06 April 2012

Những thách thức đối với Đảng cộng sản Việt Nam



Những thách thức đối với Đảng cộng sản Việt Nam

Hoàng Anh

Là đảng duy nhất và nắm quyền lãnh đạo tại Việt Nam, Đảng cộng sản VN đã mặc định về vị trí của mình trong toàn bộ quy trình quyền lực và ra quyết định cũng như kiểm soát hệ thống quản trị. Nhưng hiện nay Đảng cộng sản VN đang đối mặt với một số thách thức mà nếu có cái nhìn thật khách quan, sẽ dễ dàng cảm nhận ra tính nghiêm trọng hay không của nó.

Thách thức từ những xung đột lợi ích liên quan đến quyền sở hữu đất đai

Khiếu kiện đất đai không phải là vấn đề phức tạp duy nhất đối với Việt Nam, nhưng đây rõ ràng là một quả bom đối với toàn bộ cục diện. Chính quyền từ cấp cao nhất có vẻ đã không đủ sâu sắc để phân tích hết tín hiệu phát ra từ vụ nổ súng phản kháng ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, một trong khoảng trên 500 đơn vị hành chính cấp huyện trên cả nước. Trước rất lâu và ngay sau khi vụ việc được mệnh danh "Hoa cải đỏ" xảy ra, những vụ cưỡng chế tương tự đã và vẫn diễn ra theo nhiều mức độ khác nhau ở hầu như toàn bộ các huyện. Theo cách lý giải gần đây nhất từ bộ Thông tin Truyền thông trong hội nghị báo chí ngày 30/3 tại Quảng Ninh thì bản chất của vấn đề là: "Một số báo thông tin, bình luận có tính suy diễn, cho rằng, gốc của vấn đề, vụ việc là do sở hữu toàn dân về đất đai trong khi thực ra, nguyên nhân chủ yếu do nhận thức, thực hiện sai các quy định pháp luật đất đai về cho thuê đất, thu hồi đất, cưỡng chế đất cũng như do các quy định về quản lý đất đai thiếu đồng bộ, chống chéo, phức tạp" (trích Toàn văn Báo cáo Đánh giá Công tác Báo chí 2011).

Đây chính là quan điểm cuối cùng, được coi là kết luận của Đảng về vụ việc ở Tiên Lãng. Sự nhìn nhận này cho thấy sẽ không có bất cứ thay đổi hoặc tác động nào đến mối quan hệ giữa chính quyền và người dân ngay cả khi cách hành xử đáng xấu hổ của các quan chức ở Hải Phòng trong vụ tranh chấp chính là mẫu số chung trong mọi xung đột giữa hai nhóm lợi ích bất cân xứng: quan chức, doanh nhân cấu kết đối đầu với nhân dân lao động, nhất là những người nông dân có xu hướng tìm kiếm lợi ích dựa vào khai thác đất đai.

Không thể phủ nhận xung đột lợi ích là vấn đề chung đối với tất cả các xã hội có hoạt động kinh tế. Tạm cho rằng, sự xung đột lợi ích trong lĩnh vực đất đai là một mẫu xung đột có thể đại diện cho các hình thức khác, cũng giống tất cả các xã hội. Nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa mô hình xung đột của Việt Nam với các mô hình xung đột được kiểm soát tốt khác chính là sự thiếu vắng một số yếu tố đảm bảo. Thứ nhất, các bên có lợi ích bị xung đột biết và hiểu rõ ràng về quyền lợi của mình. Thứ hai, có một thiết chế trung gian mang tính trọng tài đảm bảo quy trình thương lượng hoặc giải quyết. Và thứ ba, quan trọng nhất, là có được các nguyên tắc pháp lí chặt chẽ được đảm bảo thực thi, hay một chế độ Pháp quyền.

Hệ thống pháp luật thiếu chuẩn mực, được làm ra do tác động của các nhóm lợi ích luôn có khuynh hướng thao túng đã luôn là một đặc điểm trong quy trình làm luật ở Việt Nam. Hệ thống này trên thực tế là sự câu kết chặt chẽ giữa những doanh nhân bất lương và những quan chức trong bộ máy tham lam nhưng lại thiếu vắng hoàn toàn các tri thức và đạo đức của người làm công tác quản trị quốc gia. Sự tráo đổi lợi ích và quyền lực tạo thành một cơ chế đầu voi đuôi chuột đầy mập mờ đã biến nông dân, nhóm lợi ích có ít khả năng phản kháng nhất do thiếu tri thức và một công cụ bảo trợ đáng tin cậy trở thành con mồi để tiêu diệt. Sự đối trọng này là bất cân xứng đến mức trong một số trường hợp trở thành xung đột tiêu cực khi nhóm lợi ích nông dân phản kháng trong tình thế quẫn bách đường cùng. Việc gia đình anh nông dân Đoàn Văn Vươn phản kháng với quyết định cưỡng chế có động cơ cánh hẩu được chính quyền từ thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng đến xã Vinh Quang hậu thuẫn.

Xung đột này và cách giải quyết của chính quyền Trung ương đã cho thấy một sự nhầm lẫn đáng cảnh báo về vai trò thực sự của các bên. Một cách trực diện, có thể nhận ra ngay rằng thêm một lần nữa quán tính hành động theo mô thức "đóng cửa bảo nhau" lại được áp dụng. Nhà nước, thiết chế có vai trò trung gian đại diện đã tham gia xung đột với tư cách là một bên tranh chấp và hoàn toàn sao nhãng vai trò của mình là thiết chế bảo đảm trình tự của một quy trình chứ không phải bên tham gia các xung đột. Nó trở thành lực lượng hậu thuẫn cho đám khủng long doanh nghiệp, vốn luôn buông thả với lòng tham và các thủ đoạn của mình trên con đường tìm kiếm lợi ích. Áp lực này đã đẩy người nông dân, nói riêng, và các nhóm yếu thế khác đến bờ vực của sự khánh kiệt.

Bản chất của vụ việc Tiên Lãng hay hàng ngàn vụ "Tiên Lãng" khác ở cả khía cạnh địa lý và lĩnh vực chính là việc họ, các nhóm lợi ích, đã được giới hạn trong một khuôn khổ pháp lý hay chưa? Nói cách khác, đã đến lúc các lực lượng quản trị quốc gia, hàm nghĩa cả Đảng lãnh đạo hoặc Nhà nước thừa hành, phải lựa chọn một chỗ đứng có tính trung dung nhất: là thiết chế đại diện được ủy quyền phù hợp để điều hòa các mâu thuẫn. Điều này là sự thách thức thứ nhất của Đảng trong quy trình vận động của Việt Nam. Cách vô hiệu hóa quả bom này không phải chỉ đơn giản chỉ là lấp cát lên nó để không ai nhìn thấy.

Thách thức thứ hai là áp lực về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thông tin lan truyền theo tốc độ của sự tiến bộ về công nghệ truyền dẫn đã trang bị cho lòng yêu nước của người Việt Nam những chi tiết để soi sáng từng góc cạnh trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Dù có thể đã mai một nhiều đi trong khoảng gần một thế kỷ gần đây, nhưng không thể phủ nhận đã từng tồn tại ở Việt Nam một nền văn hóa nuôi dưỡng lòng yêu nước và một chủ nghĩa dân tộc rất bản lĩnh.

Trong khi các cấp lãnh đạo từ thượng tầng có vẻ như đã quay lưng lại với những tiếng nói yêu cầu một thái độ dứt khoát trong vấn đề chủ quyền biển đảo, thì trong môi trường hạ tầng, những tiếng thủ thỉ than oán về cách hành xử quá nhũn và nhu nhược của chính quyền đang nuôi dưỡng những căm giận. Thậm chí, nhiều cách đặt vấn đề đã được nêu ra mà tâm điểm chính là việc theo hay bỏ Trung Quốc với ý nghĩa là một mối quan hệ thuần phục liên quan đến việc còn Đảng hay mất Nước.Mâu thuẫn đã được nhận diện là, liệu Đảng có mâu thuẫn không khi chấp nhận mọi sự áp đặt ngày càng ít điều kiện từ phía Trung Quốc về mọi vấn đề mà quên đi rằng động cơ tồn tại của nước Việt Nam từ thời lập quốc luôn có một yếu tố cố định là thoát ra khỏi sự phong tỏa của gã hàng xóm tham lam và luôn nung nấu dã tâm đã thành thâm căn cố đế.

Đôi lúc, cách hành xử của nhà quản trị sẽ là định hướng cho các lực lượng đi theo khi họ nhận thức được rằng điều đó là thuận chiều với tư duy chung của tất cả. Nhưng không phải lúc nào người Việt Nam cũng tán thành cách cư xử của các nhà lãnh đạo trước áp lực của Trung Quốc. Thách thức của vấn đề này chính là chưa bao giờ người dân Việt Nam chấp nhận vị thế nô lệ của bất cứ một kẻ ngoại bang nào khác. Điều đó cho họ năng lực để theo dõi và đánh giá từng việc làm của Chính quyền Trung ương. Dù thơ ngây hay không thơ ngây khi các nhà cai trị ở thượng tầng làm ngơ trước việc Trung Quốc cướp quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Nam Việt Nam cũng là một tội lỗi không thể tha thứ. Quan hệ giữa chính quyền phía Bắc với chính quyền phía Nam có lẽ đã không tốt đẹp khi mỗi bên đại diện cho một ý thức hệ. Nhưng có điều gì đó để các nhà lãnh đạo miền Bắc quên đi một nguyên tắc của sự tồn vong cho một quốc gia như Việt Nam là: Khi bất cứ kẻ cướp nước nào xâm phạm phần lãnh thổ của mình dù chỉ là một cái chạm đầu tiên của mũi giày chúng, tất cả sẽ phải là người Việt Nam.

(Quan hệ giữa Trung Hoa lục địa và Đài Loan trong mối tương quan tranh chấp chủ quyền biển Nam Trung Hoa là một bài học tinh tế. Có thể Đài Bắc và Bắc Kinh đối lập với nhau về nhiều điểm liên quan đến kinh tế, văn hóa, thương mại… Nhưng họ hầu như không bao giờ lên tiếng phủ nhận khi bên kia tuyên bố chủ quyền trên các đảo trong khu vực tranh chấp).

Năm 2011, bất chấp sức ép từ Bắc Kinh lên bộ máy chính quyền Hà Nội, 11 cuộc biểu tình vẫn diễn ra liên tiếp nhằm thể hiện khát vọng được cất tiếng nói với thái độ cương quyết về vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Trước khi nó bị dập tắt bởi vô số mánh khóe của an ninh trong nước, một sự thức tỉnh mạnh mẽ cùng với nhiều thông tin đã được truyền đến người dân theo những lớp lang khá cụ thể. Gần đây nhất, khi các nỗ lực nhằm vinh danh và tưởng nhớ những anh hùng đã hy sinh trong cuộc chiến chớp nhoáng năm 1988 đều bị chính quyền ngăn chặn, làn sóng yêu nước vẫn ngấm ngầm tồn tại trên không gian Internet. Hiệu ứng và quy mô của chúng có lẽ đã lớn đến mức tất cả đều có thể nhận ra sẽ là một lời thách thức từ chính các nhà lãnh đạo đối với nhân dân của mình khi họ lựa chọn làm hài lòng Bắc Kinh và tiếp tục đàn áp những tiếng nói yêu nước chân chính của nhân dân.

Vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa chắc chắn sẽ không bị xóa đi theo cách nhân viên nghành an ninh trong nước bắt bớ, nạt nộ nhân dân để họ thôi đi biểu tình hoặc đấu tranh theo những phương pháp hòa bình. Ngay cả khi các chuyên gia an ninh dùng thủ đoạn xấu xa nào nhằm ngăn cản một cuộc gặp mặt của những người biểu tình hay một trận đá bóng giữa họ, mọi chuyện cũng sẽ chỉ làm tăng mối nghi ngờ về tác dụng của miếng bả mà Bắc Kinh đã ma lanh trộn vào. Xem ra, thách thức thứ hai cũng đã quá rõ. Việc quả bom nổ hay không nổ dĩ nhiên không phụ thuộc vào việc anh đặt đầu của nó quay về hướng Bắc hay hướng Tây.

Thách thức thứ ba: năng lực quản trị hữu hiệu

Việc xử lý các bị can trong vụ án Vinashin hôm 30/3 có thể đã làm hài lòng một vài người. Nhưng đó không phải là phương thuốc trị bệnh mà chỉ là một ít dầu xoa lên vết sưng do ung thư nội tạng. Cái xác chết Vinashin đang trôi nổi kia dù đã trở thành một sự cảnh báo về năng lực điều hành kinh tế và khả năng hoạch định chính sách duy ý chí, nhưng có vẻ nó chưa làm tỉnh ngộ hoặc làm chờn tay các nhóm lợi ích đang lợi dụng thao túng các tập đoàn nhà nước. Mỗi tập đoàn nhà nước kiểu Vinashin là một ngành độc quyền. Mỗi ngành độc quyền là một đầu mối nắm trong tay một mạch chủ nguồn lực quốc gia. Những kẻ thâu tóm các tập đoàn độc quyền trên thực tế là những kẻ sử dụng công cụ, khai thác nguồn lực quốc gia để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của mình hay phe nhóm mình.

Lần lượt những anh cả đỏ, những quả đấm thép đang chảy ra, trở nên loãng nhếch bởi trên thực tế chúng chỉ là công cụ cho một động cơ khác. Các tập đoàn này kể từ khi thành lập đã đảm nhận 2 nhiệm vụ trọng yếu:

- Nhiệm vụ thứ nhất: đầu tư mọi ngành chúng muốn hoặc nghĩ ra, gây lãng phí bất cứ cho mục đích gì mà chúng có thể làm. Chưa nói đến động cơ chính của việc làm này, chỉ nói đến việc những người chủ trương hiển nhiên không phải là các tay tốt thí như Phạm Thanh Bình và bộ sậu. Hiển nhiên là, họ không thể không biết việc làm này là sai. Ngay cả khi họ vì một hạn chế nào đó để không hiểu đó là sai, cũng đã có rất nhiều người tâm huyết nói cho họ biết điều ấy. Điều đó có nghĩa họ hoàn toàn có mục đích khi giành mọi quyết tâm để duy trì tình trạng lãng phí triền miên đó. Mục đích của chúng thực ra nằm ở nhiệm vụ quan trọng nhất kể ra sau đây.

- Nhiệm vụ thứ hai: làm ổ để vơ vét và tham nhũng. Thực chất, hai nhiệm vụ này không thể tách nhau ra được. Với những cơ chế hình thành, điều hành không minh bạch, các tập đoàn được hậu thuẫn về chính trị và tài chính đến kinh ngạc. Việc thành lập các Tập đoàn với mục đích như vậy thực tế cũng không căn cứ vào bất cứ một tiêu chí nào về hoạt động quản trị kinh doanh khoa học mà do ý chí và những động cơ khác hẳn. Không có thay đổi nào về các nhiệm vụ này ngay cả trước đó chúng tồn tại ở dạng các công ty vừa hoặc nhỏ do nhà nước kiểm soát. Điểm khác biệt thậm chí có thể làm chúng ta giật mình: Trước đây, họ tham nhũng bằng các công ty có quy mô 1 tỷ. Bằng cách góp 50 công ty 1 tỷ đó, họ sẽ có một công ty có quy mô 50 tỷ.

Quan hệ giữa hai nhiệm vụ như thế nào, thực ra không phải là một câu hỏi khó. Để tham nhũng và lại quả được 1 tỷ, họ sẵn sàng nhắm mắt bỏ qua mọi quy trình thẩm định một dự án 20 tỷ, bất chấp cái dự án đó có thể không bao giờ hoàn thành hoặc đó là một dự án để lại một đống sắt vụn như siêu khách sạn nổi "Hoa Sen" mà ông Bình được cho phép mua về.

Dù động cơ chính của việc thành lập và quản trị các tập đoàn kinh tế là thế nào thì điều đó cũng đang đặt ra vấn đề quản trị hữu hiệu và chống tham nhũng. Ở những chiều kích khác nhau, tham nhũng do duy trì một mô hình quản trị lỏng lẻo duy ý chí bản chất là sự cạnh tranh chia chác giữa các nhóm lợi ích. Sự hậu thuẫn của chính sách và việc gắn liền lợi ích giữa quan chức trong bộ máy chính quyền là nguyên nhân làm biến dạng tính chất của mối quan hệ xã hội này.

Yêu cầu cụ thể được đặt ra trong cuộc thương lượng ngầm này là Đảng phải cải thiện các thành tích phát triển, làm tăng mức sống giúp người dân đủ sức chống chọi lại các biến cố kinh tế. Nhưng quan trọng hơn, phải có một luật chơi mà chính Đảng phải tham gia với tư cách là một phần chứ không phải là quản trò hiện tại.

Thách thức thứ tư: cách ứng xử với sức ép quốc tế

Sự xuất hiện đều đặn hơn của người đứng đầu Chính phủ, Nguyễn Tấn Dũng tại các hội nghị CG (Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ) hàng năm nói lên điều gì? Vụ án động trời ở đại lộ Đông-Tây mà hệ quả là con tốt thí Huỳnh Ngọc Sỹ bị trảm; và động thái tiếp theo khi Chính phủ Nhật Bản tuyên bố cắt viện trợ vô thời hạn đã khiến tâm trạng của rất nhiều người bị bao phủ bởi nỗi xót xa tiếc nuối. Mặc dù sau đó, phía Nhật Bản đã tháo gỡ lệnh cắt viện trợ, nhưng các động thái trên đã cho thấy ở một mức độ nào đó sự phụ thuộc quá đáng của Việt Nam vào các nguồn vốn vay và viện trợ.

Kịch bản thường thấy nhất trong các sự kiện này chính là việc đại diện của nước chủ nhà tuyên bố họ cẩn trọng với tất cả các nguồn vốn vay hoặc viện trợ và coi đó là yếu tố quan trọng cho quá trình phát triển. Nhưng trên thực tế, đây không phải chỉ là câu chuyện về việc sử dụng các đồng vốn. Bản thân việc sử dụng các nguồn lực này cũng đáng quan ngại vì cùng một hệ thống xử lí, nếu như nguồn ngân sách trong nước bị làm thâm hụt do yếu kém chủ quan của bộ máy hấp thụ thì không có nghĩa các nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển không bị đối xử như vậy. Đi kèm với các cam kết tài trợ, đa phần người dân trong nước không đươc tiếp cận với các ràng buộc, trong đó bao hàm cả các điều kiện về cải thiện mô hình phát triển, cải thiện môi trường kinh doanh, thậm chí là cả yêu cầu cải thiện hồ sơ nhân quyền.

Trên thực tế, thông tin về kênh hỗ trợ này chỉ được tiết lộ ở mức độ tối thiểu. Chính phủ Việt Nam chưa có kế hoạch nào nhằm công khai các chi tiết liên quan đến việc chi tiêu nguồn lực này, đồng thời họ từ chối luôn việc thành lập những cơ chế cho phép giám sát và phản biện. Nói cách khác, đến lúc này, việc nhận về hàng chục tỷ USD từ các nhà tài trợ và tiêu dùng như thế nào vẫn chỉ là chuyện riêng giữa Chính phủ và bản thân các nhà tài trợ. Và gần như hội nghị hàng năm là thời điểm duy nhất họ trao đổi công khai các vấn đề đã được lựa chọn kỹ càng.

Sử dụng danh nghĩa nhân dân để kêu gọi hỗ trợ quốc tế cho các vấn đề hạ tầng, kỹ thuật và đào tạo, trong khi không có cơ chế kiểm soát đa chiều theo chuẩn mực luôn là vấn đề được đặt câu hỏi về độ trung thực và tính hiệu quả. Điều hoài nghi này trên bề mặt đã làm giảm đi tính nóng hổi của vấn đề, nhưng thực chất là một thủ thuật nhằm làm biến dạng tình hình. Nó phản ánh gần như trực diện thái độ và ý đồ của Chính phủ Việt nam trong cách ứng xử mà sự khác biệt là rất lớn. Một mặt, trước cộng đồng quốc tế là hình ảnh một Việt Nam nghèo đói và cần được giúp đỡ để cải thiện nội lực. Mặt khác, đối với nhân dân trong nước thì lảng tránh mọi câu hỏi cật vấn và cơ chế kiểm soát từ bên trong. Tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn vay và vốn tài trợ phát triển, bất chấp việc quy mô của chúng đang lớn lên từng ngày vẫn là một điều tuyệt mật đối với nhân dân và thậm chí cả các nhà tài trợ khi họ chỉ nhận được câu trả lời của các thiết chế mà Đảng đã cài đặt và lên chương trình rất kỹ lưỡng.

Tính từ năm 1992, thời điểm mà sau sự nới lỏng của Mỹ và cộng đồng quốc tế, World Bank (Ngân hàng thế giới – WB) được phép vào hoạt động tại Việt Nam nhằm hỗ trợ công cuộc Đổi mới. Hàng tỷ USD đã được đổ vào các công trình cơ sở hạ tầng và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, vẫn cần phải nói thêm nhiều lần nữa về cơ chế hấp thụ và kiểm soát mọi dòng vốn trong bối cảnh căn bệnh tham nhũng tràn lan trong cơ thể chính trị do Đảng kiểm soát. Cảnh báo từ năm 2004 của WB về quá trình tăng trưởng khiến cho ngày càng có nhiều người ít được hưởng lợi hơn đến nay vẫn không có cải thiện nào (Vietnam: Development Report 2004: Rapid economic growth won't be enough to eradicate poverty within the next few years. If the pro-poor nature of economic growth in Vietnam over the last decade provides good reasons to be optimistic, there are also clear signs that development is becoming less inclusive.)

Mẫu ví dụ điển hình cho việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển này có thể mô tả như sau: WB tài trợ cho một dự án cơ sở hạ tầng khoảng 500 triệu USD để làm một con đường dân sinh. Tuy nhiên, dưới khả năng phù phép của hệ thống, số tiền này, thay vì được đầu tư để làm một con đường trong một huyện nghèo phục vụ nhu cầu của nhân dân thì được rót vào đầu tư cho con đường vòng quanh một chiếc hồ ở Hà Nội, nơi có nhà ở của nhiều quan chức trong bộ máy chính quyền. Thậm chí, con số cụ thể về số tiền đầu tư một dự án như thế cũng không bao giờ được tiết lộ. Điều này dường như đã là một chuyện bình thường và không nên đặt lại vấn đề nữa.

Tựu trung lại, các vấn đề về tham nhũng và khả năng hấp thụ vốn không được minh bạch không phải là những vấn đề tách biệt. Nó cho thấy, động cơ lợi ích bị chi phối bởi các cánh hẩu đang khoét sâu đến mức không thể kiểm soát khoảng cách giàu nghèo trong một quốc gia. Câu hỏi đặt ra là, sự việc sẽ còn là chuyện nội bộ của Việt Nam trong bao lâu nữa khi mà hoạt động kinh tế trong nước đang tỏ ra quá yếu kém và đã dần được nuôi dưỡng bởi cách bình oxy đặt bên cạnh?

Khi chính quyền trung ương ở cấp thượng tầng theo đuổi chiến lược nuôi dưỡng một bộ phận thân tín gắn liền với lợi ích của chính họ và bỏ quên một cách chủ ý các nhóm lợi ích yếu thế là một biểu hiện cho thấy họ đang nuôi dưỡng động cơ xung đột xã hội. Nó cũng cho thấy một thái độ ứng xử thiếu suy nghĩ một cách chủ quan đối với sức ép của cộng đồng quốc tế vì sớm hay muộn, cách làm việc thiếu minh bạch đó sẽ dẫn đến một số hệ quả không mong muốn: Thứ nhất, nó sẽ khiến cho các nhà tài trợ trở nên hoài nghi và hết kiên nhẫn; Thứ hai, đó là cách thức không thể tốt hơn để từ chối mọi cơ hội thực sự nghiêm túc để phát triển nội lực quốc gia. Và thứ ba, hãy hình dung một bối cảnh mà các điều kiện để có được nguồn vốn từ bên ngoài ngày càng rõ ràng xu hướng buộc chính quyền do Đảng lãnh đạo phải thay đổi các ưu tiên phát triển; trong khi lòng kiên nhẫn của nhóm lợi ích bị bỏ quên đang đi đến giới hạn chịu đựng cuối cùng.

Thách thức thứ năm: Giải Hoa và Phi Hoa

Áp lực từ phía Trung Quốc đối với tiến trình chính trị của Việt Nam hiện tại là một biến tướng nguy hại trong mối quan hệ giữa hai nước. Ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử của Trung Quốc lên các quốc gia lân cận hiển nhiên không phải là vấn đề phải bàn cãi. Nhưng trước hết, Trung Quốc và Việt Nam dù là "hàng xóm liền vách" hay "đồng chí bốn tốt" thì đây vẫn là hai quốc gia cụ thể, hai đất nước cụ thể có lộ trình phát triển riêng. Thách thức thứ năm thoạt nhìn có vẻ vẫn là một ẩn số, nhưng nó không biểu hiện một cách mơ hồ mà phụ thuộc chủ yếu vào thái độ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong ứng xử với Trung Quốc. Mèo có thể chơi với chuột, nhưng cuối cùng mèo sẽ ăn thịt chuột, vì đó là bản năng của nó.

Con đường phát triển của Việt Nam, dù có thể có thêm nhiều lí giải nữa về các yếu tố "cần" và "phải" làm gì đó, nhưng suy cho cùng mấu chốt cũng chỉ có một điểm duy nhất: Thoát Trung. Cục diện quan hệ hiện tại, nhìn từ bên trong, là hệ quả của một quá trình nhầm lẫn giữa ý thức hệ với quyền lợi quốc gia dân tộc. Nhìn từ bên ngoài, Việt Nam trên thực tế đang là một quân bài mà Trung Quốc muốn sử dụng triệt để nhằm hiện thực hóa tham vọng bá quyền của mình. Đây chính xác là một gọng kìm khiến Việt Nam hầu như đã bỏ lỡ tất cả những cơ hội tuyệt vời nhất để vươn mình lên trở thành một nhân tố tích cực trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về các giá trị phổ quát.

Thứ nhất, về sự nhầm lẫn giữa ý thức hệ với quyền lợi quốc gia.Nhầm lẫn tai hại của các thế hệ lãnh đạo cấp thượng tầng trong Đảng là đã cố tình làm sai lệch vị trí của hai vấn đề này, thậm chí đã có lúc gộp nó thành một. Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào, thậm chí cả Mỹ dưới nhiều hình thức, không phải là một kẻ mơ hồ trong hành động. Là một quốc gia, họ luôn ý thức được lợi ích của đất nước họ mới là giá trị bất biến. Việc thực hiện một phương thức nào hay lựa chọn phương thức là cách họ biểu hiện ra bên ngoài trình độ và ý thức cộng đồng của họ. Điều này thay đổi theo hoàn cảnh chứ tuyệt nhiên không phải là sự minh chứng cho lòng tốt và cố định.

Năm 1978, khi Trung Quốc thay đổi bằng một cuộc cải cách, bản thân họ đã ý thức được các nguy cơ khi tiếp tục theo đuổi câu chuyện viển vông và ngu xuẩn vào cái mà họ gọi là Xã hội Chủ nghĩa. Trung Quốc từ thời điểm đó đã chính thức trở thành một quốc gia theo đuổi mô hình kinh tế thị trường tự do dưới cái áo khoác mang tên "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc". Không phải ngay lập tức, nhưng những đòi hỏi và sức ép bên trong cũng khiến Việt Nam nhận thức ra vấn đề. Cuộc Đổi mới khởi sự năm 1986 cho thấy những biến chuyển ở Việt Nam cũng là một sức ép. Nhưng điều đáng tiếc, trong hành động này, các nhà lãnh đạo cao nhất đã từ chối chấp nhận thực tế rằng, sức ép đó là giành cho vận mệnh của dân tộc. Họ chỉ thừa nhận thông qua hành động của mình rằng, sự thay đổi đó là cần thiết cho việc duy trì vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đây là một điểm yếu mà ngay lập tức Trung Quốc đã nhận ra và khai thác triệt để. Sẽ không phải là thượng sách nếu bộ máy lãnh đạo của Việt Nam đồng lòng với nhân dân trong nước đang khao khát thay đổi cục diện. Một mặt, bằng các chiêu thức ngoại giao cao tay, Trung Quốc vô hiệu dần dần các đồng minh của Việt Nam và kéo hẳn nó vào lòng mình. Mặt khác, Trung Quốc tạo ra cảm giác họ đang đồng hành với Việt Nam trong bối cảnh cả hai nước đồng hành trên con đường xây dựng XHCN. Thực tế đã cho thấy, trong một quốc gia, sự không đồng lòng giữa lãnh đạo tối cao và nhân dân sẽ khiến cho sức mạnh của họ suy yếu. Duy trì được sự suy yếu đó, nghĩa là khoét sâu được mâu thuẫn giữa thượng tầng và hạ tầng sẽ tạo ra được một nước Việt Nam tồn tại ở dạng "đầu Ngô, mình Sở" và dễ dàng thao túng. Chỉ cần can thiệp được vào nội tình Việt Nam và khống chế được bộ máy cai trị, sự đối nghịch nội bộ sẽ khiến Việt Nam luôn ở trong tình thế bị nội thương và luôn èo uột. Thắng được nước cờ này, Trung Quốc đã yên tâm hơn để thi triển những ngón đòn khác trong một tình thế mà Việt Nam không còn khả năng kháng cự.

Thứ hai, Việt Nam như là một quân tốt trên bàn cờ Trung Quốc đang đấu lại với phần còn lại của thế giới. Sự phát triển bất chấp các quy luật và bài học về đạo đức của Trung Quốc đã biến nó thành mối lo ngại của thế giới. Khó có thể nói nhân dân Việt Nam, thậm chí cả một số nhà lãnh đạo cao nhất trong Đảng lại không nhận ra mối lo ngại này (lập trường của VN trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN vừa mới đây mách với ta điều đó). Làn sóng phản đối Trung Quốc lẽ ra đã biến thành một cơn sóng thần đủ sức làm thay đổi nhiều thứ liên quan đến vận mệnh đất nước nếu như nó không bị ngăn chặn sau khi đã diễn ra trong suốt 11 tuần liền ở Hà Nội và một phần thành phố Hồ Chí Minh.

Như đã nói, sự bành trướng của chủ nghĩa bá quyền đã làm thay đổi quan điểm của nhiều quốc gia trong mối quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt là các nước láng giềng. Nói cách khác, thậm chí những tham vọng không biết điều của nước này đã biến nó thành kẻ thù hoặc ít nhất là một mối nguy hiểm thường trực của đa số các nước láng giềng. trên thực tế, trong khoảng 10 năm tính đến 2012, cả Ấn Độ, Nhật Bản, Mông Cổ, Nga, Nhật Bản đã có những động thái nhìn nhận gã khổng lồ đang trỗi dậy bằng con mắt nghiêm khắc và đầy quan ngại. Việt Nam, trong tình huống đã từ bỏ khả năng phản xạ đó, trở thành hướng đi khả dĩ nhất cho con đường bành trướng quyền lực xuống phía Nam, ra Thái Bình Dương qua hướng biển Đông. Đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất buộc Trung Quốc phải khắc chế để Việt Nam không trở thành một chướng ngại vật. Điều đó cũng là một sự khẳng định về việc Trung Quốc sẽ cảm thấy bất an như thế nào nếu Việt Nam thực sự là một quốc gia giàu mạnh và có tiếng nói trung lập.
Như vậy, thách thức thứ năm, cũng là thách thức lớn nhất của Đảng cộng sản Việt Nam chính là việc nó có thực sự mong muốn thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc hay không. Giải Hoa, Phi Hoa, trong đa số trường hợp được sử dụng như một ngữ nghĩa học thuật. Nhưng trong bối cảnh này, nó là giải pháp ứng xử chính trị có tính quyết định đến việc khẳng định lý do tồn tại của Đảng trong lòng xã hội Việt Nam. Suy cho cùng, các biện pháp tuyên truyền hay hào quang trong quá khứ không thể mãi là thành trì và cũng không đủ vững vàng đảm bảo cho một vị trí lãnh đạo của Đảng nữa. Sự tồn tại của nó trong tương quan với quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tuyệt nhiên cũng không phải là yếu tố có tính quyết định mà bản thân Đảng phải nhận thức. Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chính danh trong chính đất nước mà nó được sinh ra và tự nhận là đại diện. Mất tính chính danh đi là mất tất cả.

Kết luận: Vẫn chưa quá muộn để thay đổi.

Sự tồn tại của quốc gia Việt Nam, từ thưở khai quốc, tuyệt nhiên không phụ thuộc vào một triều đại, một hệ tư tưởng lãnh đạo, hoặc một đảng phái nào. Không có một triều đại, không có một hệ tư tưởng lãnh đạo hoặc một đảng phái nào là sự bảo đảm duy nhất cho tiến trình đó. Chỉ có ở trong bản chất một nền văn hóa nuôi dưỡng lòng yêu nước chân chính, một chủ nghĩa dân tộc bản lĩnh và khao khát theo đuổi lợi ích dân tộc là những yếu tố không thể bị đánh cắp hoặc tráo đổi.

Đã đến lúc từ bỏ tất cả những gì không phù hợp cho hệ quy chiếu này để tham gia vào cuộc chạy đua cùng nhân loại. Đã đến lúc từ bỏ, ngay cả khi đó từng là một ý thức hệ thiêng liêng và nhìn lại nguyên nhân của mọi yếu kém, xấu xa hiện tại để đặt ra những vấn đề có tính hiện thực và chân giá trị hơn. Hãy thực sự nghiêm túc với nhau, với chính mình để trả lời cùng nhau những câu hỏi mà việc giải đáp nó bằng sự quyết tâm đích thực sẽ giúp tìm ra được bí quyết đưa đất nước đi lên: Còn bao nhiêu trẻ em chưa thực sự được đến trường, chưa được chăm sóc bằng tình thương yêu và sự nghiêm khắc của đạo đức và tinh thần nhân văn? Còn bao nhiêu người dân trong nước chưa được tiếp cận thông tin từ thế giới, được học tập để có tay nghề, được hưởng một cuộc sống tinh thần thoải mái, thanh thản, được tôn trọng các quyền cơ bản và không sợ bị bỏ tù khi bày tỏ chính kiến. Và họ, với tư cách là chủ nhân đất nước và khai sinh của quyền lực quốc gia đã hoặc có được tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến sinh mệnh của dân tộc hay chưa? Và sau hết, xin hãy tự hỏi liệu đất nước mình đã có những bước tiến như thế nào so với chính mình và các nước khác về lòng nhân ái, tình yêu thương và sự tin cậy của người dân các quốc gia khác trên hành tinh này?

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

THÔNG TƯ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PHẬT LỊCH 2556


PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất BP 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) Tel.: Paris (1) 45 98 30 85<br> Fax : Paris (1) 45 98 32 61 E-mail : pttpgqt@gmail.comPHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com


THÔNG CÁO BÁO CHÍ NGÀY 4.4.2012

Thay mặt Viện Hóa Đạo, Hòa thượng Thích Như Đạt gửi Thông tư Đại lễ Phật Đản 2556 


2012-04-04 | | PTTPGQT

PARIS, ngày 4.4.2012 (PTTPGQT) - Để chuẩn bị tinh thần cho Đại lễ Phật Đản 2556 năm nay (Rằm tháng Tư âm lịch, tức 5.5.2012), Hòa thượng Thích Như Đạt, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, thay mặt Viện Hóa Đạo gửi Thông tư đến chư Tôn đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử các giới.

Hòa thượng nhận thức hiện tình thế giới "Như một cơn lốc thời đại, vạn vật đang nằm trên chảo lửa chiến tranh, âm ỉ từ Châu Phi, qua Trung Đông và tràn đến Châu Á Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam đang đối mặt với ngàn năm nô lệ Bắc phương (…) Mùa Phật Đản năm nay, Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lấy phương châm thượng báo Tứ Trọng Ân nhằm góp phần hóa giải đại nạn của Dân Tộc".

Kết thúc Thông tư, Hòa thượng nhắc lời dạy của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ về yếu tính của Đạo Phật Việt Nam: "Với tinh thần giải phóng tự kỷ và tịnh hóa nhân gian, Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam, đưa Dân Tộc bước lên đường Văn Hiến như một khẳng định của Trí Tuệ, Từ Bi và Bình Đẳng. Thời cuộc có thịnh có suy nhưng Đạo Phật chưa bao giờ có thăng trầm trong đại nguyện cứu khổ, mà cứu khổ là đưa con người đến bờ Tự Do và Giải Thoát".
http://queme.net/vie/index_detail.php?numb=1812
Sau đây là toàn văn Thông tư Đại lễ Phật Đản 2556 của Hòa thượng Thích Như Đạt:


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện
VP: Chùa Giác Hoa – 15/7 Nơ Trang Long – Phường 7 – Quận Bình Thạnh
Sài Gòn

Phật lịch 2555
Số : 04/VHĐ/TT


THÔNG TƯ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PHẬT LỊCH 2556
------------------------------
VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO GHPGVNTN


NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính gởi: - Chư Tôn Giáo Phẩm Hội Đồng Lưỡng Viện. - Văn Phòng II Viện Hóa Đạo - Các Ban Đại Diện GHPGVNTN trên toàn quốc. - Chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni. - Đồng Bào Phật Tử các giới.

Kính bạch Chư Tôn Đức,
Kính thưa quí liệt vị

Lại một mùa sen nở, một mùa Đản Sinh lại về. Ánh sáng chân lý xuất hiện, cõi kham nhẫn được giải thoát, muôn loài chúng sinh được giác ngộ.

Trên 2500 năm đã trôi qua, vì nghiệp lực của chúng sanh, bao nhiêu chủ thuyết ra đời, bao nhiêu cuồng vọng ý thức hệ đã đưa nhân loại vào hoang tàn đổ nát cả tinh thần lẫn vật chất, riêng Đạo Phật vẫn là suối nguồn từ bi và trí tuệ xoa dịu mọi đau khổ của thế gian. Chính vì thế mà Liên Hiệp Quốc đã vinh danh ngày Đản Sinh của Đức Phật là ngày "tịnh hóa nhân gian".

Như một cơn lốc thời đại, vạn vật đang nằm trên chảo lửa chiến tranh, âm ỉ từ Châu Phi, qua Trung Đông và tràn đến Châu Á Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam đang đối mặt với ngàn năm nô lệ Bắc phương.

Ý thức được điều đó, nhân mùa Phật Đản năm nay, Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lấy phương châm thượng báo Tứ Trọng Ân nhằm góp phần hóa giải đại nạn của Dân Tộc:

1/. Đối với ân đức của Tam Bảo, người Phật Tử phải tinh tấn tu học trong tinh thần tự giác và giác tha để đưa Chánh Pháp vào thế gian nhằm loại trừ chủ nghĩa ngoại lai, độc tài toàn trị, đã gieo rắc điêu linh khốn khổ lên 85 triệu người dân Việt trên ba phần tư thế kỷ cho đến hôm nay.

2/. Đối với ân đức của Cha Mẹ, người Phật Tử phải phát huy tinh thần Phật Hóa Gia Đình nhằm xây dựng một thế hệ tương lai đang đứng trên bờ diệt vong của đạo đức và luân lý do chủ nghĩa duy vật cố tình nhấn chìm truyền thống của tổ tiên.

3/. Đối với ân đức Quốc Gia dân tộc, người Phật Tử phải tích cực phát huy tinh thần vô úy, noi gương các bậc Thiền sư Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh… để dấn thân vào việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ các quyền căn bản của con người, nhất là những người đang bị tù đày vì đấu tranh cho nhân quyền, tự do và dân chủ, bảo vệ những người dân oan đang chịu cảnh lầm than vì chủ nghĩa phi nhân mà trong đó Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chúng ta cũng là một tập thể Dân Oan khốc liệt nhất.

4/. Đối với vạn loại chúng sanh, người Phật Tử phải thể hiện mối tương quan tương duyên trong đời sống, cương quyết bảo vệ tài nguyên, môi trường mà những kẻ cầm quyền đang bán đứng cho ngoại bang để trục lợi và làm giàu cho đảng phái thống trị, bỏ mặc sự khổ đau của toàn dân.

Vì những bản hoài ấy mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất luôn luôn là đối tượng của những sự đàn áp , khủng bố, giam cầm bất chấp luật pháp và đạo lý trong suốt 37 năm trời mà điển hình nhất là những sự cố vừa xảy ra tại Mai Vĩnh, Phước ThànhKim Quang (Thừa Thiên Huế) Tịnh Xá Bửu Đức (Đồng Nai) và nhất là tình hình tại Chùa Giác Minh (Quảng Nam Đà Nẵng) vẫn luôn luôn bị công an, dân phòng bao vây, nội bất xuất ngoại bất nhập còn hơn một nhà tù giam giữ người tử tội.

Kính bạch Chư Tôn Đức
Kính thưa Quí Liệt Vị.

Trước phương châm nêu rõ mục tiêu của Viện Hóa Đạo, trước tình hình thực tế của Pháp Nạn và Quốc Nạn nêu trên, nhân mùa Phật Đản năm nay Viện Hóa Đạo kêu gọi Phật Tử mọi giới thực hiện các yêu cầu sau đây:
1/. Đối với bản thân:

- thực hiện tuần lễ chay tịnh từ mồng 8.4 âm lịch cho đến 15.4 âm lịch, thanh tịnh thân tâm để nâng cao năng lượng tâm linh, góp phần xây dựng xã hội, hàn gắn những đổ nát vì các thế lực vô minh tạo tác.

- tham gia các khóa lễ, các công tác từ thiện do địa phương tổ chức.

2/. Đối với các tư gia:

- Trang thiết bàn Phật trang nghiêm, treo cờ, thắp đèn để tưởng nhớ ân đức của Đấng Giác Ngộ.

- Khuyến khích con em tham gia các Phật Sự trong mùa Phật Đản.

3/. Đối với các Chùa, các Tịnh Thất, Tu Viện:

- Tổ chức các khóa Kinh, Tu Bát Quan Trai để bổn đạo được góp phần công đức cúng dường Tam Bảo.

- Trang trí với ý nghĩa thiết thực nhất nói lên ý nghĩa Đản Sanh.

4/. Đối với các Ban Đại Diện GHPGVNTN tại các Tỉnh, Thành:

- Tùy theo hoàn cảnh địa phương, cố gắng thiết lập Lễ Đài đơn giản nhưng trang nghiêm và thanh tịnh để đồng bào Phật Tử Địa Phương được chiêm bái và hành lễ.

- Nếu có điều kiện nên tổ chức các công tác từ thiện và ủy lạo các cá nhân và gia đình đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc.

- Tổ chức tuần lễ Cầu Nguyện Quốc Thái Dân An từ ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch, Khai Kinh và luân phiên tụng niệm cho đến ngày Đại Lễ Phật Đản.

Kính Bạch Chư Tôn Đức và Kính thưa Liệt Quí Vị

Ngày Phật Đản cũng là ngày mở đầu cho một mùa An Cư Kiết Hạ, là cơ hội Chư Tăng trưởng dưỡng thân tâm, nâng cao Giới Học, Định Học và Tuệ Học để xứng đáng là trưởng tử Như lai trong công cuộc Hoằng Pháp Độ Sinh.

Đặc biệt Nhâm Thìn năm nay nhuần hai tháng tư, cho nên tháng tư nhuần Chư Tăng, Ni sẽ vào An Cư Kiết Hạ.

Mùa An Cư Kiết Hạ cũng là mùa hoan hỷ của giới Cư Sĩ, được thể hiện sự cúng dường Chánh Pháp qua công cuộc hộ trì chư Tăng hoàn thành sứ mạng trong giới trường thanh tịnh.

Vì vậy Viện Hóa Đạo mong mỏi các Ban Đại Diện, các Tổ Đình, các Tự Viện, các chúng Cư Sĩ Phật Tử nỗ lực kiến tạo một mùa An Cư với đầy đủ ý nghĩa trong giai đoạn hiện tại.

Sau hết, Viện Hóa Đạo xin trùng tuyên lời dạy của Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trong Đạo Từ Phật Đản PL 2549, lúc Ngài còn đảm trách Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, để Tứ Chúng phụng hành:

Với tinh thần giải phóng tự kỷ và tịnh hóa nhân gian, Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam, đưa Dân Tộc bước lên đường Văn Hiến như một khẳng định của Trí Tuệ, Từ Bi và Bình Đẳng. Thời cuộc có thịnh có suy nhưng Đạo Phật chưa bao giờ có thăng trầm trong đại nguyện cứu khổ, mà cứu khổ là đưa con người đến bờ Tự Do và Giải Thoát.

Ngưỡng mong Chư Tôn và Phật Tử hoan hỷ đón nhận Thông Tư Phật Đản nầy trong tinh thần Hộ Pháp, Hộ Quốc và Hộ Dân.

NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT

Phật Lịch 2556, Giác Hoa ngày 01 tháng 3 năm Nhâm Thìn
(22.3.2012)
TUN. Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN
Phó Viện trưởng
kiêm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự
(ấn ký)
SA MÔN THÍCH NHƯ ĐẠT

05 April 2012

Con hổ nguy hiểm



Con hổ nguy hiểm

Nguyễn Hưng Quốc

Trung Quốc là một con hổ cô đơn nhưng cũng là một con hổ cực kỳ nguy hiểm. Chuyện Trung Quốc có tấn công, xâm lược hay lấn đất (kể cả đảo) của nước nào hay không thì còn chờ xem. Trước mắt, tính chất nguy hiểm của Trung Quốc nằm ở chỗ: nó thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang mới ở châu Á và Thái Bình Dương.

Trước, thời chiến tranh lạnh, cả thế giới cũng đã từng chạy đua vũ trang. Nhưng thời đó, chạy đua ráo riết nhất là ở châu Âu và Mỹ. Ở châu Á, nơi có nhiều điểm nóng với những cuộc chiến tranh đã bùng nổ và kéo dài dữ dội (như ở ba nước Đông Dương) hoặc chỉ ngấm ngầm âm ỉ (như ở Philippines, Indonesia, Malaysia…), phần lớn chỉ nhận vũ khí viện trợ từ các siêu cường hoặc bên này hoặc bên kia.

Bây giờ thì khác. Hầu hết các quốc gia phải tự bỏ tiền ra mua vũ khí. Theo số liệu điều tra do Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (Stockholm International Peace Research Institute) công bố, so với bốn năm 2002-2006, chi tiêu cho việc nhập khẩu vũ khí ở châu Á trong bốn năm 2007-2011 tăng đến 185%. Trong cuộc chạy đua vũ trang ấy, đứng đầu là Trung Quốc, kế đến là Ấn Độ và Nhật Bản. Tiếp theo là Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Indonesia. Đặc biệt, ngay cả Việt Nam cũng tham gia vào cuộc chạy đua vô cùng tốn kém ấy.

Một sự khác biệt nữa giữa hai cuộc chạy đua vũ trang là, nếu cuộc chạy đua vũ trang thời chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô chủ yếu là cuộc chạy đua chiếm lĩnh không gian (space race) với những vũ khí như vệ tinh hay hỏa tiễn liên lục địa - kể cả chuyện bay lên mặt trăng - thì cuộc chạy đua vũ trang lần này chủ yếu nhắm đến việc hoặc khống chế hoặc kháng cự trên mặt biển (sea race).

Trong các loại vũ khí trên biển, nổi bật nhất là tàu ngầm (submarine). Vai trò của tàu ngầm càng ngày càng trở nên quan trọng. Ví dụ, theo kế hoạch cho thập niên tới, Úc có cả thảy 23 chiến thuyền; 12 trong số 23 chiến thuyền ấy sẽ là tàu ngầm. Nói cách khác, sắp tới, tàu ngầm chiếm hơn một nửa tổng số chiến thuyền của Úc. Đó cũng là chiều hướng phát triển chung của hầu hết các quốc gia trong khu vực. Ấn Độ, Hàn Quốc và Việt Nam lên kế hoạch mỗi nước mua 6 chiếc tàu ngầm cho mình. Nhật Bản cũng mới quyết định sắm thêm 5 chiếc tàu ngầm ngoài những chiếc họ đã có. Singapore, Malaysia và Indonesia mỗi nước sẽ mua thêm hai chiếc. Theo dự tính, trong vòng 20 năm tới, toàn bộ các nước Á châu sẽ có cả thảy khoảng 111 chiếc tàu ngầm.

Nằm ngoài rìa Á châu, nước Úc cũng tham dự vào cuộc chạy đua sắm sửa tàu ngầm. Hiện nay Úc đã có 6 chiếc; tất cả đều đã cũ. Chính phủ Úc mới quyết định sẽ mua thêm 12 chiếc tàu ngầm mới để thay thế cho sáu chiếc cũ ấy.

Xin lưu ý tàu ngầm rất mắc tiền. Số tiền Việt Nam bỏ ra để mua mấy chiếc tàu ngầm của Nga lên đến 2.4 tỉ đô-la. Ngân sách cho dự án sắm thêm 12 chiếc tàu ngầm cùng với các loại vũ khí ở mặt trận trên biển của Úc là 279 tỉ đô-la. Tiền bảo trì lại càng đắt. Chi phí bảo trì cho sáu chiếc tàu ngầm của Úc hiện nay, chẳng hạn, trung bình là 630 triệu mỗi năm, tức khoảng 105 triệu đô-la cho mỗi chiếc. Chi phí vận hành và hỗ trợ cũng bằng chừng ấy nữa.

Có thể nói một cách tóm tắt, hiện nay hầu như tất cả các nước châu Á và phần nào, Thái Bình Dương – trung tâm là Úc – đang thi nhau đổ cả hàng tỉ Mỹ kim vào cuộc chạy đua vũ trang, chủ yếu là trên mặt biển. Ngay Ấn Độ vốn thường xuyên đương đầu với các cuộc tranh chấp biên giới với Trung Quốc và Pakistan trên đất liền cũng bắt đầu gia tăng tiềm lực quân sự trên đường biển, một điều chưa từng có trong quá khứ. Họ không những mua tàu ngầm mà còn chi ra trên 2.1 tỉ đô-la để mua các loại vũ khí chống tàu ngầm trong năm 2009. Mới đây, họ còn quyết định mua them một số chiếc nữa.

Tại sao như vậy?

Thật ra, trước mắt, chưa có quốc gia nào thực sự bị đe dọa. Ngày trước, thời chiến tranh lạnh, hầu như nước nào cũng bị đe dọa. Các nước cộng sản lúc nào cũng hăm he đòi xuất khẩu cách mạng. Ai cũng sống trong tâm thế chực chờ nổ súng. Chỉ cần một chút bất cẩn là có thể bị mất nước ngay tức khắc. Còn bây giờ thì khác. Ở châu Á, trừ Ấn Độ và Pakistan, hầu như không có nước nào dương oai diễu võ với nước khác. Ngay quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc dù vẫn thường xảy ra hục hặc trên Biển Đông nhưng hai chính phủ vẫn nhắc đi nhắc lại những chữ như "hòa bình" và "hữu nghị".

Hơn nữa, cuộc chạy đua vũ trang ấy lại diễn ra khi Mỹ công bố quyết định cắt giảm ngân sách quốc phòng đến 78 tỉ đô-la trong vòng năm năm tới.

Vậy tại sao người ta đua nhau trang bị tàu ngầm và hỏa tiễn?

Lý do rất đơn giản: Vì sợ Trung Quốc! Theo tin tình báo Mỹ, hiện nay Trung Quốc đã có 62 tàu ngầm; 15 chiếc khác cũng sẽ được đưa vào hoạt động trong vài năm tới. Như vậy, trong tương lai gần, Trung Quốc sẽ có tổng cộng 77 chiếc tàu ngầm. Với con số đó, Trung Quốc có tham vọng tung hoành trên các đường biển ở khu vực, không chế toàn bộ các tuyến đường hàng hải thương mại, và có thể tiến hành các cuộc tấn công vào rất nhiều nước thuộc châu Á và Thái Bình Dương.

Không có nước nào có ảo tưởng là mình có thể cạnh tranh được với Trung Quốc ở mặt trận này. Ngay cả những nước giàu có như Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc cũng không thể hy vọng có số lượng tàu ngầm ngang hàng với Trung Quốc. Các nước có ảnh hưởng trực tiếp từ tham vọng bá quyền của Trung Quốc trên đường biển như Việt Nam, Philippines, Malaysia… lại càng không hy vọng gì.

Thế nhưng tất cả vẫn tham gia vào cuộc đua. Để chỉ chứng tỏ một điều: Họ đang cảnh giác. Vậy thôi.
Mà trước một con hổ hung dữ như Trung Quốc, không có sự cảnh giác nào là không cần thiết.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/con-ho-nguy-hiem-04-03-2012-145971215.html

NHỮNG NGÀY THÁNG KHỔ SAI CỦA NGƯỜI TÙ CẢI TẠO



NHỮNG NGÀY THÁNG KHỔ SAI CỦA NGƯỜI TÙ CẢI TẠO

Lão Ngoan Đồng

Tôi không phải là một văn sĩ, cũng không phải là một người viết báo, lại càng không phải là người chuyên làm phóng sự. Tôi chỉ là một quân nhân bình thường trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong bài hồi ký nầy, tôi chỉ muốn ghi lại những gì đã làm cho một quân nhân không thực hiện được trọn vẹn lời thề cho Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm, mà đành phải chịu muôn vàn sĩ nhục của kẻ thù.

Những dòng chữ mộc mạc sau đây là những nỗi niềm bi hận của chính bản thân tôi, nếu không ở trong hoàn cảnh đó, khó có thể tưỡng tượng nỗi, mong được những người đồng cảnh ngộ chia xẻ.

***

Khoảng đầu tháng 6 năm 1975, vào lúc giữa trưa, trong một ngôi nhà mà tôi đang lẩn trốn, ở một vùng quê trên bờ sông Cữu Long, hai tên bộ đội du kích xã, tay cầm súng AK trong vị thế sẵn sàng, xông vào nhà với vẽ mặt như muốn ăn tươi nuốt sống người khác, ra lệnh :" bốn tên sĩ quan ngụy quân trốn cải tạo ra đây, để tụi tao đưa bọn bây đi học tập cải tạo" (bốn tên ở đây là 4 anh em tôi). Chúng tôi được bọn nó đưa đến khám lớn Vĩnh Long, đã có sẳn ba, bốn trăm người, và nghe những người vào khám trước tôi, nói rằng đã có 2 người hồi chánh và một sĩ quan VNCH đã bị xử tử tại sân vận động Vĩnh Long. Kể từ ngày đó, anh em chúng tôi đã ở vào cảnh ngộ cá chậu chim lồng, không biết số phận mình sẽ ra sao?

Sau khoảng thời gian gần 2 tháng, anh em chúng tôi bị phân tán mỗi người một nơi. Riêng tôi cùng với khoảng 100 Huynh Đệ khác, "được" bọn cai tù di chuyễn đến một nơi mà bọn chúng gọi là "trại cải tạo lao động", trại nầy nằm bên kia bờ kinh của chợ xã Ngã Tư Nhà Đài (thuộc quận Vũng Liêm,Vĩnh Long). Kể từ đó, tôi đã trãi qua những ngày đau khổ nhục nhằn của một người tù cải tạo.

Chung quanh trại nầy vài cây số, là những khoảnh ruộng của những người dân địa phương đang thời kỳ cần làm cỏ lúa. Bọn cai tù đến các chủ ruộng đó lãnh làm cỏ ruộng mướn. Tiền của dân trả, chúng bỏ túi, việc cắt cỏ lúa chúng bắt anh em tù cải tạo phài làm. Người nông dân cắt cỏ lúa bằng những dụng cụ đặc biệt (dao bứng mạ hoặc cây phảng), nhưng bọn Việt cộng gian ác không cho làm như vậy kể cả một thanh gỗ. Bắt tù cải tạo phải dùng những ngón tay xương xẩu của mình đào sâu xuống gốc để móc cỏ lên. Động tác nầy lập đi lập lại hàng trăm, ngàn lần mỗi ngày, khiến cho những đầu ngón và khâu móng tay bị rách, bị trầy mà không có thuốc chữa. Nhiều anh em tay bị nhiễm trùng, các đầu ngón tay bị sưng mủ, ung thúi. Có vài người bị thương quá nặng, bọn chúng phải đưa đến nhà thương để cắt bỏ những ngón tay đó đi.

Có một khoảnh ruộng khoảng 10 công đất (1 hecta), mà người chủ chưa thể dọn đất sẳn sàng để cấy lúa, bọn cai tù nhận làm mướn công việc dọn đất, đó là công việc của "người thay trâu". Việc trước tiên là cắt cỏ lát, chúng lại bắt anh em tù cải tạo làm cỏ bằng tay, sau đó là phải trục và bùa đất ruộng. Để thay thế trâu hay bò kéo, chúng bắt 2 anh em tù cải tạo vát cái "ách" trên cổ đi phía trước, với 2 sợi dây dài buộc vào 2 đầu cái ách kéo theo cái trục hoặc cái bừa phía sau, được đẩy tiếp sức bằng 2 người tù cải tạo khác. Nhìn cảnh ấy thật là bi thương và lòng đầy căm phẫn, nhưng không ai dám nói lời nào, vì luôn luôn có nhiều tên bộ đội đứng vây quanh chúng tôi, súng AK hướng về những người tù cải tạo, sẵn sàng nổ súng nếu có xáo trộn gì.

Ở tại trại Ngả Tư Nhà đài làm trâu kéo cày khoảng hơn 2 tháng, không còn việc khổ sai nào khác, bọn Việt cộng di chuyễn chúng tôi đến một đia điểm cách đó khoảng chừng 5 cây số (5 km) gọi là chợ Thầy Phó Giang. Bên hông chợ có một con kinh là kinh Ngã Co, chúng cho chúng tôi trú ngụ trong những nhà của dân dọc theo bờ kinh, cách xa chợ khoảng 2 Km, hai người một nhà, còn bọn chúng, quân số khoảng một trung đội (trên 20 người) ở rải rác,bao vây ba mặt chung quanh chúng tôi. Vùng nầy trước đây là vùng xôi đậu (ngày thuộc Quốc Gia kiểm soát, đêm Việt cộng lẻn về cai trị). Cũng với chính sách trả thù hèn mạc, chúng bắt chúng tôi đào ao, vét mương vuờn mướn cho dân trong vùng. Vì là vùng xôi đậu trước đây, nên các người chủ vườn không dám làm công việc đào vét hàng năm ,để tu bổ những mảnh vườn nầy, sợ nguy hiểm đến tính mạng nếu có chạm trán giữa quân đội quốc gia và lực lượng du kích việt cộng, nên đành phải bỏ hoang .

Bỏ hoang lâu ngày, lớp bùn phù sa rất dầy, phải được vét hết, và quăng (có động tác khác với ném) lên bờ vườn, nên công việc nầy rất nặng nhọc và nguy hiểm thường xuyên xảy ra. Nguy hiểm vì lẫn lộn trong lớp bùn, còn sót lại những quả lựu đạn, đạn M79, đạn súng cối (mortier) chưa nổ. Mỗi lần một qủa đạn nào bị phát hiện kip thời tránh được tai họa, Huynh đệ chúng tôi, đều chấp tay tạ ơn trời đất đã phù hộ chúng tôi. Có một lần, một quả đạn M79 lẫn lộn trong bùn nằm trong gào xúc đất của tôi, Khi gào đất được quăng lên mặt bờ vườn thì phát nổ. May mắn thay, vì chúng tôi ở dưới đáy mương thấp hơn nơi quả đạn nổ chừng 2 thước nên không ai bị thương.

Thời gian ở tại kinh Ngã Co nầy, mới thấy được lòng dân dù trước đây họ là dân ở trong "vùng giải phóng"(xin phép được dùng chữ của họ). Trong khi làm khổ sai từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều, mỗi ngày được nghĩ trưa khoảng 1 giờ để ăn cơm trưa. Những bữa cơm trưa nầy do chủ vườn cho chúng tôi ăn, đối với tù cải tạo thì những bữa cơm nầy là "đại yến". Những người dân ở đây họ rất thương cảm với những nỗi nhục nhằn mà chúng tôi đang gánh chịu. Có những bữa cơm với những món thịt gà, thịt vịt từ những đàn gà ,vịt khoảng vài ba con mà họ đang nuôi . Có nhiều người nhìn chúng tôi với hai hàng lệ lưng tròng, đã nói rằng : "Chúng nó (ám chỉ bọn Việt cộng) là những con thú vật, không phải là người."

Mỗi lần di chuyễn phải ra lộ xe để được chở đi. Tại nơi nầy, đã có những em bé khoảng chừng mười một, mưòi hai tuổi, hai tay xách 2 chùm bánh dừa (bánh gạo nếp nhân chuối hoăc đậu, được gói trong lá dừa), chạy đến gần chúng tôi, tay trao bánh cho chúng tôi, miệng thì nói : "Ba, Má con không dám, sai tụi con đến cho mấy chú để ăn ấm lòng". (Còn cái gì an ủi ấm lòng hơn hành động nầy không ? xin cho tôi biết).

Gần đến ngày bọn Việt cộng "đảng cử dân bầu" cái quốc hội bù nhìn để "thống nhất" đất nước (vào khoảng cuối năm 1975, không nhớ rõ lắm) bọn chúng giải tất cả Huynh Đệ chúng tôi từ nhiều nơi khác nhau, về khám lớn Trà Vinh. Thời gian ở tại khám Trà Vinh nghe tin là Mao Trạch Đông chết.

Sau khi bọn VC làm chuyện bầu bán xong, bọn chúng mới tuyễn lựa trong số huynh đệ chúng tôi, chia thành 2 nhóm: nhóm thứ nhứt là thành phần "cực kỳ ngoan cố, nhiều nợ máu với nhân dân" (gồm an ninh, tình báo, chiến tranh chính trị, tiểu khu trưởng, chi khu trưởng, phân chi khu trưởng, sĩ quan cảnh sát, các tiểu đoàn trưởng Bộ Binh, Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Phi công, các bác sĩ quân y, các linh mục và hòa thượng tuyên úy, các công chức cao cấp), tôi nằm trong thành phần nầy. Thành phần thứ hai, ít nợ máu hơn (sĩ quan các binh chủng yểm trợ kỹ thuật, đại đội trưởng, trung đội trưỏng). Về sự chọn lựa nầy, chúng tôi gọi đùa trong đau khổ là tuyển lựa ca sĩ.

Nhóm của tôi , trong một buổi hoàng hôn, được đưa lên xe cargo GMC mui bạt đậy kín, chạy trong đêm về phía Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng , dưới chân núi Cấm trong dãy núi Thất Sơn, thuộc tỉnh Châu Đốc. Đây là trại tù cải tạo, mà bọn Việt cộng gọi là "Liên trại 3 học tập cải tạo". Nơi đây đã có sẳn khoảng hơn một ngàn huynh đệ, và có cả Nữ Quân Nhân đã bị tuyển lựa đưa về đây từ khắp nơi trong Quân Khu IV thuộc Vùng IV Chiến Thuật.

Trại tù Chi Lăng được cai quản bởi một bộ phận của một trung đoàn Việt cộng, thủ trưởng (chỉ huy trưởng) của trại tù tên thiếu tá Trần Thâu, tự Hai Thâu mà lần "lên lớp" đầu tiên hắn tự giới thiệu, trước khi gia nhập du kích xã, hắn là tên chăn trâu cho một điền chủ trong tỉnh Châu Đốc, hắn rất hảnh diện vì hắn thuộc giai cấp "bần cố nông".

Trong lần lên lớp đầu tiên đó, hắn tự khoe rằng nhờ ơn bác và đảng, mà hắn từ tên chăn trâu, trở thành là thầy dạy chính trị và triết lý cộng sản cho những tên "sĩ quan ngụy", điều đó chứng tỏ là hắn là thành phần ưu tú của cách mạng, là một triết gia, hơn hẳn các huynh đệ chúng tôi. Cũng trong lần đó, có vài anh phản đối lại các luận điệu buộc tội của hắn, và chỉ cho hắn biết là hắn đã nói sai về việc hắn cho rằng chủ nghĩa cộng sản với triết lý của Phật Giáo là tương đồng.

Để giằn mặt, hắn ra lệnh cho mấy tên bộ đội bắt các huynh đệ đó, với tội danh ngoan cố phản cách mạng, còng tay lại, đem nhốt vào connex (thùng sắt dùng để di chuyển hàng hóa), và giữa đêm khuya hôm ấy, chúng tôi nghe những tiếng rên la thảm thiết từ nơi những connex đó. Sáng ra chúng tôi mới biết được là bọn chúng đã đánh đập các huynh đệ một các dã man, thương tích rất trầm trọng, phải khiêng đến bịnh xá để săn sóc (do chúng lập ra, điều hành bởi các Quân y sĩ tù cải tạo).

Cũng tại nơi đây đã có 4 người cuả Phục Quốc quân thuộc lực lượng Khăn Trắng của Phật Giáo Hòa Hảo trong vùng Long Xuyên Châu Đốc, bị nhốt trong những connex và đã bị chúng tra tấn, đánh đập cho đến chết. Có 2 tù cải tạo vượt Ngục, bị chúng bắt được, đem ra hàng rào vòng đai xử bắn, chúng nói rằng hai người nầy đã leo rào trốn trại , đạp phải mìn (mine) đã tử thương.

Trong những lần lên lớp, khi thì ban ngày, có lúc ban đêm , chúng bắt tù cải tạo phải làm bản tự khai để khai báo lý lịch 3 đời, những tội ác của mình đối với nhân dân và cách mạng, ai nói rằng mình không có tội gì cả, thì chúng cho là không thành thật cải tạo, bắt buộc phải nói là có tội và là tội gì. Cuối cùng thì cá nhân tôi khai là có tội vì đã làm nhà cho lính ngụy ở (khu gia binh, doanh trại), làm cầu, xa lộ lớn cho Mỹ Ngụy dùng chở vũ khí, đạn dược để bắn giết cách mạng, chừng đó chúng mới chịu tha cho việc kê khai tội ác.

Thời gian ở Chi Lăng, chúng thường xuyên hành hạ tinh thần tù cải tạo bằng những cách như điểm danh trong lúc nữa đêm; gọi lên văn phòng làm việc vào ban đêm riêng rẽ từng người một, để không ai biết người kia lên làm việc vì lý do gì, gây nghi kỵ lẫn nhau là có người làm điềm chỉ viên (antenne) giữa tù cải tạo với nhau, để không tụ họp bàn cách chống lại bọn chúng. Còn những tên bộ đội canh giữ chúng tôi khi đi lao dịch, mỗi lần bảo chúng tôi làm việc gì đó, chúng ra lệnh với miệng lưỡi của đám du côn, chửi mắn chúng tôi bằng những lời lẽ tục-tằng thô-bỉ, dù rằng trong số chúng tôi có nhiều người tuổi đáng cha, chú của chúng. Chúng tôi đã phải nhẫn nhục để sống, vì còn sống mới có cơ hội phục hận.

Với chánh sách kềm hãm ý chí của tù cải tạo, chúng dùng cách bỏ đói, cho ăn vừa đủ sống, lúc nào dạ dầy của huynh đệ chúng tôi cũng đòi hỏi, không còn tâm trí để nghĩ đến việc gì khác hơn là thực phẩm. Khẩu phần cả ngày của một tù cải tạo là một chén (bát) lúc thì cơm trộn cát sỏi, lúc thì bo bo với một chút muối hột, họa hoằn lắm thì được một miếng thịt mở nhỏ bằng ngón tay út. Vì thiếu chất đạm, nên nếu tay chân bị thương, vết thương khó lành được, dể đưa đến bệnh hoại thư. Khi bệnh hoạn, không có thuốc gì khác hơn là xuyên tâm liên cho bá bệnh (xuyên tâm liên là loại thuốc chế bằng lá cây của Việt công). Chúng cấm tuyệt đối, không cho đội nầy nói chuyện hay liên lạc với đội khác (1 đội có khoảng 40 người) .

Trong thời gian ở Chi Lăng, Huynh đệ chúng tôi không đủ quần áo để thay đổi. Lợi dụng khi đi làm công việc khổ sai, chúng tôi moi lên được những bao đựng cát (làm tuyến phòng thủ của Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng khi trước), dùng để may quần áo thêm để mặc. Sau nầy, trước khi chuyển trại đế Vườn Đào (thuộc quận Cai Lậy, Mỹ Tho), chúng phát cho mỗi người một bộ quần áo trận cũ của QLVNCH, bâu áo bị cắt đi, sau lưng sơn hai chữ CT, có nghiã là Cải Tạo. Đến khoảng cuối năm 1977, chúng di chuyển Huynh đệ chúng tôi đến Vườn Đào, bắt chúng tôi phải tự xây nhà tù cho mình. Tại đây, chính sách nhục hình của chúng vẫn tái diễn như khi ở Chi Lăng, và cũng tại đây, Trung Tá Nguyễn Đức Xích, Tham Mưu Trưởng tiểu khu An Xuyên ( không biết tôi nhớ tên tiểu khu đúng không) đã bị nhốt vào connex không cho nước uống đến kiệt sức, và đã xử bắn ông tại hàng rào vòng đai phía sau vào nửa khuya, bảo là ông vượt ngục, đạp phải lựu đạn gài nên tử thương, và Đại Úy Quách Dược Thanh, giảng viên Đại Học Chính Trị Đà Lạt, đã bị chúng bỏ thuốc độc giết chết. Hai vị cố sĩ quan đó đã bị chúng gán tội là âm mưu tổ chức đánh chiếm trại để giải thoát tù cải tạo.

Mùa nước nổi năm 1978, nước ngập đến ngang ngực, thường ngày nằm ngủ trên nền đất, nước dâng cao quá, phải dùng thân 3 cây chuối ghép lại để ngủ trên mặt nước, có đêm quần áo thấm nước, không thể chợp mắt được.

Khoảng tháng 6 năm 1979, bọn chúng cho biết (qua lời của tên Ba Minh, cấp bực đại úy, sĩ quan quản huấn): nhà nước chưa có chánh sách mới, có nghiã là chưa biết chừng nào được thả, tôi mới nghĩ đến phương cách để vượt ngục (trước tôi, đã có 5 Huynh Đệ vượt ngục, 3 người thành công, 2 người bị bắt lại và đã bị xử tử).

Tôi chắc rằng trong thâm tâm các Huynh Đệ, ai cũng nghĩ đến vượt ngục, nhưng tự hỏi khi thoát ra được rồi thì đi đâu? Và lại càng làm khổ cho gia đình, vì họ đã và đang sống hết sức khổ cực, bàn ghế, tủ giường, quần áo đã bán hết rồi để nuôi sống đàn con dạị, nay phải lo lắng cho chồng trốn tránh nữa thì làm sao kham nỗi ?

Tôi là người may mắn hơn, lợi dụng lúc đi làm "phu khuân vát", trong những lần chở đồ tiếp tế cho trại tù, tại Mỹ Tho và Cần Thơ (bột mì, bo bo, củi, muối, v.v…), tôi liên lạc được với một Huynh Đệ, đã được thả ra sau ba năm làm tù cải tạo. Thế là tôi có đường để thoát thân. Tháng 9 năm 1979, nhân lúc đến Cần Thơ, lợi dụng chỗ đông người, tôi đã vụt chạy vào đám đông và trốn đến được nhà người Huynh Đệ đó, lập tức anh di chuyễn tôi đến một nơi khác an toàn hơn. Tuy đã thoát, nhưng không dám liên lạc để gập gia đình, vợ con, chỉ viết thư nhờ người báo tin là đã bình an.

Tôi đã lẫn trốn gần một năm trời, di chuyễn rất nhiều nơi bằng giấy tờ giả đóng mộc khoai lang, có lúc lẫn về Sài Gòn, có khi thì trốn về miệt vườn, có lúc phải lênh đênh trên sông Tiền Giang giữa Mỹ Thuận và Cái Bè, trên chiếc xuồng ba lá, tối nghỉ qua đêm trên xuồng giữa các đám bần .

Mãi đến tháng 6 năm 1980, người Huynh Đệ đã giúp tôi vượt ngục, đưa tôi xuống một chiếc ghe "cà dom cui " dài khoảng 12 thước, loại ghe đi sông của vùng Châu Đốc, và tôi đã vượt biên trên chiếc ghe nầy vào lúc 18 giờ ngày 30 tháng 6 năm 1980, cùng với 78 người khác, trong số đó gồm có quân nhân, công chức, một dân biểu Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, và Quận Trưởng Quận Bình Minh Lê Quang Trường (dân biểu Nguyễn Hữu Quang, và cố trung tá Lê quang Trường đã định cư tại Vancouver, Canada) .

Trên đường đến Mã Lai, ghe của chúng tôi bị 8 chiếc tàu đánh cá của Thái Lan biến thành hải tặc đánh cướp, và vì sóng to, bọn tàu cướp nầy va chạm vào ghe nên ghe của chúng tôi bị bể ra và từ từ chìm xuống . May mắn thay, sau khi bọn hải tặc bỏ đi, có một chiếc tàu đánh cá khác của Mã Lai đã cứu vớt chúng tôi, và đã đưa chúng tôi đến trại tỵ nạn Pulau Bidong, Mã Lai vào đúng ngày 4 tháng 7 năm 1980. Và trùng hơp thay ! Ngày tôi đến được bến bờ tự do lại đúng vào ngày INDEPENDENT của Hoa Kỳ.

Vì sự bất mãn người đồng minh phản bội, tôi đã xù Mỹ dù đã được nhận, tôi xin được tỵ nạn tại Canada, và đã an toàn đến Canada, xứ lạnh nhưng tình nồng, vào ngày 23 tháng 9 năm 1980, sau đúng một năm kể từ ngày vượt ngục ngày 23 tháng 9 năm 1979 (lại một sự trùng hợp không ngờ). Sau đó tôi được đoàn tụ với gia đình vợ con qua bảo lảnh vào 19 tháng 12 năm 1983 ,và cũng là lần đầu tiên tôi gặp được đứa con út của tôi đã được 8 tuổi.

***

Trên đây là câu chuyện của tôi, một cựu tù cải tạo, những chi tiết vượt ngục đã được đơn giản vì an toàn của những người còn ở lại. Những bi thương và khổ ải mà tôi đã trải qua, không bút mực nào tả xiết, cũng giống như những người tù cải tạo khác. Dù bị đày ảỉ ở ngoài Bắc hay trong Nam, chúng tôi đều có chung số phận của những người đã từng tin vào sự láo khoét của bọn Việt cộng, và đã khờ dại nghĩ rằng: "chính phủ nào người ta sống được thì chắc mình cũng sống được".

Winnipeg, Tháng Tư Đen 2012
Lão Ngoan Đồng

AI ĐÃ LÀM CHO MẤT NƯỚC ?

AI ĐÃ LÀM CHO MẤT NƯỚC ?
Kính thưa Quý Vị,
     Ông Kissinger là một con cáo già trong ngành ngoại giao của nước Mỹ. Chúng tôi thiết nghĩ việc ông ta nhận trách nhiệm người Mỹ đã có lỗi trong việc bỏ rơi miền Nam… đó chẳng qua là một cử chỉ "ngoại giao" nhằm xoa dịu tình cảm của người dân Việt Nam… trước một chuyện đã rồi.
     Người Mỹ vốn thực dụng. Cái gì của quá khứ hãy xếp qua một bên. Bây giờ họ đang sắp lại bàn cờ mới trong đó VN vẫn là mắt xích chiến lược. Họ không tiếc một lời xin lỗi.
     Nếu muốn đánh giá cho thật chính xác rằng "Ai đã làm cho mất nước" thì phải thành khẩn nhận định rằng "chính chúng ta" chứ không ai cả, đã tự làm cho mất nước. Tuy nhiên, nếu bảo đó cũng là trách nhiệm của người Mỹ thì vẫn… không sai.   
     Rõ ràng cái SAI LẦM lớn nhứt của người Mỹ là năm 1954 đã hậu thuẫn mạnh mẽ đưa nhân vật Ngô Đình Diệm, một ông quan lại phong kiến của triều đình Huế; một kẻ mù quáng cuồng tín tôn giáo… lên lãnh đạo miền Nam, thay vì một nhà chính trị nào đó có tầm vóc thích hợp trong bối cảnh nước Việtnam vừa bị chia đôi.
     Cũng chính TT Diệm đã đẻ ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Và vì có MTGPMN cho nên chúng ta mới mất nước ! Nếu không có ông Diệm chúng ta đã xây dựng đất nước như Đài Loan và Nam Hàn, và VNCH có thể đã trở thành thành viên của LHQ như Nam Hàn, không đến nỗi bị rơi vào tay CS Bắc Việt năm 1975.
     Với chủ trương độc tài gia đình trị, độc tôn Thiên Chúa giáo và độc tôn đảng Cần lao, ông Diệm đã lén lút duy trì Dụ Số 10 thời Bảo Đại một cách bất hợp pháp, thẳng tay tiêu diệt tất cả các đảng phái đối lập như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Dân Xã Đảng… cũng như tiêu diệt các lực lượng võ trang Hoà Hảo và Cao Đài… là những thành phần nồng cốt chống Cộng của miền Nam. Ngoài ra còn đàn áp các nhà trí thức như KS Phan Khắc Sữu, BS Phan Quang Đán, GS Trần Văn Hương, LS Trần Văn Tuyên…
     Chính vì chánh sách đàn áp đó đã đẩy người dân miền Nam vào đường cùng phải bỏ chạy vào bưng biền kháng chiến, tạo cơ hội tốt cho CS Hànội có cớ xâm nhập vào nội tình miền Nam, yểm trợ cho các phần tử nổi dậy thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và rồi càng về sau (thời TT Thiệu)… lôi kéo cả khối CS Quốc tế can thiệp. Cuộc chiến ngày càng khốc liệt leo thang với hơn 58 ngàn binh sĩ Mỹ hy sinh… dẫn tới các cuộc oanh tạc miền Bắc của quân đội Mỹ… nhưng vẫn không chấm dứt chiến tranh.
     Trở lại tình hình năm 1963 thì quân MTGPMN đã đủ mạnh, có thể dàn trận đánh cấp Trung Đoàn và đã gây cho QLVNCH nhiều tổn thất ở nhiều mặt trận như Bình Giả, Ấp Bắc. Hoa Kỳ áp lực TT Diệm phải cải tổ chánh trị, sửa đổi Hiến Pháp để cho người dân có tự do. Nhưng ông Diệm và gia đình ông không nghe. Quân Nhảy Dù đã làm cuộc đảo chánh hụt ngày 11-11-1960, và Không Quân oanh tạc Dinh Độc Lập ngày 27-2-1962, chế độ vẫn không lay chuyển. Người Mỹ hy vọng ông Diệm sau 2 nhiệm kỳ sẽ rời chức vụ. Nhưng không ngờ ông Diệm lại cho Quốc hội sửa Hiến Pháp để ông tiếp tục làm tổng thống anh minh muôn năm !
     Bất đắc dĩ, người Mỹ phải âm thầm giúp Quân Đội VNCH làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ mất lòng dân của TT Diệm.
     Cuộc Cách Mạng 1-11-1963 đã thành công quá dễ dàng. Quân Đội do Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo, cam kết sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong vòng một năm, đưa đất nước trở lại tiến trình dân chủ hoá.
    Thế nhưng, một nhóm tướng tá gốc Cần Lao và đảng phái, có tham vọng chánh trị, họ không muốn trao trả quyền bính lại cho quốc dân VN. Bất ngờ họ làm cuộc "chỉnh lý" ngày 30-1-1964 triệt hạ hết các tướng lãnh có công làm cuộc đảo chánh. Do đó, tạo ra các biến loạn quân sự triền miên kéo dài mãi cho tới năm 1967, sau khi có bầu cử Quốc hội và Tổng thống mới tạm yên.
    Tổng thống Thiệu đã tỏ ra xuất sắc trong nhiệm kỳ đầu, được sự ủng hộ của toàn dân. Tinh thần Quân đội lên cao, chiến thắng khắp nơi, nhưng diệt hoài vẫn không hết CS ! Phần ông Thiệu càng ngày càng củng cố địa vị, manh nha độc tài, bổ nhiệm các vị chỉ huy quân đội kiểm soát toàn bộ guồng máy cái trị với một ông Thủ tướng Quân đội, kiêm luôn 2 Bộ Quốc Phòng và Nội Vụ; Quân đội nắm ngành Cảnh sát, An ninh; Quân đội cũng nắm luôn các Tỉnh trưởng, Quận trưởng và một số Xã.
     Đây có thể là vì 2 tướng Thiệu và Khiêm rút kinh nghiệm trước kia 2 ông đảo chánh ông Diệm, nay sợ có ông tướng nào đó lại nghe lời người Mỹ đảo chánh mình chăng ?
     Khi TT Thiệu đàn áp các nhà đối lập, đặc biệt vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông… và "độc diễn" tổng thống nhiệm kỳ 2, không có đảng phái đối lập tranh cử, đã tạo bất bình cho người Mỹ. Quốc hội Mỹ bắt đầu chỉ trích… không thể ủng hộ một chế độ độc tài. Cuộc chiến tranh VN càng leo thang kéo dài, tốn kém tiền bạc, nhưng quan trọng nhứt là có hơn 58 ngàn binh sĩ Mỹ đã hy sinh. Nhân dân Mỹ phải đứng dậy ! Các cuộc biểu tình ồ ạt và liên tục… Các cuộc bạo động xảy ra khắp nơi… TT Nixon bị hạ bệ ! Nước Mỹ thật sự bị chia rẽ trầm trọng vì chiến tranh VN !
     Với chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, người Mỹ có thể yểm trợ cho QLVNCH làm cuộc đảo chánh. Nhưng dưới chế độ độc tài quân nhân trị của TT Nguyễn Văn Thiệu, quân đội kiểm soát toàn bộ guồng máy quốc gia… nên người Mỹ đành chào thua.
     Không thể áp lực TT Thiệu cải tổ dân chủ, mà cũng không thể dựa vào lực lượng đối lập để lật đổ ông ta, người Mỹ chỉ còn trông đợi hết 2 nhiệm kỳ tổng thống ông Thiệu sẽ xuống. Nhưng ông Thiệu lại noi gương ông Diệm cho sửa Hiến pháp để tiếp tục cầm quyền muôn năm… trong khi nhân dân Mỹ đòi phải chấm dứt sự ủng hộ VNCH, người Mỹ đành tính kế bỏ của chạy lấy người. Họ cho Kissinger đi đêm với Bắc Kinh, thoả hiệp trên đầu VNCH cả CS Hànộiđể họ kết thúc Hội nghị Paris năm 1973, rút quân trong DANH DỰ !
    Có nhiều người nói chế độ tại Đài Loan và Nam Hàn cũng độc tài nhưng Mỹ không bỏ, tại sao lại bỏ VN ? Câu trả lời thật không khó.
    Tại Đài Loan và Nam Hàn quả thật có độc tài trong giai đoạn đầu, cũng giống như TT Diệm lúc đầu: Chánh quyền cần cứng rắn tập trung quyền lực để ổn định đất nước. Nhưng khi tình hình đã ổn định thì phải tuần tự trả lại tự do cho toàn dân…
    Tại Đài Loan và Nam Hàn đã áp dụng đúng như thế. Bằng chứng :
    1.- Không có bất cứ ông tổng thống nào đòi sửa Hiến pháp để ứng cử thêm nhiệm kỳ 3 như 2 ông Diệm và Thiệu của VNCH.
    2.- Và vì tại Đài Loan và Nam Hàn áp dụng thể chế tự do dân chủ, người dân đã không bị đàn áp, không bị kỳ thị tôn giáo, có bầu cử tự do… Cho nên người dân không bị dồn vào đường cùng phải bỏ chạy vào bưng biền thành lập Mặt Trận Giải Phóng y như ở miền Nam VNCH  !
    Đó là SỰ THẬT không thể biện minh : CHÍNH CHÚNG TA ĐÃ TỰ LÀM CHO MẤT NƯỚC !
               Kính !
   GÓP GIÓ 4-4-2012