tại sao trong lúc phải tranh thủ đi nhanh ra hiện trường để thi đua làm sắn, anh cứ rề rề lùi lại phía sau. Có trại viên đứng lại chờ anh, anh lại nói: "Cứ từ từ"! Anh chống đối lao động hả?
Cụ cười:
- Nào tôi có chống đối bao giờ đâu. Cái chân tôi bị thấp khớp đi nhanh không được.
- Nhưng anh lại xui người khác từ từ...?
- Từ từ là tôi từ từ thôi...
- Anh về làm kiểm điểm cho tôi. Bắt đầu từ ngày mai, anh ăn mười hai kí!

Chiếc bánh bột mì luộc bằng lòng bàn tay là tiêu chuẩn thường lệ của mỗi người, hôm sau lúc phát cho cụ đã bị cắt một miếng. Miếng bánh được cát ra đó đem đặt vào tiêu chuẩn của anh Đinh Công Chất vì Chất "làm cho quên đời" được ăn mười tám kg. Tên "chèo" thưởng cho một người ăn thêm, nhưng trại không mất thêm chút nào. Nó cắt xén một người đang từ tiêu chuẩn 15kg xuống 12kg, để thưởng cho một người từ 15 kg lên 18 kg !

Do vậy, mà khi hiểu âm mưu "chèo", anh Chất đã cầm mẩu bánh đem trả vào chiếc bánh mới bị cắt ra của cụ Thanh Long, rồi anh lấy chiếc bánh đó ăn và để chiếc bánh còn nguyên vẹn của mình cho cụ. Dĩ nhiên việc này không cho "chèo" biết và càng không để cụ hay được.

Vì cụ chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện ăn uống, nên việc "chèo" có hạ tiêu chuẩn ăn hay không, cụ cũng không để ý nữa.

Trở lại câu chuyện đồng hương, bữa chúng tôi chuyển trại vào Thanh, lúc chiếc xe Ba Đình chở tù đi qua Thị Xã Ninh Bình, cụ chỉ tay vào bảng chỉ đường bảo tôi:
- Từ đây về phủ Kim Sơn chỉ còn hai mươi ba cây số, Phát Diệm hai mươi bảy cây. Ngày xưa có một dạo tôi ở chùa Đồng Đắc, cũng gần làng ông.
- Thưa Cụ, những năm cuối thập niên 30, ông già tôi thường xuống chùa Đồng Đắc lễ Phật.
Cụ Thanh Long ngạc nhiên:
- Nghe nói ông cụ có người anh ruột làm linh mục bên địa phận Bùi Chu?
- Dạ đúng, nhưng ông già tôi lại hay xướng họa thơ chữ Hán với quý vị lãnh đạo tinh thần bên Phật Giáo.
Cụ Thanh Long cười:
- Thảo nào ông thân với mấy ông sư. Thầy Thích Minh Thuần, Tuyên Uý Phật Giáo Sư Đoàn Dù, hồi sinh tiền vẫn nói với tôi là ông thường vô vãng cảnh chùa Hưng Pháp.
Xe đi qua cầu Hàm Rồng thì một hòn đá từ đâu liệng trúng vào tấm kiếng sát chỗ cụ ngồi.
Cụ hỏi tôi:
- Ông có biết tại sao họ ném đá vào xe mình không?
Tôi đoán chừng:
- Tôi chắc là đồng bào được nghe cán bộ tuyên truyền là sĩ quan "ngụy" ăn thịt người, nên xui họ tỏ thái độ...
Cụ Thanh Long vẫn cười, nhưng đầu cụ lắc lắc:
- Lần này ông... sai rồi! Đó là những năm trước khi chúng mình mới ra Bắc. Bây giờ thì đồng bào hiểu rồi.
- Vậy lần này...
Cụ chậm rãi:
- Lần này đồng bào bị lừa!
Tôi trố mắt:
- Đại sư nói đồng bào bị lừa?
Cụ gật gù:
- Lúc xe dừng lại bên này cầu Long Biên. Tôi được một anh tài xế xe Ba Đình cho hay trước, là anh ta nghe "chèo" nói với nhau lần này rỉ tai đồng bào dàn chào xe chở bọn tù binh "bành trướng Trung Quốc" mà "ta" bắt được trong trận chiến trên sáu tỉnh biên giới phía Bắc vừa qua. Tuyên truyền như vậy mới khích động căm thù trong dân chúng, vì Thanh Hóa cũng như các tỉnh, đều có bộ đội, dân công hy sinh trong những ngày Tầu "vượt biên"... xâm lược !
Tôi nói thêm:
- Và cũng để chúng ta hiểu lầm đồng bào còn căm thù mình... Tin tức nóng hổi như vậy mà Đại Sư cũng có sớm. Cụ thiệt thần thông quảng đại !
Cụ lại cười:
- Thần thông gì đâu? Có duyên may nên được biết, nên cũng... thông cảm với đồng bào.

Lúc đến Trại Thanh Phong, tôi may mắn ở cùng đội với cụ Thanh Long. Đội trưởng là anh Võ Văn Hổ. Chúng tôi gọi anh là... Cọp cho gọn. Cọp rất khéo léo, vừa không để "chèo" bắt bí, vừa không để anh em phải làm những việc mà tự bọn "chèo" nghĩ ra bắt tù phải làm, như một đội khác. Đối với cụ, Cọp một niềm trọng kính. Việc gì coi bộ quá nặng so với thể lực của mấy ông già, nhất là khi trong số những người phải làm lại có cụ Thanh Long, Cọp thường tiếp tay làm cho mau xong.

Cụ thường khen:
- Cọp khỏe và dễ thương lắm, lại hay giúp mấy ông già. Nếu "tự quản" nào cũng như Cọp thì anh em tù cũng đỡ khổ.
Chẳng những anh em quốc gia bị tù đỡ khổ mà cả mấy đứa con nít bên tù hình sự cũng đỡ đói.
Câu chuyện này về sau kể lại cho nhà thơ Thái Duy Đức nghe, thi sĩ rất tán thưởng:
- Thế là hơn mười năm trước, các anh em tù chính trị đã làm "diễn biến hòa bình" rồi !

Câu chuyện thật giản dị, chúng tôi làm vì tình người, không cần biết bọn trẻ đang bị cầm tù mất dạy như thế nào. Chỉ thấy chúng đang đói, đang lạnh. Chúng tôi cũng đói, cũng lạnh, nhưng so với tù hình sự, chúng tôi hạnh phúc hơn nhiều. Từ 1979, tù chính trị đã được thăm nuôi, hoặc được phép nhận quà ba kg, về Thanh Phong gói quà gia đình đã lên năm kg, cho nên mỗi khi có "thăm nuôi", chúng tôi lại chuyển phần bo bo qua cho mấy đứa trẻ bên tù hình sự. Nói chuyển qua thì dễ, nhưng chuyển qua trót lọt, tránh được bao nhiêu con mắt cú vọ của đám "chèo", của "ăng ten"... thì cũng phải tốn công phu. Thường thường một vài anh em trẻ, có sức liệng xa khiến chiếc túi ni lông có mấy "tiêu chuẩn" bo bo rơi đúng... vị trí. Còn cụ Thanh Long và tôi đứng hai đầu nhà canh chừng để nếu thấy đúng thời cơ, mới ra hiệu cho anh em liệng bịch ni lông bo bo qua bên kia hàng rào giây kẽm gai cho mấy đửa nhỏ đang chờ sẵn.

Được các bác, các chú miền Nam chi viện, bọn trẻ rất cảm động. Có đứa đã khóc. Ngoài rẫy làm mùa, chúng tôi được bọn trẻ biết ơn, kiếm giùm cho bó củi, bó rau. Dĩ nhiên chúng cũng mong được cho đồ ăn, cho quần áo, nhưng điều làm cụ Thanh Long và chúng tôi được an ủi là bọn trẻ mất dạy đã có lễ phép, biết nói cám ơn và nhất là chúng thấy rõ những điều được "giáo dục" căm thù quân "ngụy" của Công An coi tù là láo khoét.

Đó cũng là phần thưởng tinh thần cho chúng tôi và là những kỷ niệm khó quên trong thời gian chung sống với cụ Thanh Long.
Tiếc rằng cụ viên tịch trước khi tôi chuyển lời thăm của Cọp đến cụ. Vì cái lần chót mà tôi đến chùa Giác Ngạn - như trên đã viết - là để tiễn cụ về nơi yên nghỉ.
Tôi thắp hương lạy trước quan tài, như một Phật tử ngoan đạo và nói với cụ:
- Tôi thật có lỗi vì cả tháng nay lu bu ba cái giấy tờ chưa đến thăm Đại Sư được, bữa nay đến thì chỉ còn đưa tiễn Đại Sư.
Thứ năm vừa qua, Cọp đi Mỹ. Tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất với Cọp. Cọp nói: "Ông già có đến chùa Giác Ngạn cho tôi gửi lời thăm Thầy Thanh Long."
Mong Đại Sư sớm về cõi Đức Phật A Di Đà!
Lạy Đại Sư.

Cả rừng người đổ xô về chùa Giác Ngạn, trong đó dĩ nhiên có vợ chồng người Công Giáo từng đi thăm nuôi cụ, để vĩnh biệt "Nhà Sư của tôi."

Để Tưởng niệm "Nhà Sư Của Tôi"
Cầu chúc Ngài sớm siêu thăng Lạc Quốc.

Hoàng Ngọc Liên
(http://hoangngoclien1.tripod.com/)

17 April 2013

Chuyện hai bác nông dân đổi vợ


  Văn Quang 

                                     
Chuyện về những nghị định, quyết định ở VN không giống ai đã công bố hay còn là dự thảo đang gây nhiều tranh cãi dẫn đến bất bình của người dân còn khá nhiều. Nào là làm lại Chứng minh nhân dân 12 số, chuyện ông Ngân hàng nhà nước "ngồi nhầm chỗ" nhảy ra làm "ông buôn bán vàng chuyên nghiệp", đề nghị cho bắn người chống cán bộ thi hành công vụ và những quy định lẩm cẩm khác như bàn tay sáu ngón không được lái xe, việc Giám đốc Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng mang 11 sổ đỏ của Vườn đi thế chấp hoặc cầm cố…

Nhưng bàn mãi về những chuyện đó khiến quý bạn đọc đau đầu, nên kỳ này xin bàn đến một chuyện vui buồn lẫn lộn trong lãnh vực tình cảm, thứ chuyện muôn đời nói hoài không bao giờ hết. VN mới có Dự thảo Nghị định xử phạt những người ngoại tình và quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể bị phạt tiền từ 50 đến 75 triệu đồng. Kỳ sau xin bàn với bạn về lợi hai của cái Nghị định đó.

Nhân bàn về chuyện này, kỳ này xin mời bạn đọc thưởng thức một chuyện tưởng như không bao giờ có thật ở VN. Tôi cứ băn khoăn mãi, không biết chuyện này có làm cho đời sống nông thôn VN vốn hiền hòa chất phác bị "nhiễm độc" vì những thứ văn hóa đồi trụy từ ngày "mở cửa" không? Bạn cứ đọc đi rồi cười cũng được, khóc cũng được.

Chuyện không thể tin, vẫn có thật

Thưa bạn, chuyện này khi nghe một anh bạn nói lại, tôi cũng không tin. Buổi sáng ngày 9-4 vừa qua, ngồi ở cà phê sân vườn dưới Phú Nhuận, một anh bạn trẻ là phóng viên một tờ báo, phây phây hỏi tôi:

- Bác có biết tin mấy ông nông dân thứ thiệt nhà ta "chịu chơi" hơn bọn trẻ chưa? Họ dám đổi vợ cho nhau đấy.

Tôi không tin nên chỉ lắc đầu cười dài:

- Cậu chơi trò cá tháng tư với tớ đấy hả?

Anh ta bèn lên giọng đứng đắn nói đó là chuyện hoàn toàn có thật, có tên tuổi đàng hoàng, có cả viên chức chính quyền địa phương làm chứng. Chuyện xảy ra từ lâu nhưng đến nay mới được "khui" ra. Anh kể lại sơ lược câu chuyên ly kỳ này. Anh ta cũng lấy tin trong một tờ báo khác nhưng không nhớ là báo nào. Sau khi về nhà, anh PV "meo" cho tôi luôn tin đó. Tôi đọc và tìm hiểu thêm. xin tóm lược dưới đây::

Thật ra chuyện đổi vợ đã từng xảy ra ở một vài nơi trên thế giới. Năm 1960, tại Anh, kể từ khi thuốc tránh thai được phát minh, phong trào buông thả tình dục trong giới trẻ bùng phát mạnh. Các nhà sử học gọi giai đoạn này là "Cuộc cách mạng tình dục ở châu Âu". Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ phi công của Mỹ lan sang Anh gặp môi trường "cách mạng tình dục" đã biến nhanh thành phong trào swing. Hội viên hội swing gọi là swinger. Được một thời gian, phong trào swing dần thoái hóa vì sự kỳ thị của xã hội. Một số tín đồ swing vẫn ngấm ngầm hoạt động trong vòng bí mật để tránh ánh mắt dè bỉu, khinh khi của người đời. Giống như các loại hình thức giải trí khác, swing cũng len lỏi vào xã hội Việt một cách ngấm ngầm ở vài nơi.

                                              
                                                        Một chòi lá trong khu du lịch ở Tây Ninh là nơi gặp nhau của nhóm swing
Cụ thể như ở TP Sài Gòn, mới năm 2012, một cái hội cũng được gọi là Swing ở khu Bàu Cát - TP Sài Gòn. Có nhiều cặp mang vợ đến đổi cho nhau, có khi lên đến 8 cặp, thay đổi bất cứ khi nào cho có "người mới". Nhưng đó là dân thành phố, gồm mấy anh chị hầu hết là vợ hờ, chồng tạm, thích tập tành làm "dân văn minh quốc tế". Ấy thế mà cũng có luật lệ đàng hoàng. Phải có giấy "đăng ký kết hôn" và giấy xét nghiệm máu mới được cho vào hội để tránh bị AIDS.
                                              
                                                                       Vợ người này ngồi trong tay người khác
Nhưng thật ra những giấy tờ đó đều là giả, chỉ cần bỏ ra hai trăm ngàn là có ngay giấy khống chỉ, có mộc đỏ đàng hoàng, chỉ việc điền tên vào là xong ngay. Ở VN cái gì cũng làm giả được hết từ bằng tiến sĩ đến cái giấy chứng nhận vớ vẩn nào bạn cần. Một chị chơi lâu năm chán chường rồi tiết lộ: "chị và ông chồng kỹ sư của chị chẳng phải vợ chồng gì cả. Chỉ là rổ rá cáp lại. Chị và lão kỹ sư cũng không phải cử nhân, trí thức. Anh ta chạy xe ôm, còn chị bán hột vịt lộn vỉa hè tại một khu công nghiệp ở Bình Dương!"
                                                         
                                                                          Một swinger vừa từ phòng ngủ ra
Nay cái hội "Swing văn minh ngã tư quốc tế" đó có lẽ đã tan rã từ lâu không nghe nhắc tới nữa.

Hai bác nông dân chân đất đổi vợ cho nhau

Còn đây là chuyện khác hẳn. Chuyện của hai cặp vợ chồng "quê một cục, trăm phần trăm". Có lẽ cả hai cặp chưa từng lên internet bao giờ và hồi đó ở tỉnh cũng chưa có internet, các bác này cũng chẳng đọc báo chí lam nham để biết đến những hoạt động tình ái ba lăng nhăng của thiên hạ. Tất cả "kịch bản" này được chính các vị nông dân chân đất này trong một lúc cao hứng đã "sáng tạo" ra.  

Chuyện xảy ra tại xã Sơn Phú, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh). Hai cặp vợ chồng ấy một thời đã từng là bốn người bạn thân thiết. Thế rồi, chỉ sau chuyện trên bàn rượu, họ đã quyết định chẳng thể ai ngờ tới: tráo đổi vợ chồng cho nhau!

Theo một số người dân ở xã Sơn Phú thì sự việc "đổi vợ đổi chồng" diễn ra đã khá lâu nhưng một trong số những nhân vật chính hiện vẫn sống tại địa phương và được một giới chức tại xã này xác nhận. Ông Nguyễn Như Tùng, nguyên xóm trưởng thôn Công Đẳng, xã Sơn Phú - người đã biết rõ nhất vì đã từng phải đứng ra giải quyết chuyện trần gian có một không hai này. Ông kể rành rọt:

"Đó là sự việc khiến tôi phải nhớ mãi trong thời gian làm trưởng xóm ở ngôi làng này. Nó bắt đầu xảy ra từ năm 1995 nhưng giờ đến xã này, hỏi bà Trinh, hiện còn ở trong xã, một mình nuôi đàn con ai mà chả biết việc đổi chồng năm xưa của bà".

Từ vợ bạn thành vợ mình, vợ anh thành vợ tôi

Ông Nguyễn Đình Tình (SN 1959) và bà Nguyễn Thị Trinh (SN 1966) là vợ chồng cùng trú tại xã Sơn Phú. Đến khi xảy ra sự việc (vào năm 1995), ông bà đã có với nhau bốn đứa con, đứa lớn 11 tuổi và đứa nhỏ nhất mới 5 tuổi. Tại ngôi làng nhỏ bé này, vợ chồng ông Tình chơi rất thân với gia đình ông Nguyễn Hồng Gia (SN 1962) và bà Nguyễn Thị Lắm (SN 1960). Nếu như vợ chồng ông bà Tình-Trinh có bốn đứa con ngoan ngoãn, thì vợ chồng ông bà Gia-Lắm cũng đã có với nhau hai cô con gái nết na, xinh đẹp.

Vì là hàng xóm thân tình, "tối lửa tắt đèn" có nhau, nên hai cặp vợ chồng này như người một nhà. Hễ gia đình nào gặp chuyện khó khăn thì gia đình kia không ngần ngại đến giúp đỡ. Họ thân thiết đến mức từng bát cơm, con cá, bó rau cũng sẻ nửa, san đôi. Không những thế, do cùng hùn hạp vốn làm ăn chung, họ càng trở nên thân thiết hơn. Cứ mỗi dịp đi làm chung về, hai cặp vợ chồng thường tụ tập ở nhà của ai đó để nghỉ ngơi, ăn uống. Gia đình này thậm chí có thể ăn ở cùng gia đình kia cả tháng trời mà ai cũng cảm thấy vui vẻ. 

Nhưng chính trong cái không khí đầm ấm bề ngoài ấy, người ta chẳng thể ngờ "cơn sóng ngầm" đã âm ỉ bộc phát từ lâu, khi bà Trinh và ông bạn láng giềng Gia đã nảy sinh tình cảm "khác thường" trên quan hệ hàng xóm, bạn bè. Tuy vậy ông bà này đã khéo giữ nên chỉ hai người biết với nhau.

Chồng gật, vợ cũng gật theo mới là chuyện lạ

Có lẽ đây là một trong những lý do chính dẫn đến "bi hài kịch" không ai ngờ tới. Buổi chiều cuối năm 1995, sau một ngày làm việc mệt nhọc, bốn người bạn đã làm một bữa tiệc, vừa để nghỉ ngơi, vừa để vun đắp tình cảm của hai gia đình. Khi rượu đã ngà ngà, hai gã đàn ông bỗng dưng nghĩ ra trò quái đản. Khi ông Tình đề nghị: "Mi đổi gái (vợ - PV) cho tao, tao sẽ đổi gái cho mi". Không hiểu sao ông Gia cũng gật đầu đồng ý. 

Và điều đáng nói hơn là khi nghe hai ông chồng bày tỏ ý tưởng điên rồ đó, không hiểu vì lẽ gì lại được cả hai người đàn bà quê mùa kia chấp thuận. 

Thế là ngay trong đêm đó, hai cặp vợ chồng từng là bạn nối khố của nhau quyết định thực hiện chuyện tráo đổi vợ chồng một cách điên rồ. Rồi chẳng hiểu vì uống phải bùa mê thuốc lú hay vì "cái lạ bằng tạ cái quen" mà những ngày sau, cả bốn con người đó vẫn tiếp tục trò chơi ký quái này.

Đổi luôn cho tiện việc… đốt nhà

Nhưng được một thời gian, rồi cũng có người tỉnh trí nhận biết mình đang chơi trò chơi nguy hiểm, trái luân thường đạo lý. Đầu tiên, bà Lắm vợ ông Nguyễn Hồng Gia, nhất quyết không chịu ăn ở nhà ông Tình, bạn của chồng nữa mà đòi về nhà mình. Tiếp theo, ông Tình cũng tỉnh ngộ, sang nhà ông bạn để đòi vợ là bà Trinh về. Tuy nhiên, vì đã có tình cảm với nhau từ trước nên ông Gia và bà Trinh… không đồng ý và muốn đổi vợ đổi chồng luôn… cho đỡ lôi thôi và đã "quen hơi bén tiếng, hòa hợp" rồi nên cứ để thế cho yên.

Đòi vợ không được, ông Tình nổi cơn điên, châm lửa đốt nhà của ông bạn "vàng" đã cuỗm mất vợ mình, không chịu trả. Rất may, dân làng phát hiện kịp thời nên ngọn lửa nhanh chóng được dập tắt. Tuy nhiên, "đám cháy đổi tình" của hai cặp vợ chồng này thì không thể dập được nữa. Hai bên nhất định không bên nào chịu nhượng bộ bên nào. Vợ mình vẫn cứ ở nhà bạn.

Hai gia đình cùng tan nát

Sau hành động ngang nhiên đốt nhà của người khác, ông Nguyễn Đình Tình bị bắt và bị xử án tù gần một năm. Ngày mãn hạn tù về nhà, ông Tình đành cắn răng chấp nhận sự thật vợ mình đã thuộc về kẻ khác. Ông Gia và bà Trinh vẫn tiếp tục sống với nhau.

Còn về phần chị Lắm vợ ông Gia, khi thấy chồng đưa người phụ nữ khác về nhà ở, phần vì quá đau lòng, phần vì không chịu nổi miệng lưỡi đàm tiếu của người đời, đã nuốt nước mắt ôm hai con gái vào miền Nam sinh sống. Từ đó đến nay, những người dân ở đây cũng không biết ba mẹ con trôi dạt đến phương nào, bây giờ ra sao. Còn đối với ông Tình, sau khi mãn hạn tù một thời gian, được người quen mai mối đã đi bước nữa. Ông Tình và người vợ mới có thêm một cậu con trai hiện đang học lớp 10. Còn ông Gia và bà Trinh sau khi về ở với nhau đã có thêm ba người con nữa. 

Gần hai mươi năm đã trôi qua, nhưng câu chuyện "tráo đổi vợ chồng" đầy oan nghiệt ấy vẫn chưa thể quên trong ký ức những người dân xã Sơn Phú. 

Hậu quả vô cùng bi thảm 

Hành động "đổi chồng, đổi vợ" khiến con trẻ phải gánh kết cục quá oan nghiệt chẳng ai ngờ tới. 

Ông Tình và bà Trinh có hai cô con gái tên là N và L. Sau khi mẹ chúng sang ở với ông hàng xóm, bố thì bị đi tù về đói rách, hai đứa quá buồn rầu nên rơi vào cuộc sống đầy oán hận và buồn tủi. Đến trường thì bị bạn bè trêu trọc, về nhà lại bị người ta xét nét, chúng càng tỏ ra bất mãn với cuộc sống. Ví quá xấu hổ nên học đến lớp 9, N đã bỏ học, bỏ nhà đi "bụi đời", sau đó lôi kéo em gái mình cùng đi theo. 

Sau một thời gian bỏ nhà, sống buông thả vất vưởng ở Sài Gòn, hai em đã bị dính căn bệnh thế kỷ AIDS. Năm 2003, dù vào Sài Gòn sau chị gái, nhưng L. lại nhiễm bệnh và mất trước chị gái khi đang ở tuổi 17 trăng tròn, phải chôn thân nơi đất khách quê người. Không lâu sau khi em gái mất, N. cũng trở về quê rồi nhắm mắt xuôi tay trong lặng lẽ cũng vì căn bệnh thế kỷ này!

Những nhân vật chính hiện nay ra sao?

Còn đối với những nhân vật chính trong câu chuyện này cũng có cuộc sống không như mong đợi. Ông Tình chung sống với vợ ông Gia được 6 năm thì mất. Ông ra đi để lại vợ con thơ dại và bố mẹ già yếu. Còn bà Trinh, qua hai đời chồng đã sinh được 7 đứa con (nhưng nuôi 5 đứa) nên cuộc sống không thể khá giả lên được, hiện bà đang ở xóm cũ.

                                              
                                                               Ông Hồ Văn Đông xác nhận câu chuyện với PV
Còn ông Gia, sau khi quyết chí sống với vợ của bạn sau màn "tráo đổi vợ chồng" vô tiền khoáng hậu chỉ được một thời gian cũng không may gặp tai nạn qua đời, để lại cho bà Trinh 5 đứa con nheo nhóc. Chính vì vậy, những người dân nơi đây cho biết, gia đình của cả hai người phụ nữ này hiện được liệt vào danh sách gia đình nghèo của xã Sơn Phú. Ông trưởng xóm Hồ Văn Đông cho biết: 

                                              
                                                                                 Bà Nguyễn Thị Trinh 
"Chúng tôi đều biết rất rõ và chán ghét vì câu chuyện năm xưa liên quan đến bà Trinh. Nhưng giờ chứng kiến cuộc sống mẹ con bà ấy quá khó khăn, nhiều người cũng chạnh lòng. Với cương vị là trưởng xóm, tôi cũng chỉ biết an ủi, thăm hỏi tặng quà mỗi khi có dịp thôi".

Hai cặp vợ chồng đã li dị rồi mới tái hôn

Kể về câu chuyện hy hữu có một không hai này, ông Nguyễn Anh Huân, viên chức tư pháp - hộ tịch xã Sơn Phú cho biết: "Thực tế về mặt pháp luật, hai cặp vợ chồng đã được tòa án giải quyết cho ly hôn và sau đó tái hôn nên không có gì sai. Tuy nhiên, trong thời gian trước đó thì đúng là có chuyện "đổi vợ" nên mới nảy sinh mâu thuẫn. Sau khi sự việc đó diễn ra thì hai cặp vợ chồng đó mới chính thức ra tòa ly dị".

Như thế là nếu cái nghị định "ngoại tình" kia được áp dụng, hai cặp đổi vợ này có sống lại cũng không thể bị phạt.

Đây là chuyện từ cổ chí kim tôi mới nghe một lần. Chẳng biết hai bác nông dân có bị tiêm nhiễm ảnh hưởng "thác loạn" của xã hội thời đó không. Nếu sống ở thành phố, bây giờ học theo lối sống của các "showbiz" và những cô cậu chỉ thích xài sang, ăn trắng mặc trơn không muốn làm việc, không biết hai bác nông dân này sẽ còn thác loạn tới đâu nữa? Tôi nghĩ ở miền quê nghèo mà "chơi tới bến" như thế cũng là cùng cực của sư suy thoái đạo đức rồi, không thể hơn được nữa. Nếu chúng ta tin vào thuyết nhân quả, "ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác" thì đây là một minh chứng rõ ràng nhất. Mong rằng xã hội VN không còn những bi kịch như thế này nữa. 

Một lời "nhắc" chân thành các đấng mày râu

Xin nhắc các vị độc giả, căn bệnh thế kỷ ở VN bây giờ nhiều như ruồi, không ai có thể kiểm kê hết được và nhìn bề ngoài cũng không thể nào đoán biết được. Có người còn nói rằng càng là "hàng nhà quê" hoặc hàng được gọi là "rau sạch" càng dễ "chết". Càng tóc xanh môi đỏ, chân dài… càng nhiều nguy cơ tiềm ẩn sau những bộ "vó" choáng lộn. May mắn lắm mới gặp được "hàng thật". Còn phần nhiều những cô gái trẻ đóng vai sinh viên, nghệ sĩ đều chỉ là để lừa khách bởi lẽ cái mác "sinh viên" "nghệ sĩ" khiến nhiều đàn ông mê đắm, như thể họ là dân chơi "có đẳng cấp" quen toàn "hàng sạch". 

Hoặc có ông khoe lấy toàn vợ còn trinh, không còn "din" ông không lấy. Nhưng ông quên khuấy đi một điều là ở VN bây giờ, vá cái "din" dễ dàng như đi… siêu thị. 

Bạn không tin ư? Mời bạn vào net xem trang thông tin của Bệnh Viện Chuyên Khoa Giải Phẩu Thẩm Mỹ Sài Gòn (97B Nguyễn Du, Phường Bến Thành, Quận 1, TP Sài Gòn, Việt Nam). BV này cho biết hàng ngày không có biết bao nhiêu cô gái đến hỏi vá màng trinh qua điện thoại, qua email… tại Bệnh viện thẩm mỹ Sài Gòn. BV này còn có thể "sửa chữa" nhiều thứ "nhạy cảm" nữa, tôi không tiện kể ở đây. Đây cũng là cái điểm tựa vững chắc để các cô gái VN cứ "văng mạng" rồi tính sau, xã hội đã loạn càng loạn!

Tôi chỉ muốn lưu ý để các bạn không bị "quả lừa" to tướng khi phải về VN vì một lý do nào đó thôi.

Văn Quang
Viết từ Sài Gòn, ngày 13.04.2013